Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê cho vào trấn thủ Thuận Hóa. Năm 1568 trấn thủ Quảng Nam Bùi Tá Hán mất. Năm 1570 Nguyễn Hoàng được kiêm quản luôn Quảng Nam.
Năm 1602 chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn làm phủ Quy Nhơn ( 歸仁 ). Quy Nhơn bấy giờ là vùng biên trấn, phía Nam dãy Cù Mông còn là vùng người Man, người Lạo ở, chính quyền chưa có thời giờ kinh lý đến. năm 1578, người Chiêm đã vượt Đại Lãnh ra chiếm lấy thành Hồ, tri huyện Tuy Viễn Lương Văn Chánh phải đưa binh vào bạt phá thành.
Năm 1597 Lương Văn Chánh đem dân vượt Cù Mông vào khẩn hoang, chia lập thôn ấp. Năm 1611 Chủ sự Văn Phong (sử cũ không chép rõ họ của ông) được làm Lưu thủ, theo lệnh chúa vào trấn giữ Phú Yên. Phủ Phú Yên bấy giờ gồm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.
Năm 1648, quân Đàng Ngoài xâm phạm Nhật Lệ, Thế tử Nguyễn Phúc Tần vâng mệnh đem quân ra Quảng Bình, đánh bắt được 3 vạn tàn quân Trịnh. Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan xét thấy Đàng Trong là đất cũ của người Chiêm, dân cư thưa thớt, nên đưa số quân nầy cho rải khắp Xứ Quảng Nam, cứ 50 người làm một Ấp, cấp lương cho ăn nửa năm để khẩn ruộng. Nhờ đó từ “Thăng Bình, Điện Bàn đến Phú Yên, làng mạc liền nhau”. Ở đây thấy được làng mạc bấy giờ chỉ chừng 50 người, phải liền ranh nhau để chung tay đối phó thú dữ, nạn trộm cướp, bệnh tật…
Năm 1651, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần cải Quy Nhơn làm phủ Quy Ninh ( 歸寜 ). Trong cuộc chiến Trịnh Nguyễn năm 1655, quân của chúa Hiền lấn ra ngoài sông Gianh chiếm được 7 huyện phía Nam sông Lam, là Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, với Nam Đàn. Năm 1660 quân Nguyễn rút về Nam mang theo dân binh 7 huyện của Nghệ An, cho đi khẩn hoang mở đất. Số người khẩn hoang lập thôn Tây Sơn ở huyện Phù Ly, trong đó có Ông Cố (Tằng tổ) của Tam kiệt Tây Sơn.
Bấy giờ người Việt ở phủ Hoài Nhơn đã bước ra khỏi những làng cũ của người Chiêm, bắt đầu khẩn hoang lập ấp cho riêng mình.
Đời Lê Dụ Tông năm 1720, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nội tán Nguyễn Khoa Đăng đi Quảng Ngãi đến Phú Yên để chia lập ấp, thuộc. Năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chú lại sai Nguyễn Đăng Đệ là thân phụ của Nguyễn Cư Trinh đi lập bộ máy cai quản các thuộc của xứ Quảng Nam. Có nghĩa làng xã đã có chính quyền cơ sở bên cạnh cư dân.
Bình Định bấy giờ có 13 thuộc, là những thôn, phường, nậu, man lẻ tẻ họp lại. Phàm thuộc có 500 người trở lên thì đặt 1 Cai thuộc với 1 Ký thuộc, 450 người trở xuống thì đặt 1 Ký thuộc, 100 người trở xuống thì đặt 1 Tướng thần.
Khi Gia Long lập Địa bạ 1815, Bình Định có 7 tổng và 6 thuộc. 7 thuộc thời chúa Phúc Chú đã đủ điều kiện cải chuyển thành tổng, là 3 tổng Thượng, Trung, Hạ của huyện Bồng Sơn, 3 tổng Thượng, Trung, Hạ của Phù Ly, và 1 tổng Vân Dương của Tuy Viễn. 6 thuộc còn lại đều là sở hạt của huyện Tuy Viễn, gồm Thời Hòa (trước đó là của huyện Phù Ly), Thời Đôn, Thời Tú, Sơn Điền, Hà Bạc, và Võng Nhi.
Thuở mở đất, đơn vị hành chánh cấp địa phương của Xứ Quảng Nam ở dưới Dinh Trấn có các phủ, Phủ gồm nhiều huyện, như phủ Hoài Nhơn của Bình Định xưa có 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Dưới huyện là tổng và thuộc. Dưới tổng thuộc là xã. Xã gồm nhiều thôn, phường. Dưới thôn phường là trang, ấp, sách, trại, nguồn, nậu, man…
Thời chúa Nguyễn, ấp được phân làm "chánh hộ ấp" và "khách hộ ấp" để phân biệt ấp đã ổn định hay mới khai phá, theo đó mà định mức phú thuế cho cư dân. Đại lược là thuế ở chánh hộ ấp thì nặng, thuế ở khách hộ ấp thì nhẹ hơn. Sự phân biệt chánh hộ ấp và khách hộ ấp cũng duy trì, thể hiện rõ trong địa bạ Gia Long năm 1815. Có sự chênh lệch trong đóng góp, nên do đây mà làng xã ngày xưa có tệ hay so bì, phân biệt đối xử với hạng khách hộ, hạng dân ngụ cư ngoại tịch (ngoài sổ bộ của làng).
--------------------
Dấu vết lập làng ở Bình Định

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét