Trong sách Chuyện xưa đất Quảng, tác giả Phạm Hữu Đăng Đạt tra khảo và dẫn chứng từ nhiều nguồn tư liệu để đi đến khẳng định “Quảng Nam chỉ có địa danh Bồng Miêu, mỏ vàng Bồng Miêu chứ không hề có địa danh Bông Miêu, mỏ vàng Bông Miêu”.
Để chứng minh cho nhận định của mình, tác giả đã dẫn ra tài liệu “Từ điển di tích văn hóa Việt Nam” do Ngô Đức Thọ chủ biên, NXB Văn hóa ấn hành năm 2003. Ở trang 111 của tài liệu này, tác giả Phạm Hữu Đăng Đạt viết, “có dẫn ra một ngôi miếu được được nêu trong “Đồng Khánh dư địa chí lược”. Đó là “Bồng Miêu miếu”. Đặc biệt, các tác giả của tập sách này có viết lại Bồng Miêu miếu bằng chữ Hán. Đó là các chữ 芃苗”. Sau đó, tác giả lí giải : “Chữ Bồng có bộ thảo ở trên bộ kỷ. Bên trong bộ kỷ có một nét ngang. Chữ Miêu 苗 có bộ thảo phía trên, dưới là bộ điền. Hai chữ 芃苗 chỉ có dịch sang tiếng Việt là Bồng Miêu, hoàn toàn không thể dịch là Bông Miêu”.
Tuy nhiên, vấn đề còn phức tạp hơn nhiều. Trước hết, chữ 芃 có hai khả năng xảy ra, hoặc là chữ Hán, hoặc là chữ Nôm. Trong trường hợp là chữ Hán, chữ này âm đọc là bồng, có hai nét nghĩa là “tốt um, tốt tươi” và “đuôi dài thườn thượt” (Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, tái bản lần thứ 5, NXB. Thanh niên, 2011, tr. 668). Kết hợp với chữ Miêu 苗 (có các nét nghĩa là : 1. “lúa non, lúa mới cấy”, 2. “mầm”, 3. “mầm mống”, 4. “giống Miêu, một giống man rợ” và 5. “lễ săn mùa hè” – Hán Việt tự điển, tr. 673), thì khả năng tạo thành từ ghép chính phụ có nghĩa “lúa non tươi tốt” (Bồng phụ - Miêu chính) là cao nhất.
Trường hợp này không khả dĩ vì Bông/Bồng Miêu là một vùng núi cao, lúa nước không đặc trưng cho nơi này, nhất là ngày xưa khi núi rừng còn rậm rịt, người dân sống nhờ vào nương rẫy là chủ yếu. Trường hợp từ Bồng Miêu được tạo thành một cách ngẫu nhiên từ hai yếu tố Bồng và Miêu có thể xảy ra nhưng khả năng không cao. Vì ngày trước, tên đất tên người được đặt thường mang nhiều ý nghĩa sâu xa hàm ẩn, ít khi được đặt một cách ngẫu nhiên vậy. Hơn nữa, theo nhiều nhà nghiên cứu, tên gọi Bông/Bồng Miêu bắt nguồn từ tiếng Chăm. Khi viết vào giấy tờ, người Việt chỉ phiên lại gần đúng âm đọc nên khả năng đây là từ Hán không cao.
Trường hợp thứ hai, 芃 chữ là chữ Nôm. Như đã biết, một trong những nguyên nhân quan trọng của sự ra đời chữ Nôm là việc ghi lại những tên đất, tên người ở nước ta ngày trước. Do nhiều nhân danh, địa danh, một số âm đọc tiếng Việt không có trong tiếng Hán, người Việt xưa buộc phải sáng tạo ra một thứ chữ viết mới dựa trên chữ Hán là chữ Nôm để ghi lại chúng. Trường hợp chữ 芃 là chữ Nôm có khả năng xảy ra cao hơn, vì như đã trình bày, Bông/Bồng Miêu rất có thể có là từ của người Chăm Pa. Nếu 芃 là chữ Nôm thì theo Đại từ điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính, chữ này vẫn có hai âm đọc là Bông và Bồng. Nhưng chúng tôi cho rằng, chữ 芃 đọc âm Bông có khả năng cao hơn.
Vì hai lí do sau. Một là, chữ 芃 có âm đọc là Bồng nhưng rất hiếm thấy trong các thư tịch cổ. Hầu hết chữ Bồng đều được viết từ chữ Bồng có sẵn trong tiếng Hán là 蓬 (chỉ cho một loại cỏ, cỏ bồng). Khi bắt gặp chữ 芃 trong các văn bản Nôm, người ta ưu tiên đọc âm Bông trước hết. Hai là, chữ 芃 có cấu tạo hai phần, trên là bộ thảo 艹, dưới là chữ phong 风 viết gọn (nhiều trường hợp, để cho gọn, chữ Phong còn có tự dạng là chữ kỷ 几 và một nét ngang bên trong. Nhất là trong các bản Nôm, việc khắc nhầm chữ, khắc gọn chữ, chữ khắc bị mờ, thiếu, mất nét… là thường xuyên). Đọc 芃 thành Bông chính xác hơn thành Bồng vì phát âm dễ hơn (phong ra bông (ph-b và ong-ông) dễ hơn phong ra bồng vì khác thanh điệu) và ý nghĩa rõ hơn (bộ thảo chỉ hoa cỏ quy định nghĩa của chữ này).
Nguyên nhân thứ hai là thực tiễn đời sống ngôn ngữ địa phương. Là người sinh ra và lớn lên tại xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, chúng tôi nhận thấy thực tế đa số người dân tại xã và các vùng lân cận đều gọi địa danh này là Bông Miêu, ít thấy gọi là Bồng Miêu, mặc dầu trên văn bản hành chính, người ta hay viết Bồng Miêu (Thôn Bồng Miêu còn gọi là thôn 10, sông Bồng Miêu, Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu…). Có hiện tượng này có lẽ do quy luật ngữ âm tiếng Việt và thói quen ngôn ngữ của cộng đồng. Phát âm hai tiếng Bông Miêu (toàn thanh ngang) sẽ dễ dàng hơn Bồng Miêu (một thanh huyền, một thanh ngang, phải thay đổi thanh điệu).
Về nguồn gốc, âm đọc và ý nghĩa của địa danh Bông/Bồng Miêu đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi và chưa thật thống nhất. Đa số ý kiến đều thiên về nhận định địa danh này tên là Bồng Miêu, có nguồn gốc từ tiếng Chăm với ý nghĩa là “Cánh đồng vàng”. Tuy vậy, về tên gọi Bông Miêu hay Bồng Miêu, vẫn chưa thật đủ tư liệu để khẳng định. Trong bài viết này, vì những lí do như đã trình bày, chúng tôi thiên về âm đọc Bông Miêu hơn.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét