Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 1992) giảng “lâm chung” là “sắp tắt thở, sắp chết. Lời dặn dò trước lúc lâm chung” (tr.547). Nhưng từ đâu mà “lâm chung” lại mang nét nghĩa này?
“Lâm chung” là một từ Hán Việt, được ghi bằng hai chữ 臨終.
Trong đó, “lâm” có nghĩa “đi đến, tới nơi, cận kề” như trong giáng lâm, lâm bồn, lâm nạn, lâm nguy, lâm thời, lâm trận, ngũ phúc/ song hỉ lâm môn… Còn “chung” có nghĩa là “hết, cuối, kết thúc”, như trong chung kết, chung quy, chung thân, chung thủy, chung cuộc, cáo chung, thủy chung như nhất…
Như vậy, “lâm chung” có thể hiểu là “đến lúc kết thúc, đến lúc cuối cùng”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét