Trong lễ cưới hỏi của người Việt ở miền Trung trước đây, ta thường nghe đến từ “xiểng” trong các cụm từ “đôi xiểng”, “gánh xiểng”, “bỏ xiểng”, “lại xiểng”. Vậy “xiểng” ở đây là gì?
Đôi xiểng còn gọi là cặp nừng, là đôi gánh được đan bằng tre và trang trí hoa văn đẹp mắt để đựng lễ vật trong ngày cưới hỏi. Ngày nay, xiểng được thay thế bằng tráp hay mâm quả, làm bằng nhôm gọn nhẹ hơn.
Nhưng “xiểng” có nghĩa là gì? Chúng tôi tra các từ điển tiếng Việt có trong tay đều không thấy ghi nhận mục từ này. Có lẽ vì “xiểng” là một từ địa phương chỉ phổ biến ở một số nơi của miền Trung.
Tìm về từ nguyên, chúng tôi đoán “xiểng” bắt nguồn từ chữ “sính” 聘 trong tiếng Hán. “Sính” có nghĩa là “đính hôn”, “lễ cưới”. Tiếng Việt hiện đại còn từ “sính lễ” rất thông dụng. Vậy thì về nghĩa, “xiểng” và “sính” là một.
Về ngữ âm, “xiểng” là biến âm của “sính”. Việc chuyển đổi giữa hai phụ âm gần gũi s- và x- là hoàn toàn tự nhiên (hiện nay vẫn còn không ít nơi lẫn lộn s/x dẫn đến viết sai chính tả nhiều từ). Còn giữa hai vần –inh và –iêng thì sự chuyển hóa cũng hết sức dễ dàng, tương tự như kính ~ kiếng, chinh ~ chiêng, trình [thưa] ~ chiềng [làng chiềng chạ], chinh [nguyệt] ~ [tháng] giêng…
Như vậy, dưới góc nhìn ngữ âm lịch sử , “xiểng” là từ bắt nguồn từ “sính” (cũng như “chè” bắt nguồn từ “trà”, “xe” bắt nguồn từ “xa” và nhiều từ Việt gốc Hán khác).
Còn về đôi xiểng, đây là đồ vật để gánh “xiểng”, tức gánh lễ vật cưới hỏi. Về sau, bằng phương thức hoán dụ, mượn cái được gánh (xiểng/ sính lễ) gọi cho vật dùng để gánh, đồ vật được gọi luôn thành “đôi xiểng”, “cặp xiểng”; hoạt động chế tác ra đồ vật này gọi là “đan xiểng”…



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét