Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2024

Nguồn cảm hứng của ngôn ngữ học sinh thái (GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp)


Theo Stibbe, triết học của trào lưu sinh thái có thể gói gọn trong một từ “Sống”! (Ecosophy in one word: Living!) (Stibbe 2015: 14). Mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và sinh thái được cho là do nhà ngôn ngữ học người Mỹ gốc Na Uy, Einar Haugen khởi xướng.

Dùng ẩn dụ sinh thái cho ngôn ngữ, ông đã định nghĩa sinh thái học về ngôn ngữ là “nghiên cứu về các tương tác giữa bất kỳ ngôn ngữ nào đó với môi trường của nó” (Haugen 1972: 325). Đối với Haugen, môi trường của ngôn ngữ bao gồm môi trường xã hội và môi trường tâm lý của ngôn ngữ, nhưng không phải là môi trường vật lý. Tuy nhiên, ông đã so sánh sinh thái học ngôn ngữ với sinh thái học của động vật và thực vật trong môi trường của chúng.

Một nguồn mạch khác của ngôn ngữ học sinh thái là bài phát biểu của M.A.K Halliday trong phiên toàn thể của Đại hội lần thứ 9 của Hiệp hội Ngôn ngữ học Ứng dụng Quốc tế (AILA) ở Thessaloniki, Hy Lạp vào năm 1990. Halliday nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ trong việc xử lý các vấn đề môi trường (làm trầm trọng thêm hoặc giúp giải quyết chúng) bằng cách chỉ ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ và các hệ tư tưởng như chủ nghĩa tăng trưởng, chủ nghĩa vị loài (speciesism) và chủ nghĩa phân tầng giai cấp (classism). 

Trong bài phát biểu này, Halliday cho rằng việc xử lý các vấn đề môi trường cần phải là một trong những trọng tâm của ngôn ngữ học ứng dụng, do đó đã khởi xướng đường hướng Phân tích Diễn ngôn Sinh thái (Ecological Discourse Analysis - EDA), hiểu theo nghĩa rộng nhất, và chủ trương áp dụng những hiểu biết về sinh học- sinh thái trong nghiên cứu ngôn ngữ (Alwin Fill và Peter Mühlhäusler 2022).

Cũng như các trào lưu học thuật mang tính sinh thái, ngôn ngữ học sinh thái hình thành trong cảm hứng chống lại cả một truyền thống văn hóa phương Tây với quan niệm luôn coi con người là trung tâm (Anthropocentrism), thể hiện trong kinh sách tôn giáo và những châm ngôn truyền đời: “theo cách đó, nhà triết học Hy Lạp Protagora (thế kỷ 5 trước công nguyên) đưa ra một tuyên bố nổi tiếng “Con người là thước đo của mọi thứ”, điều này đặt chúng ta một cách tự tin vào trung tâm của mọi sự, trong Sáng thế, loài người được ban cho quyền “thống trị” cá dưới biển và chim trên trời và mọi sinh vật di chuyển nơi mặt đất”; tương tự, bức vẽ nổi tiếng Người Virtruvius của Leonardo da Vinci (hình ảnh quen thuộc cho thấy một người đàn ông khỏa thân được đặt trong một vòng tròn và một hình vuông với những cánh tay căng rộng theo chiều ngang và chéo phía trên đầu) cho thấy những tỉ lệ của thân thể con người như là nền tảng của những dạng hình học căn bản nhất…” (Barry 2009, dẫn theo Hoàng Tố Mai 2017: 35).

“Huyền thoại” về sự khác biệt, có tính độc tôn của con người đã từng là trung tâm của các môn học về con người trong quá khứ. Đã có một truyền thống nghiên cứu và tôn vinh tính lý trí, ngôn ngữ, ý thức lịch sử, tôn giáo, văn hóa và văn học như những khía cạnh phân biệt chúng ta với động vật và ngụ ý rằng đó là điều làm cho chúng ta tốt hơn so với động vật. Orr (1992: 145) còn đi xa đến nỗi tuyên bố rằng ‘Trong năm trăm năm qua, các ngành khoa học, khoa xã hội và nhân văn của chúng ta đều cam kết vào việc khuếch đại và tôn vinh sự thống trị của con người đối với tự nhiên”.

Quan niệm rằng bản tính con người nằm ở sự khác biệt của chúng ta so với các loài động vật khác chỉ là một quan niệm trong số các quan niệm có thể. Nguy cơ khi tập trung vào sự khác biệt là nó có thể làm mờ một số khía cạnh quan trọng mà con người và các loài động vật khác cùng chia sẻ: đó là có cảm xúc, có trải nghiệm thân thể (embodiment), có mối liên kết xã hội với các cá thể khác, và quan trọng nhất, là có sự phụ thuộc vào môi trường cùng các loài khác để tiếp tục tồn tại. 

Vì thế, Plumwood (2007) đã phê phán mạnh mẽ quan niệm đề cao sự khác biệt của con người: "Không thể phủ nhận, đặc điểm phân biệt của văn hóa phương Tây, và có lẽ cũng là biểu hiện chính của sự thất bại về sinh thái của nó, là quan niệm cho rằng loài người khác biệt và cách li hoàn toàn so với phần còn lại của tự nhiên và so với các loài động vật khác. Quạn niệm này, đôi khi được gọi là Chủ nghĩa ngoại lệ con người (Human Exceptionalism), đã cho phép chúng ta khai thác tự nhiên và con người một cách tàn nhẫn hơn (một số người sẽ nói là hiệu quả hơn) so với các nền văn hóa khác, và các dạng thức đời sống mang tính phá hủy, có quyền lực cao của chúng ta đã chiếm ưu thế trên hành tinh." (dẫn theo Stibbe 2015: 4-5).

Nguồn: Facebook tác giả

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...