Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2024

Vai trò của hệ sinh thái trong sự phát triển bền vững của nhân loại và vai trò của các ngành khoa học xã hội và nhân văn (GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp)

Hiện nay, “phát triển bền vững” (sustainable development) nổi lên như một trong những điều kiện quan trọng nhất, quyết định đến sự tồn vong của nhân loại. Khái niệm này được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1980, trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN-International Union for Conservation of Nature and Natural Resources).

Văn bản này khẳng định sự phát triển bền vững chỉ có thể đạt được bằng cách bảo vệ các nguồn tài nguyên sinh vật. Tiếp theo đó, vào năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED-World Commission on Environment and Development) đã định nghĩa "phát triển bền vững" là “phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.

“Không làm tổn thương khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” có nghĩa là phải bảo vệ được hệ sinh thái của trái đất, bởi lẽ hệ sinh thái đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của con người. Việc bảo vệ và duy trì các hệ sinh thái đòi hỏi cần có những hành động thiết thực, từ chính phủ, cộng đồng đến từng cá nhân, ở mọi hoạt động của đời sống, trong một trào lưu chung được gọi là trào lưu sinh thái (ecolism).

Nếu trước đây các vấn đề về sinh thái, môi trường chỉ được xem là vấn đề kỹ thuật để xử lí các sự cố về môi trường, thuộc phạm vi của các ngành khoa học tự nhiên thì ngày nay, đã có một sự dịch chuyển trong nhận thức: các vấn đề sinh thái, môi trường không chỉ là vấn đề kỹ thuật, xử lí sự cố, mà nhân loại cần có một chiến lược lâu dài và sâu rộng hơn, cần xây dựng nhận thức về bảo vệ sinh thái, môi trường, xem đó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn vong, phát triển bền vững của nhân loại. 

Về sự thay đổi trong nhận thức này Stibble nhận xét: “Khi bằng chứng về quy mô của các vấn đề sinh thái mà chúng ta đang đối mặt trong thế kỷ XXI xuất hiện, và quy mô của phản ứng cần thiết trở nên rõ ràng hơn, thì ngày càng có nhiều lời kêu gọi vượt ra khỏi những nỗ lực giải quyết các triệu chứng riêng lẻ bằng các giải pháp kỹ thuật và thay vào đó cần xem xét các nguyên nhân xã hội và văn hóa sâu xa của các vấn đề mà chúng ta đang đối mặt.” (Stibbe 2015: 3)

Đó là lí do mà trào lưu sinh thái đã xuất hiện ở nhiều lĩnh vực hoạt động nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn. Stibbe (2015) đã liệt kê một danh sách gồm: phê bình văn học sinh thái (ecocriticism), thi pháp học sinh thái (ecopoetics), nữ quyền luận sinh thái (ecofeminism), tâm lý học sinh thái (ecopsychology), xã hội học sinh thái (ecosociology), sinh thái học chính trị (political ecology), giao tiếp môi trường (environmental communication), ngôn ngữ học sinh thái (ecolinguistics) (Stibbe 2015: 7). Danh sách này còn dài hơn, khi tham khảo văn liệu các nghiên cứu theo hướng sinh thái, có thêm: luân lý học sinh thái (Ecological ethics), chính trị học sinh thái (Ecological politics), kinh tế học sinh thái (Ecological economics), mỹ học sinh thái (Ecoaesthetics), văn học sinh thái (Ecoliterature), triết học sinh thái (Ecophilosophy), tâm lý học sinh thái (Ecological psychology), thần học sinh thái (Ecotheology), xã hội học sinh thái (Ecosociology), nhân loại học sinh thái (Ecological anthropology), nghệ thuật sinh thái (Ecological art), phê bình sinh thái (Ecocriticism), chủ nghĩa nhân văn sinh thái (Ecological humanism), chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism) (Nguyễn Thị Tịnh Thy 2017: 22).

Ở Việt Nam, phê bình văn học sinh thái đã được giới thiệu khá ấn tượng, từ đầu những năm 2010, qua một số hội thảo khoa học, với những nghiên cứu áp dụng đường hướng phê bình văn học sinh thái để nghiên cứu một số tác phẩm văn học Việt Nam, văn học Mỹ, văn học Trung Quốc…Cột mốc lí luận có thể kể đến việc dịch và công bố tập tiểu luận “Phê bình văn học sinh thái là gì?” (Nxb Hội nhà văn, 2017), gồm những nghiên cứu thuộc loại “kinh điển” của phê bình văn học sinh thái của trào lưu này trên thế giới, cùng với những tập tiểu luận theo đường hướng phê bình sinh thái, như tập tiểu luận “Rừng khô, suối cạn, biển độc... và văn chương-Phê bình sinh thái” của Nguyễn Thị Tịnh Thy được nêu trên đây (Nxb KHXH, 2017).

Tuy nhiên, ngôn ngữ học sinh thái lại chưa hề được giới thiệu ở Việt Nam, cho dù ngôn ngữ học hiện đại, khởi từ F. de Saussure, luôn được coi là ngành khoa học tiên phong, đặc biệt với ngôn ngữ học cấu trúc, trào lưu đã truyền cảm hứng cho nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn khác. Theo C.L Strauss, hơn bất kỳ ngành khoa học nào khác, ngôn ngữ học có thể dạy cho nhà nghiên cứu cách chuyển từ việc xem xét các yếu tố tự thân không có ý nghĩa sang việc xem xét một hệ thống ngữ nghĩa và cho thấy cách hệ thống ngữ nghĩa đó có thể được xây dựng dựa trên các yếu tố tự thân không có nghĩa (C.L Strauss 1958, bản tiếng Anh 1963: 368). Gõ cụm từ “Ngôn ngữ học sinh thái” trên google, kết quả chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay (truy cập vào lúc 15h ngày 22/5/2024).

Nguồn: Facebook tác giả



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...