Thứ Tư, 24 tháng 4, 2024

Thành phố Quy Nhơn xưa & nay dưới góc nhìn lịch sử - văn hóa (Tác giả Hoàng Bình)

Qui Nhơn nằm trong thế đất “ Thuỷ khẩu giao nha - Răng nanh giao mũi ”(1) trông như cổ con rùa nằm sát đất còn gọi là Mũi Cổ Rùa có điểm chóp(Mũi Tấn) cùng với Gành Hổ(Hổ Ky) như hai chiếc răng nanh làm hai cánh cửa cho đầm Thi Nại, nước trong đầm chảy qua cửa này ra biển. 

Theo cách nhìn về phong thủy là “nước tích trữ dồn tài lộc cho các miền chung quanh”(1) mang lại cho vùng đất khí hậu ôn hòa:

“ Gió cầu Tấn trưa chiều thổi mát/ Đường Qui Nhơn cát mịn dễ đi…” 

Dải đất hình cổ rùa xưa kia, ở thời Lê Trung Hưng có tên thôn Vĩnh Khánh được biết sớm nhất năm (1709) dưới triều vua Lê Dụ Tông và muộn nhất năm (1837) dưới triều vua Minh Mạng. Dải đất ấy có cơ hội phát triển phồn thịnh, khi thương cảng Thi Nại chính thức thay thế cho cảng thị Nước Mặn (TK17) bị bồi lấp và Gò Bồi(TK18) khi không đáp ứng được sự giao thương ngày càng tăng, tất yếu một đô thị mang tên Qui Nhơn bên cửa biển Thi Nại đã phôi thai hình thành, đáp ứng được đầy đủ mọi yêu cầu cho sự phát triển này.

Thôn Vĩnh Khánh buổi đầu là tên thôn chung cho cả hai làng Chánh Thành và Cẩm Thượng với vùng đất được tính từ Mũi Tấn đến quán Chẹt (gần ngã ba Đống Đa), kéo dài theo dọc đường Bạch Đằng và đường Trần Hưng Đạo; nếu lấy đường Trần Cao Vân bây giờ chia đôi thì phía bên chùa Long Khánh thuộc làng Cẩm Thượng (hiện trong chùa còn ngôi mộ trên bia ghi an táng tại Cẩm

Thượng năm 1939), còn nửa kia phần đất phía Đông kéo dài đến Mũi Tấn thuộc làng Chánh Thành.

Làng Cẩm Thượng (錦上) được biết đến với nghề buôn bán của người Hoa gắn liền với sự phát triển thương cảng Thi Nại, tập trung chủ yếu theo dọc đường Bạch Đằng vì xưa kia mặt phố này đối diện với đầm Thi Nại một thời sầm uất trên bến dưới thuyền, đến nay những Hội quán người Hoa vẫn còn như: Triều Châu Hội quán(17/2 Ngô Thời Nhiệm), Quỳnh phủ Hội quán, Chùa ông Nhiêu(Miếu Quan Thánh đế quân 1837)…, đặc biệt là ngôi Đình Cẩm Thượng vẫn còn tồn tại mang câú trúc đặc trưng của một ngôi đình làng Việt.

Làng Chánh Thành(政成),“được xây dựng trên đất Thi Nại xưa của Chiêm Thành gồm hai phần chính: đầm nước mặn và động Kỳ Mang, bao gồm đồn Thạch Kiên (nội thành Qui Nhơn hiện nay)”(2). Dưới thời Đồng Khánh thôn Chánh Thành thuộc Tuy Phước huyện, Dương An tổng do phủ An Nhơn thống hạt, cuộc sống người dân gần gũi với nghề làm mắm, đánh bắt hải sản, đóng thuyền, đan lưới…có hai xóm: xóm Tấn và xóm Trường.

Giai đoạn từ năm 1792 – 1801, phần đất làng Chánh Thành (Chợ Giã) thường xuyên diễn ra các cuộc giao tranh giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, Lợi dụng gió mùa Nguyễn Ánh tiến quân ra đánh Qui Nhơn.

“Lạy trời cho chóng gió Nồm/ Cho thuyền chúa Nguyễn thuận buồm trẩy ra”

Loại gió mát và ẩm ướt thổi từ Đông Nam tới khoảng tháng 4 tháng 5, đến lúc gió trở Bấc thì về Gia Định. Cửa Giã (cửa Thi Nại) chứng kiến nhiều trận chiến thư hùng ở các năm: 1792, 1793, 1799, 1800, 1801. Và một số địa danh, di tích liên quan đến vùng đất của làng Chánh Thành, như:

1. Cửa Giã, Chợ Giã, Xóm Giã:

a. Cửa Giã:

Vùng đất Qui Nhơn xưa đã hội tụ được các yếu tố cần thiết từ địa thế cửa biển Thi Nại, nguồn tài nguyên phong phú, con người cần cù, khoáng đạt,…tạo nền tảng bước đệm cho sự ra đời trung tâm phố thị cổ ven đầm Thi Nại tại ấp Chánh Lộc thôn Vĩnh Khánh năm 1837 do người Việt: Phố trưởng Trần Đức Hiệp, cai trưởng Ngô Văn Phóng quản lý, thu hút tập trung giới thương nhân người Phương Tây, người Hoa, người Việt đến nơi đây buôn bán và dấu ấn “Nậu nguồn” góp phần mở rộng cánh cửa giao thương cùng đi kèm gửi gắm nỗi niềm lưu luyến.

“ Ai về nhắn với Nậu nguồn/ Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên”

Sợi dây liên kết “Lên nguồn, xuống biển” được các “thuyền hộ-thuyền buôn” đảm trách với các trục kết nối sông Kôn qua ngã Vạn Gò Bồi – Kẻ Thử – Đầm Thi Nại - Cửa Thi Nại (Cửa Giã) đóng vai trò quan trọng.

Quách Tấn trong tác phẩm “Nước non Bình Định” nhận định:

- “Giã là làm cá. Trước kia nơi lưỡi cát Qui Nhơn chỉ có người chài lưới ở để làm nghề mà thôi, và cửa Qui Nhơn, thời bình, chỉ có ghe thuyền đánh cá ra vào hàng ngày. Cho nên mới gọi là Cửa Giã” (3)

- “Cửa Giã nói trong bài ca là cửa Thi Nại”

Cửa Giã có hòn án ngoài

Các lái chạy ngoài gọi hòn Lao Xanh (4)

- “Cửa Thi Nại thường gọi là cửa Qui Nhơn” (4)

“Tên Thi Nại chẳng những dùng để chỉ cửa biển, mà còn dùng luôn đầm nước ở phía Bắc, vùng biển phía Nam và lưỡi cát chạy ở giữa đầm và biển”(3)

Trong kết cấu chữ Nôm chữ Giã: chiếc giã (thuyền mành) 𦩳 một bên là bộ Chu lấy ý với (danh từ) : thuyền, đò; (động từ) : đi thuyền, kết hợp lấy âm chữ Giả. Như vậy, Giã tựu chung là nghề làm cá, phương tiện thuyền bè, di chuyển đi lại trên sông nước, đồng thời cũng là địa danh gắn bó với tên của vùng đất khá lớn được nhắc nhiều trong ca dao Bình Định, phù hợp và khả tín hơn trong cách viết, cách dùng cho tên riêng: Xóm Giã, Chợ Giã, Cửa Giã bấy lâu nay.

- “Anh về dưới Giã bao lâu/ Ngó lên cây Cốc thấy lầu ông Tây”

- “Anh về dưới Giã thăm nhà/ Ghé vô em gửi lạng trà Ô Long”

- “Thương em anh để đó đã/ Anh vô trong Giã anh mua bộ chén chung

chè.

Tìm hiểu tên riêng địa danh: Xóm Giã, Chợ Giã, Cửa Giã, về cơ bản các địa danh này tập trung chủ yếu trên địa phận của làng (thôn) Chánh Thành.
b. Chợ Giã:

Chợ Giã – chợ Thi Nại, nơi buôn bán sầm uất của cư dân làng Chánh Thành (quen gọi là chợ Thượng Lộc, chợ Chánh Thành) là chợ trung tâm của Qui Nhơn xưa, hình thành nên một hệ thống trao đổi nội địa thu gom các sản vật tập trung về phố thị, các chợ ven đầm, như: chợ Cẩm Thượng (tục gọi chợ Triều), chợ Dinh, chợ Ma- bến Vạn, chợ Thượng Lộc(1803) (còn gọi là chợ Chánh Thành, chợ Thi Nại, tên dân gian: chợ Giã ) là nổi tiếng hơn cả:

“Muốn ăn đi xuống Muốn uống đi lên Dạo khắp bốn bên Chợ Thành, chợ Giã Chợ Dinh bán chả Chợ Huyện bán nem”

Hay: “Anh nguyện cùng em chợ Giã cho chí cầu Đôi
Nguyền lên Cây Cốc xuống Vạn Gò Bồi giao lân…”

Theo tác phẩm “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí”, tác giả Lê Quang Định biên soạn năm 1803 dưới triều vua Gia Long, tra phần chữ Hán, quyển thứ 6 trang 33b liên quan đến Bình Định ghi rõ: “Chí Thượng Lộc thị tục danh chợ Giã thị” nghĩa: “đến chợ Thượng Lộc tục danh chợ Giã” ,

chi tiết hơn:

- 1.530 tầm,(tương đương 3.2km tính từ cầu Tân Hội, tục gọi Cầu Đôi) đường toàn cát mịn, phía nam dọc theo núi, phía bắc có gò tục gọi là Núi Miệt, dưới gò này có tháp, trước mặt tháp có miếu thờ công thần, đến chợ Cẩm Thượng, tục gọi là Chợ Triều, hai bên chợ có quán xá rất trù mật, khách đi đường có thể nghỉ lại đây.

- “444 tầm,(tương đương 948m tính từ chợ Cẩm Thượng) đường toàn bằng cát mịn, hai bên phố xá liền nhau, là nơi buôn bán rất tấp nập, khách đi đường nghỉ lại rất tiện. Sau lưng phố này trông ra hướng bắc là dọc theo đầm biển cạn (đầm Thi Nại), nước sâu và mặn, thuyền bè có thể ra vào, đến chợ Thượng Lộc tục danh chợ Giã (Giạ), hai bên chợ có quán xá rất đông đúc, khách đi đường có thể nghỉ lại đây. Ngày trước quân ta đại phá thủy quân tư đồ Dũng (Vũ Văn Dũng) của Tây Sơn tại nơi này”(5)

Những ghi chép trong “Lịch sử thành phố Qui Nhơn” cho biết Chợ Giã ở gần đình làng Chánh Thành,… gần chợ Lớn Qui Nhơn (trung tâm thương mại Qui Nhơn Plaza) và “ dấu tích bến Giã, chợ Giã còn lại một bãi cát gần bờ đầm rộng chừng 50m…” (6)

Qua đối chiếu khảo sát thực tế, so sánh khoảng cách ở các cự ly thì Chợ Cẩm Thượng nằm ở vị trí khoảng giữa của đường Ỷ Lan và qua hơn đường Phan Đình Phùng hiện nay. Theo lời kể trước đây, thuyền bè từ các vùng trong đầm đến chợ đều lấy mốc cây Gòn rất lớn và cao dưới đoạn dốc đường Ỷ Lan – Đặng Trần Côn làm chuẩn để các thuyền cập bến, ở thập niên 90 của thế kỉ XX vẫn còn tồn tại chợ này có tên là chợ Bạch Đằng sau khi chợ Đầm được xây dựng thì chợ này không còn nữa.

Từ vị trí chợ Cẩm Thượng 444 tầm (tương đương 948m tính từ chợ Cẩm Thượng) tìm được vị trí chợ Giã tương ứng từ số nhà 168 Bạch Đằng (tọa độ: 13.7756580 Bắc 109.2337090 Đông) đến 138B Bạch Đằng (tọa độ: 13.7764300 Bắc 109.2343360 Đông) nằm trong phạm vi tính từ đường Hàn Thuyên đến đường 31- 3, đồng thời so sánh tỉ lệ xích 1:100.000 ở bản đồ Carte Économique de L’Annam Province de Binh Dinh (Bản đồ kinh tế xứ Trung Kỳ tỉnh Bình Định) năm 1925 có đánh dấu biểu tượng Chợ Giã, lãnh sự quán Pháp trên bản đồ, có sự tương đồng ở các vị trí được xác định (tương đối), phù hợp cho nhận định về chợ Lớn Qui Nhơn khi năm 1932 chợ Giã (chợ Chánh Thành) nằm sát đầm Thi Nại bị cơn bão lớn tàn phá và được di dời về vị trí mới là chợ Lớn Qui Nhơn sau này: “Mặt chợ giáp đường Tăng Bạt Hổ (xưa là đại lộ Boulevard Odend’hal kéo dài đến khu I). Phía tây giáp hông nhà đèn, đường Phan Bội Châu (xưa là đường Rue jules Ferry)” (7)

Dấu vết sót lại của chợ Giã ở những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, chợ vẫn còn tồn tại nhưng ở qui mô nhỏ có tên là chợ Hàn Thuyên đến nay thì không còn nữa.

* Xóm Giã.

Trong tác phẩm LE ROYAUME D’ANNAM của tác giả M. A. Bounais; xuất bản tại Paris năm 1885, nhắc đến Xóm Giã “Cảng Quin – Nhon, hay còn gọi là Thi-Nai mà chúng tôi nhìn thấy khoảng 5 dặm từ Hon-Dat, là một cảng mở cho người Châu Âu theo Hiệp ước ngày 15/03/1874. Chúng tôi nhìn thấy các tòa nhà lãnh sự của Pháp, một pháo đài ở phía Đông, bên trái các tòa nhà là xóm Giã có người Hoa sinh sống…”. Đối chiếu bức ảnh chụp tòa nhà Lãnh sự Pháp năm 1888 (Résidence de France à Qui-Nhon(Annam) 1888), phía bên trái cách khoảng 50m thấy xuất hiện “cầu Đá” vươn ra hướng đầm Thi Nại (hướng chụp từ phía đầm Thi Nại) và câu hỏi được đặt ra “Cầu Đá” trên thực địa hiện nay ở vị trí nào?

Xem lại bức không ảnh chụp Qui Nhơn năm 1942, so sánh bản đồ quân sự Qui Nhơn năm 1964, 1969 cùng khảo sát thực địa, phỏng vấn cư dân sở tại (xác nhận nơi đây có tên xóm Cầu Đá), nghe qua lời kể (linh mục Khôi, năm nay 92 tuổi) đã định vị được vị trí “Cầu Đá” điểm khởi đầu tại tọa độ: 13.7760360 Bắc 109.2374640 Đông (địa chỉ 117 đường Lê Văn Hưu) phía sau lưng tòa Giám mục Qui Nhơn kéo thẳng hướng ra phía đầm có độ dài 500m và uốn theo hình vòng cánh cung hầu như nằm trọn trên đường Đống Đa rẽ phải xuống cảng (điểm cuối có tọa độ: 13.7784580 Bắc, 109.2455590 Đông) có tổng chiều dài 1.200.000m, từ đây ta xác định được tòa nhà lãnh sự của Pháp cách vị trí “Cầu Đá” 50m có vị trí tọa độ: 13,7758430 Bắc 109,2360200 Đông (địa chỉ 74 đường Bạch Đằng), nằm trên khu đất nhượng địa 2,5ha theo Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874.

Và “bên trái các tòa nhà (lãnh sự của Pháp) là xóm Giã” (hướng từ phía biển vào) với “ hai bên phố xá liền nhau, là nơi buôn bán rất tấp nập” trong phạm vi ước lượng tính từ đường Trần Cao Vân cho đến đường 31-3 hiện nay. Song nhóm địa danh “ở Giã” “dưới Giã”, “trong Giã”, “xuống Giã” có phạm vi lớn hơn phạm vi ước lượng “…dùng luôn đầm nước ở phía Bắc, vùng biển phía Nam và lưỡi cát chạy ở giữa đầm và biển”.


2. Đình làng Chánh Thành:

Một điều thiệt thòi hơn so với Đình Cẩm Thượng vẫn còn tồn tại thì Đình làng Chánh Thành đã bị triệt hạ, khi tiêu thổ kháng chiến chống Pháp năm 1947. Trong trí nhớ không còn được minh mẫn của cụ Hà năm nay 89 tuổi(8), gia đình có ba đời làm thủ từ đình làng Chánh Thành thì mảnh đất đình làng xưa, nay là Công ty môi trường đô thị Qui Nhơn (40 đường Phan Bội Châu), khuôn đất với ước lượng diện tích 50m x 90m thông hai đầu đường Lê Thánh Tôn, Trần Hưng Đạo ôm trọn góc của hai ngã tư Phan Bội Châu – Lê Thánh Tôn, Lê Thánh Tôn – Trần Hưng Đạo với hướng đình quay về phía đầm Thi Nại đối diện với nhà thờ Chính tòa xây dựng năm 1938 (nhà thờ Nhọn). Trước khi bị triệt hạ nơi đây còn là nơi dạy học cấp tiểu học với các lớp Nhất, lớp Nhì…trước sân còn có cây Đa to…, hằng năm vào ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch tổ chức cúng đình, thường có hát bội từ mồng 1 đến hết ngày mồng 3, sau đó đoàn hát bội được rước theo đường Lê Lợi bây giờ về hát tại Lăng Ông Nam Hải (Nam Hải thần ngư- 73A Nguyễn Huệ) từ mồng 4 đến hết ngày mồng 5 âm lịch; những lễ tiết này trong Đồng Khánh dư địa chí ghi rõ “ Phong tục hai thôn Chánh Thành, Cẩm Thượng và ba tổng Quảng Nghiệp, Nhơn Ân, Dương Minh cũng giống phong tục tổng An Nghĩa huyện Tuy Viễn”(9), được nhấn mạnh “Việc cưới xin tang tế cùng các lễ tiết trong năm cũng giống như các huyện của phủ Hoài Nhơn, nhưng có phần trọng hậu hơn”(10). Vật chứng duy nhất còn lại với thời gian, khẳng định cho Đình làng Chánh Thành tồn tại trong lịch sử là bức sắc phong thần năm Khải Định thứ 9(1924), song cũng có một số phận long đong, thất lạc, khi được trả về chốn cũ thì đình làng đã không còn, trước được gửi ở chùa Xá Vệ nay được cất giữ tại Đình Thanh Minh (trước gọi là miếu song do giữ sắc phong của đình nên gọi là Đình Thanh Minh) thuộc Tổ20- Kv3- P.Trần Phú- TP.Qui Nhơn- Bình Định.

Dịch:

“Sắc Bình Định tỉnh Tuy Phước phủ Chánh Thành thôn tòng tiền phụng sự bản cảnh thành hoàng tôn thần phúc đức thổ địa tôn thần nguyên tặng: Bảo An Chánh Trực Hữu Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng tôn thần hộ quốc tí dân nẫm trứ linh ứng tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự tứ kim chánh trị trẫm tứ tuần đại(11) khánh tiết kinh ban bửu chiếu đàm ân lễ long đăng trật quân chiếu gia tặng: Tịnh Hậu Trung Đẳng thần đặc chuẩn phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển khâm tai”.

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật

Nghĩa:

Sắc cho thôn Chánh Thành, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định theo trước phụng sự bản cảnh thành hoàng tôn thần, phúc đức thổ địa tôn thần, nguyên tặng: Bảo An Chánh Trực Hữu Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng tôn thần, thần đã che chở cho nước, phù hộ cho dân từ trước đã linh ứng, ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng thờ. Nay thời thịnh trực nhân mừng thọ vua tứ tuần đại khánh, theo khánh tiết triều đình ra chiếu ban ơn, lễ nghi long trọng đăng trật theo đó gia tặng: Tịnh Hậu Trung Đẳng thần, đặc chuẩn phụng thờ theo điển lễ của triều đình. Hãy noi theo.

Khải Định năm thứ 9(1924), tháng 7 ngày 25

Làng Chánh Thành cùng với không gian đình làng Chánh Thành xưa chỉ còn lại tên gọi trong lịch sử, được hoà quyện trong lòng thành phố như một phần tất yếu, kết cấu linh hồn cho diện mạo đô thị Qui Nhơn hiện đại ngày nay.

3. Cảng Qui Nhơn

Cảng Qui Nhơn nằm ở phía Đông thành phố Qui Nhơn kết nối vịnh Qui Nhơn bởi cửa Giã, cửa Thi Nại, được bao bọc bởi đầm Thi Nại và bán đảo Phương Mai, phía ngoài vịnh có hòn Thanh Châu – Cù Lao Xanh che chắn, tạo nên một thương cảng, quân cảng lý tưởng.

Vì vậy, nơi này trong nhiều thế kỷ có sự góp mặt đông đảo các thuyền buôn và thương nhân phương Tây, người Việt, người Hoa lui tới buôn bán; dưới góc độ quân sự cảng Thi Nại có vị trí hiểm yếu, chiến lược khống chế một vùng cửa biển quan trọng, nhiều cuộc giao tranh giành giật khốc liệt diễn ra trong nhiều thế kỷ: 1283, 1377, 1792, 1793, 1799, 1800, 1801, 1859….

Năm 1778, lúc mà nhà Tây Sơn còn phải đương đầu với họ Trịnh phía Bắc Quảng Nam, đang truy đuổi họ Nguyễn tận trong Gia Định, một sứ đoàn người Anh tìm đến Qui Nhơn yết kiến triều đình Nguyễn Nhạc để xin bang giao, mục tiêu trước mắt là thiết lập mối giao thương. Trưởng sứ đoàn là Charles Chapman đã tường trình cho Toàn quyền Anh và Công ty Đông Ấn thuộc Anh ở Bengal – Ấn Độ, về tình hình cảng Qui Nhơn lúc bấy giờ hiếm khi vắng tàu buôn nước ngoài:

+ “Đến ngày 13 tháng Bảy chúng tôi thả neo trong vịnh. Trên bờ nhiều nơi cày sâu cuốc bẩm, hiện thời bày ra thật mê mẩn, dưới bình nguyên cấy lúa, trên cao hồ tiêu trải tới tận đỉnh đồi. Chúng tôi thấy ở đây có 2 thương thuyền người Bồ”…(12)

Sau khi xâm lược, đô hộ Việt Nam, thực dân Pháp đặc biệt chú ý đến Qui Nhơn trong phát triển đô thị và cơ sở hạ tầng, đầu tư cảng thị qui mô hơn so với một số cảng thị khác trong vùng. Ở tác phẩm LE ROYAUME D’ANNAM của tác giả M. A. Bounais; xuất bản tại Paris năm 1885, khái quát tổng thể “Cảng Quin – Nhon, hay còn gọi là Thi-Nai mà chúng tôi nhìn thấy khoảng 5 dặm từ Hon-Dat, là một cảng mở cho người Châu Âu theo Hiệp ước ngày 15/03/1874. Chúng tôi nhìn thấy các tòa nhà lãnh sự của Pháp, một pháo đài ở phía Đông, bên trái các tòa nhà là xóm Giã có người Hoa sinh sống…”

Thực hiện Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874, triều đình Huế, theo yêu cầu của thực dân Pháp, ngày 1 tháng 11 năm 1876 “Bắt đầu khai trương cửa biển Thi Nại” và thành lập Lãnh sự Pháp tại khu đất nhượng địa 2,5 ha tại Qui Nhơn (1876). Chính thức mở ra thời kỳ mới cho việc giao lưu buôn bán với các nước phương Tây và khu vực Đông Nam Á.

Thuận tiện cho việc tiếp cận Cảng Qui Nhơn, năm 1889, thực dân Pháp cho xây dựng ngọn hải đăng cao hơn 119m so với mực nước biển, có thể hướng dẫn các tàu cập bến trong vịnh Thi Nại an toàn, từ đây khối lượng hàng hóa, số lượng tàu thuyền thông qua cảng cũng tăng dần:

Năm 1901: Nhập cảng 4.707 tấn, trị giá 4.024.000 franc và số hàng xuất cảng 8.730 tấn, trị giá 2.840.000 franc(2)

Năm 1904: thu hút 159 tàu thuyền cập bến; có 7.930 tấn, trị giá 3.633.953 franc hàng cập cảng Qui Nhơn bao gồm các loại đồ hộp, bia, kim loại, sợi bông, gỗ, bột mì, rau quả, dầu ăn, nước ngọt, thuốc phiện, ximăng, than đá…

Số hàng xuất đạt được 16.363 tấn, trị giá 4.174.469 franc gồm các loại: nón lá, dừa tươi, cau, lụa, đường, gạo, sừng, gia súc, rong biển, khô dầu, da, dầu dừa, (13)…..

Trong những năm cuối thế kỉ XIX, có nhiều hãng buôn độc quyền của Pháp đến Qui Nhơn đặt trụ sở như: Liên Hiệp thương mãi Đông Dương và Phi châu (L’UCIA), công ty Pháp – Việt về sợi và xuất khẩu (SFATE), công ty Descours et Cabaud, hãng Morin Frères,… số lượng tàu vào ăn hàng chủ yếu là tàu của Đức và của hãng vận tải đường biển (Đầu Ngựa) song với những tàu có trọng tải lớn vẫn không vào được phải (tăng bo) hàng hóa và khách bằng thuyền buồm.

Tạp chí FINANCES ET GRANDS TRAVAUX EN INDOCHINE, xuất bản

ngày 15 tháng 12 năm 1928, khái lược bức tranh toàn cảnh cảng Qui Nhơn năm 1924: “Cảng Quinhon được chỉnh trang bằng cách nạo vét, vào năm 1914, trong một kênh rộng 75 mét được đào trong đầm phá (- 6,50) và cho phép các tàu vào đầm phá bên trong, tìm nơi trú ẩn hoàn hảo. Độ sâu trong kênh này luôn được duy trì ổn định.

Một cầu tàu bê tông cốt thép được xây dựng vào năm 1918 và việc tổ chức một dịch vụ xếp dỡ hiện đang được tiến hành. Cảng Quinhon dự định sẽ có một sự phát triển tuyệt vời khi mở ra lối thoát với khu vực giàu có của Kontum đang được quản lý bởi người dân bản địa nơi này.

Sự thông thương rõ nét của cảng, vào năm 1924, với sự di chuyển của 3.534 tàu, khối lượng tổng cộng, đầu vào và đầu ra, 534.173 tấn. Trọng lượng của hàng hóa nhập khẩu là 14.698 tấn và hàng hóa xuất khẩu ở mức 19.225 tấn, với tổng trọng tải là 33.923 tấn.”

Tạo điều kiện cho việc khai thông hàng hóa thuận lợi từ cảng Qui Nhơn, ngoài tuyến đường bộ được quy hoạch, nâng cấp. Năm 1928 thực dân Pháp tiến hành xây dựng đường sắt và ga Qui Nhơn và đến tháng 06 năm 1935 thì hoàn thành, ga có 02 đường ray. Một đường ray từ ga Qui Nhơn chạy xuống cảng Qui Nhơn dài 3,2 km (chạy xuyên suốt đường Bạch Đằng xuống cảng) và một đường ray từ ga Qui Nhơn nối với ga Diêu Trì dài 10,2 km, nối thông trực tiếp tuyến đường sắt Bắc – Nam.

Tác giả Bùi Văn Lăng mô tả trong Địa dư Mông học tỉnh Bình Định, năm 1935, nhận xét: “Cữa Quinhon là một hải cảng, nên ghe chở những đồ thổ sản tỉnh Bình-định, Kon-tum và Phú-yên đều phải trình-giấy ở sở Thương-chánh Quinhon

XUẤT CẢNG.- Gạo, muối, dầu phụng, mè, gạc nai, chè Kon-tum (gởi qua Tây), mực khô, trứng vịt muối.

NHẬP CẢNG.- Vải, sắt, đồ hộp, đồ trái, các thứ dầu, chè tàu, chén bác, đồ sành và đồ sứ”.

Nghiên cứu qua một số tư liệu của người Pháp cho thấy bức tranh toàn cảnh hoạt động kinh tế thương mại cảng Qui Nhơn cuối thế kỷ XIX và những thập niên đầu thế kỷ XX, phản ánh sinh động sự phồn thịnh, buôn bán sầm uất, cùng khối lượng hàng hóa thông thương thông thương qua cảng Qui Nhơn gia tăng nhanh chóng và đi kèm với nó là đô thị Qui Nhơn ra đời (1930), dần trở thành trung tâm hành chính – kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định, còn là đầu tàu cho cả vùng miền Trung, Tây Nguyên rộng lớn.

Hiện nay, cảng Qui Nhơn là một trong 10 cảng biển lớn Việt Nam, với tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng năm 2019 xấp sỉ 9.100.000 tấn, năm 2022 sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt 11.000.000 tấn đứng thứ 3 sau cảng Sài Gòn và cảng Hải Phòng. Trong kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh Đảng bộ Bình Định lần thứ XIX đặt kinh tế biển là ngành mũi nhọn; cảng Qui Nhơn cùng cảng biển nước sâu Nhơn Hội khi hoàn thành sẽ là cơ sở trung tâm dịch vụ cảng biển cho cả nước, khu vực và quốc tế trong tương lai không xa.

Chú thích:

(1) Quách Tấn, Nước non Bình Định, tr.188, tr.210

(2) Côn Giang (1994), Nhân đọc bài “390 năm phủ thành Qui Nhơn”, Nguyệt san Bình Định .- Số 1.- tr. 24

(3) Nước Non Bình Định/ Quách Tấn.- 2003.- tr.195

(4) Nước Non Bình Định/ Quách Tấn.- 2003.- tr.194

(5) Hoàng Việt nhất thống dư địa chí/ Lê Quang Định .- tr.250

(6) Lịch sử TP.Qui Nhơn/ Đỗ Bang.- tr.161.

(7) Chợ Quy Nhơn, lịch sử và truyền thống.-1988

(8) Địa chỉ: 249/3 Nguyễn Huệ- TP.Qui Nhơn- Bình Định

(9) (10) Đồng Khánh dư địa chí- phần Bình Định .- tr 1560, tr 1562, tr 1564

(11) Tấm sắc bị thủng mất chữ, trước đã dán sửa nhầm thành chữ Bổn nay đính chính là chữ Đại

(12) Nguyên văn trong British Mission to CochinChina: “13th of July we anchored in the Bay. The coast, in many places highly cultivated, had now a most delightful appearance, the lowlands planted with paddy and the hills with pepper to their very tops. Here we found two Portuguese snows”… (13) L’ ANNAM EN 1906 (Bản dịch tại Thư viện tỉnh Bình Định).

ThS. Hoàng Bình
Thư viện tỉnh Bình Định

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...