Thứ Tư, 24 tháng 4, 2024

Quy Nhơn qua hồi ức của nhà văn Võ Hồng (Tác giả Trần Xuân Toàn)

Nhà văn Võ Hồng (1921- 2013) là người con của quê hương Phú Yên. Nhà văn sinh tại làng Ngân Sơn, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Lúc còn nhỏ, ông học ở trường làng Ngân Sơn, trường phủ Tuy An, trường huyện Sông Cầu, rồi ra học Trung học ở trường College Qui Nhơn vào khoảng năm 1934-1940.

Năm 1940, ông ra Hà Nội học ban tú tài. Dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, ông làm bí thư toà Tổng Ðốc 4 tỉnh miền Nam Trung Việt đóng tại Ðà Lạt. Trong thời kháng chiến, ông cùng vợ dạy học ở trường Trung học Lương Văn Chánh (Phú Yên) và sau đó ông làm hiệu trưởng trường này. Năm 1953 bị bệnh, ông xin nghỉ dài hạn. Năm 1954, ông đưa gia đình về sống ở Ðà Lạt. Từ năm 1956, ông về sống ở Nha Trang, dạy học ở các trường tư thục và nghỉ hưu năm 1982.

Như vậy, cả phần đời chính của nhà văn Võ Hồng đã gắn bó với quê hương Phú Yên, với tuổi thơ và công việc dạy học.

Cho nên, cũng rất dễ hiểu, bóng dáng quê hương, hồn cốt quê nhà Phú Yên đã thấm đẫm trong tâm hồn ông, đã trở đi trở lại trong sáng tác văn chương của ông. Dù nhà văn Võ Hồng viết về nhiều đề tài khác nhau, hướng đến hiện thực cuộc sống thời chiến tranh, hay viết về thân phận con người, về tình yêu, nhưng như PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Trang (2013) đã nhận xét, “bao quát và thành công nhất của ông vẫn là viết về quê hương, về những kỷ niệm của tuổi học trò”. Quả thực là vậy, “Đọc tác phẩm của Võ Hồng, có thể hình dung các vùng miền của Phú Yên, từ đèo Cả đến đèo Cù Mông, biển Mỹ Á, Sông Cầu, vùng Xuân Phước, Xuân Quang của Đồng Xuân...; làng Ngân Sơn của nhà văn với con sông Phường Lụa trong trẻo, những bến đò đông đúc, nhà thờ Mằng Lăng, chùa Châu Lâm... Trên những con đường quê nối liền An Thạch với An Thổ, An Dân, An Mỹ; vẫn là bóng dáng của những người nông dân lam lũ, cần cù, suốt đời gắn bó với đất”. Và tác giả Nguyễn Thị Thu Trang kết luận: “Nói đúng hơn, quê hương không chỉ là đề tài. Quê hương còn là máu thịt, là tâm niệm của nhà văn Võ Hồng”.

Nói như vậy, không phải nhà văn Võ Hồng là người “địa phương chủ nghĩa”, ông chỉ biết có mỗi một quê nhà Phú Yên mà thôi. Trong sáng tác của Võ Hồng, ta bắt gặp đây đó những trang viết về những vùng đất mới, những vùng đất có chân trời khác lạ với chân trời quê hương ông, mà ông có dịp đặt chân hay có thời gian sống ở đấy. Và chính ở những nơi này, ông coi nó, xem nó như một phần quê hương của mình, dành cho vùng đất đó những tình cảm thân thiết và nhớ thương. Mảnh đất Quy Nhơn, Bình Định, một phố biển xinh đẹp, một thành phố nhỏ nhắn xinh xắn vào những năm 1930, được ông dành cho những tình cảm đó trong những trang hồi ức của mình. Được biết, theo những trang tiểu sử của nhà văn, Võ Hồng ở tuổi học sinh 15-18 đã từ Phú Yên ra Quy Nhơn- Bình Định để học trung học tại trường College Quy Nhơn (bây giờ là trường Quốc học- Quy Nhơn) vào những năm 1934-1940.

Chúng tôi bắt gặp những hồi ức của Võ Hồng về Quy Nhơn vào năm 1936, tức lúc ông 15 tuổi, khi đang theo học trung học ở đây. Mẩu hồi ức này được in trong Tập san Tây Sơn - Giai phẩm Đông-Xuân Nhâm Tý, xuất bản ở Bình Định vào năm 1972, từ trang 77 đến trang 83.

Nhà văn Võ Hồng có lần tâm sự về việc ông thỉnh thoảng viết hồi ức rằng: “Vậy viết về những kỷ niệm dĩ vãng tôi nhằm vào việc lấp một cái hố trống. Tôi muốn các thế hệ đàn em có dịp để thiết tha gắn bó với quê hương hơn..." (Nguyễn Nam Anh, 1972).

Hồi ức trên cho thấy, cậu học sinh trung học thuở ấy, nhà văn Võ Hồng sau này, có cái nhìn thân thiện, cụ thể nhưng tinh tế, đầy thiện cảm với nơi mình trọ học: Quy Nhơn!

Trước hết, nhà văn Võ Hồng mở đầu trang hồi ức bằng câu “Quy Nhơn ngày đó phố xá còn rải rác sơ sài”, thể hiện ấn tượng ban đầu, bao quát về Quy Nhơn lúc bấy giờ.

Và sau đó, Quy Nhơn dưới cặp mắt trẻ trung, hồn nhiên của cậu học sinh Võ Hồng hiện lên hai khung cảnh rõ rệt: một Quy Nhơn tĩnh với khung cảnh đường phố, biển cả, vườn hoa; và một Quy Nhơn động với những hàng phố nhộn nhịp cảnh mua bán, với những con đường quê cạnh phố thị tất tả cảnh người dân quê ngược xuôi mưu sinh!

Có thể nói, ấn tượng nhất với Võ Hồng là những con đường- phố Quy Nhơn. Ông miêu tả tỉ mỉ, với cái nhìn không khác gì nhà quy hoạch đô thị, một kiến trúc sư đường phố. Đó là, “Con đường chính là đường Gia Long chạy dọc suốt chiều dài của thành phố. Chạy song song với đường Gia Long là đường Jules Ferry và Bolevard O’ denhal. Đại lộ O’ denhal có đặc điểm đặc biệt là chạy rất thẳng, chạy xuống biển”. Đường Gia Long được nói ở đây chính là đường Trần Hưng Đạo bây giờ, xưa nay vẫn là trục lộ chính của Quy Nhơn. Ông miêu tả tiếp quy hoạch con đường này, “Đường Gia Long ở đoạn dưới là trường tư thục Gagelin, nhà thờ, toà giám mục, rạp chiếu bóng Morin-Frères, sân túc cầu. Từ sân túc cầu đến bãi biển là công sở và dinh thự của công chức người Pháp như Toà sứ, Toà kho bạc, Sở lục bộ…”. 

Trường tư thục Gagelin được xây dựng năm 1932, sau này là trường tư thục Trinh Vương (và hiện nay là cơ sở của trường Cao đẳng Y tế Bình Định). Nhà thờ Chánh tòa giáo phận Quy Nhơn, mà người dân Quy Nhơn thường gọi là Nhà thờ Nhọn, bây giờ vẫn sừng sững với thời gian, bên cạnh là Tòa Giám mục xanh mát dưới những tàn cây lớn xanh um hiện diện đến tận bây giờ, là trung tâm của Quy Nhơn, là “chứng nhân” sinh động cho những dòng văn ở trên của Võ Hồng. Bên cạnh những con phố, là những con đường quê chạy ven phố, được để ý đến, với sự quan sát tỉ mỉ: “Một con đường khác chạy từ làng Xuân Quang, cắt đôi xã Cẩm Thượng bị bẹt rộng ra trước mặt nhà ga Qui Nhơn rồi cụng vào đại lộ O’denhal. Trên con đường này, mỗi buổi sáng đàn bà đi chợ gồng gánh rau trái, nối đuôi thành hàng”. Khung cảnh đường phố Quy Nhơn bỗng chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động, bỗng sống động lên dưới ngòi bút của Võ Hồng!

[Về lịch sử hình thành trường Gagelin Quy Nhơn: Từ đầu thế kỷ 20, khi quy hoạch Qui Nhơn thành tỉnh lỵ của Bình Định, người Pháp đã khảo sát, tính toán rất tỉ mỉ, bài bản và khoa học một đô thị trung tâm của tỉnh Bình Định có quy mô vài chục ngàn dân, là đô thị biển. Năm 1902, Đức Cha Damien Grangeon Mẫn - Giám mục Hiệu tòa Utima, Đại diện Tông tòa Giáo phận Đàng Trong và là Giám mục Làng Sông đã xin chính quyền sở tại đất đai để xây dựng các công trình của Đạo Công Giáo phục vụ công ích. Năm 1903, chính quyền sở tại cấp trích lục khu đất nằm giữa các đường Hàn Thuyên - Bạch Đằng - Trần Bình Trọng - Trần Hưng Đạo; do Cha Louis Célestin Vallet Ngân đứng tên. Trên khu đất này, Giáo phận bắt đầu xây nhà thờ, nhà quản lý Nhà Chung...]

Năm 1931, Giáo phận Qui Nhơn thỏa thuận với các sư huynh Dòng tu Lasan: Dòng tu Lasan sẽ nhượng lại cho Giáo phận trường Gagelin Kim Châu (cạnh nhà thờ Kim Châu, An Nhơn) để xây dựng trường Thánh Giuse; ngược lại, trường Gagelin Kim Châu của Dòng tu Lasan sẽ chuyển về Qui Nhơn, xây dựng trong khu đất mà chính quyền vừa cấp cho Giáo phận. Trường Gagelin Qui Nhơn được cấp tốc xây dựng và khai giảng đón năm học mới 01/9/1932 cho con em giáo dân và cả con em người không có Đạo. Năm 1946, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chấp hành mệnh lệnh "tiêu thổ kháng chiến", toàn bộ trường Gagelin Qui Nhơn đã bị phá hủy, san bằng. Năm 1956, Đức Cha Marcel Piquet Lợi - Giám mục Hiệu tòa Eriza và Đại diện Tông tòa Giáo phận Qui Nhơn cho xây dựng trường cho học sinh nam và giao cho các sư huynh Dòng tu Lasan điều hành. Ngôi trường ở cạnh Nhà thờ Chánh tòa và được đặt tên là trường Lasan Bình Lợi (tên ghép giữa tên tỉnh Bình Định và Lợi là tên Việt của Đức Cha).

Năm 1957, Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi - Giám quản Tông tòa Giáo phận Qui Nhơn cho xây dựng ngôi trường Trinh Vương Tư thục trên nền của trường Gagelin cũ và giao cho Hội Dòng Mến Thánh Giá quản lý. Công trình khởi công ngày 04/7/1957 với nghi thức làm phép viên đá đầu tiên do Đức Cha chủ sự. Trường có tòa nhà chính ba tầng, dài 96m, vừa là trường trung - tiểu học cho khoảng 2000 học sinh, vừa là ký túc xá cho con em nội trú, vừa là Nhà Đệ tử của Hội dòng... trên một khuôn viên rộng rãi khoảng 2 hecta. Ở cấp tiểu học, trường nhận học sinh cả nam và nữ; từ lớp 6 cho đến lớp 12, chỉ nhận học sinh nữ. Hiệu trưởng của trường là Soeur Christine Lê Thị Phi Hường.

Sau năm 1975, cái tên Trinh Vương đã trở thành dĩ vãng. Trường được sử dụng làm trường Trung học Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm, Đại học Quang Trung và hiện nay là trường Cao đẳng y tế Bình Định. Phía tây của trường, vẫn còn Tu viện Mến Thánh Giá tại 04 Hàn Thuyên.

Tưởng rằng với sự khái quát ban đầu, về một Quy Nhơn “phố xá rải rác sơ sài” dễ làm cho người đọc thất vọng, tưởng chừng như Quy Nhơn giống như “trong thế giới đìu hiu của phố huyện” như nhà văn Thạch Lam đã từng miêu tả trong truyện Hai đứa trẻ. Nhưng không! Vẫn dưới ngòi bút của Võ Hồng, Quy Nhơn hiện lên có phần sầm uất, với nhà to cửa lớn được quy hoạch tân tiến kiểu Pháp: “Đường rộng, giữa mặt đường dựng một hàng trụ điện cao, kiến trúc theo kiểu các thành phố lớn bên Pháp, nghĩa là trụ điện tỏa ra hai nhánh mang hai ngọn đèn chiếu xuống hai nửa mặt đường”. 

Những con đường ấy gắn bó với tâm hồn non trẻ Võ Hồng thuở ấy: “Đại lộ chạy trước trường Collège nên ngày nào chúng tôi cũng có dịp nhìn suốt chiều dài của nó, một cái nhìn đem lại sự man mác nơi tâm hồn”, “Là bởi con đường dẫn chạy mút tới chân trời, nơi đó mặt biển tiếp giáp cùng mây, cùng bầu trời mênh mông trong vắt”. Con đường dẫn đến biển. Mà biển Quy Nhơn thì thật là thơ mộng! Xuân Diệu lúc học ở Quy Nhơn cũng từng viết: “Chiều nào tôi cũng đi chơi biển. Biển Quy Nhơn đẹp và sạch sẽ” (Huy Cận, 2002). Lúc bấy giờ, Quy Nhơn không phải, không chỉ là những con phố nhỏ hẹp, tăm tối như thường thấy, mà là những lối đi to lớn, sạch đẹp, “Khu này đường sá thẳng và sạch, có nhiều cây cao đan dày bóng mát trên từng cao”, “Hai bên nhà ga có hai bồn hoa được chăm sóc chu đáo. Cỏ xanh xén thẳng, lối đi sạch sẽ, bốn băng ngồi bằng xi măng sắp đối diện nhau. Kề hai bên bồn hoa là hai biệt thự có lầu, kiến trúc theo lối biệt thự bên Pháp, dành cho nhân viên hoả xa”. 

Đi trên những con đường như thế, tâm hồn bé bỏng Võ Hồng bỗng thấy choáng ngợp: “Một lần, không biết do duyên cớ nào mà tôi đã một mình đếm bước trên một con đường vắng vẻ đó. Sự im lặng to tát choàng ngộp lấy tôi. Đi một đoạn đường thấy thích, đi thêm một hồi thấy buồn, đi đến con đường thì thấy rờn rợn. Màu xanh lặp lại trở nên man rợ, những hàng rào xi-măng dựng san sát đều đặn và thẳng tắp như theo dõi bước chân. Có lúc tưởng như từ một khoảng xanh nào đó có một cánh tay dài vươn ra chụp lấy mình níu mình lại”. Thật thú vị với cảm giác của nhà văn, luôn biến đổi theo từng bước chân trên đường phố Quy Nhơn: thích - buồn - rờn rợn. Cảm giác này của nhà văn là chân thật: khi mình là con trẻ thì thấy đường phố, cảnh quan xung quanh bao giờ cũng to lớn, choáng ngợp!

Khung cảnh đường phố đó đã làm nền cho những hoạt động mua bán nhộn nhịp không kém của Quy Nhơn bấy giờ. Dưới ngòi bút của Võ Hồng, Quy Nhơn đã sớm “khẳng định” một bóng dáng của phố thị nhộn nhịp, một thương cảng buôn bán với ngoại kiều, một trung tâm thương mại của vùng đất miền Nam Trung bộ, nơi sở hữu một bãi biển đẹp mê hồn. Thông thường, đường sá là để đi lại, thực hiện chức năng giao thông. Nhưng những con đường ở Quy Nhơn đã sớm trở thành đường - phố: đó là những con đường mà có nhiều nhà mở cửa hàng buôn bán. Đường - phố ở Quy Nhơn bấy giờ là vậy.

Nhà thơ Tố Hữu, vào khoảng thời gian đó, 1941, khi bị tù, đi đày ngang qua Quy Nhơn, cũng thấy: “Đường qua mấy phố Quy Nhơn/ Nhà sao trông lại yêu hơn mọi lần…/ Người đi, quấn áo chen chân/ Ờ sao như đã quen thân tự nào!”. Cụm từ “quấn áo chen chân” cho thấy một Quy Nhơn bấy giờ tấp nập người, xe! Có thật thế không? Ta xem Võ Hồng thuật lại nhé.

Đây này, “Mọi tiệm buôn đều tập trung trên đường Gia Long, trên một quãng dài độ ba trăm thước bắt đầu từ bến xe hơi và kết thúc ở ngã tư Gia Long-Khải Định. Đa số các tiệm là của người Trung Hoa. Họ buôn sỉ bán lẻ, từ hàng đồ sắt sầm uất đến hàng chạp-phô ngổn ngang những nhang, những đèn, những trà, những bún …”. Con đường Khải Định, bây giờ chính là đường Lê Lợi, đã là một dãy phố buôn bán sầm uất ở Quy Nhơn. Rồi, “Đường Khải Định có một đoạn san sát những tiệm chụp hình và may âu phục”. Và nữa, “Trên đường Khải Định có một tiệm Trung Hoa buôn bán khá đặt biệt: tiệm KE TONG, đó là một tiệm thực phẩm hạng sang, bán toàn thực phẩm ngoại quốc nhập cảng như bơ, phô-mát, thịt Jambon, đồ hộp, trái táo, trái nho, khoai tây”. Hay, “Bên cạnh những thực phẩm, hiệu này bán luôn cả tạp chí ở Pháp gửi sang như Confidences, Vu và Lu, Filmcomplet… Có một tiệm chuyên môn bán sách Pháp là tiệm của ông Bùi văn Tròn”.

Qua mấy trích đoạn trên, giúp ta hình dung ra cảnh buôn bán sôi động, nhộn nhịp của Quy Nhơn ngày ấy: mặt hàng buôn bán rất phong phú, thượng vàng hạ cám (cả những thứ đáp ứng nhu cầu vật chất: ăn, mặc, ở, và cả sách báo, chụp ảnh, may đo thời trang phục vụ nhu cầu hưởng thụ tinh thần!). Người bán có cả người Trung Hoa và cả người Việt. “Đa số các tiệm là của người Trung Hoa. Họ buôn sỉ bán lẻ, từ hàng đồ sắt sầm uất đến hàng chạp-phô ngổn ngang những nhang, những đèn, những trà, những bún ….Các tiệm ăn lớn cũng do họ đứng chủ trương. Rải rác mới có một cửa hàng tạp hoá của đồng bào Bắc Việt chen vào”.

Con phố Gia Long lúc bấy giờ và mãi đến tận những năm trước và sau ngày thống nhất đất nước 1975, vẫn là con phố buôn bán của người Trung Hoa. Người dân Quy Nhơn quen gọi con phố Gia Long là phố Tàu hay phố Hoa Kiều. Vai trò của người Hoa rất quan trọng trong việc hình thanh một Quy Nhơn phố thị. Những quan sát trên của nhà văn Võ Hồng lại trùng khít với những gì mà Xuân Diệu nói trong hồi kí của mình về con phố Gia Long, tương đương về thời điểm: “Ở thành phố Qui Nhơn, con đường Gia Long là lớn nhất. Các cửa hàng buôn lớn và nhỏ cùng tiệm ăn phần lớn là của người Hoa Kiều. Tiệm buôn lớn nhất thành phố lúc bấy giờ là tiệm Toàn Phát, xuất nhập cảng, rồi đến Đông Nguyên, Thái Hưng (…) Thành phố Qui Nhơn có 4 bang Hoa Kiều là Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam, Phúc Kiến. Bang nào cũng có hội quán và chùa thờ, chùa thờ lớn nhất chung cho cả bốn bang là chùa Bà, nằm day mặt ra sông” (Huy Cận, 2002). 

Còn các tài liệu sử học ghi chép về Quy Nhơn- Bình Định đều thừa nhận: từ thời vua Minh Mạng (1825-1841), Quy Nhơn là một thương cảng lớn và có tầm vóc quốc tế, nhất là hoạt động thương mại giữa Trung Quốc và nước ta. Vào đầu thế kỉ XIX, từ 1843, thương nhân người Hoa đã xuất hiện nhiều trên bến cảng Quy Nhơn và quá trình buôn bán của họ diễn ra ngày càng mạnh mẽ từ những năm 40 của thế kỉ XIX. Hoa thương tụ họp về Quy Nhơn phát triển doanh thương, mua đất làm nhà, dựng hội quán theo từng quê quán, lập tiệm buôn, cửa hiệu, mở các đại lí buôn bán, và từ đó hình thành phố xá nhộn nhịp (Nguyễn Thanh Quang, 2013, 2017; Đinh Khánh Toàn, 2010).

Người mua cũng đủ loại, trước hết là người Việt từ các vùng nông thôn tụ về, với “nhu cầu trước mắt của những thị dân tụ tập đầu tiên ăn, mặc, xây, cất nhà”. Có cả người Pháp nữa: “Các bà Đầm, các người bồi bếp Pháp choàng tạp dề và đôi bonnet trắng, đáng lẽ bộ “đồng phục” này dùng mặc ở trong bếp, nhưng vì nó sạch quá trắng quá nên họ nghĩ có thể mặc đi phố mua hàng cũng được, ra vào chọn hàng tấp nập”. Nào có khác gì cảnh mua bán nơi phồn hoa đô hội, kinh kì!

Bên cạnh đó nhà văn cũng chú ý đến những người buôn gánh bán bưng tất tả mưu sinh cùng phố thị: “Trên con đường này, mỗi buổi sáng đàn bà đi chợ gồng gánh rau trái, nối đuôi thành hàng”. Đây là một cái nhìn nhân ái, đồng cảm với đồng bào mình của nhà văn! Tôi chú ý đến một chi tiết rất nhỏ, rất thú vị, thể hiện sự tinh tế của nhà văn, là với bọn học sinh như ông, có rất ít tiền, nên chỉ có thể mua sách, “Với túi tiền nhẹ, chúng tôi thường chỉ lựa mua được loại Meilleursv livres in chữ nhỏ, giấy xấu, giá đâu 7, 8 xu gì đó, loại Hachette, loại Selection giá 2 cắc”.

Phần cuối hồi ức, cậu học sinh Võ Hồng hồi tưởng lại những kỉ niệm của tuổi học trò, với bạn bè cùng trang lứa. Ông nói về những sở thích, sự thể hiện tính cách của lứa tuổi học sinh mới lớn: hồn nhiên, trong trẻo những cũng rất kiêu hãnh, ra vẻ “ta đây” để khẳng định cái tôi của mình. Đó là việc ông và bạn bè có cùng sở thích âm nhạc đương thời. “Vào học lớp đệ nhất niên, đứa học trò nào cũng bắt đầu học hát bài ca bằng tiếng Pháp. Thời đó là thịnh thời Tino Rossi nên đi đâu cũng nghe giọng ca của ông ta”. Nào là “đêm nào cũng lẽo đẻo ngồi ở hàng rào của các Dancing”, nghe tiếng nhạc xập hình. Nào là việc chưng diện quần áo, xe pháo rất là … trẻ con: “Nhà Thọ giàu, áo quần luôn luôn phẳng phiu thẳng nếp và Thọ đi học bằng xe đạp. Hồi đó xe đạp là một xa xỉ phẩm. Cả Collège chẳng một tên nào có nổi một chiếc xe đạp. Toàn là đi bộ, mặc áo dài đen, mang guốc…”. Đến việc chú ý để đầu tóc như thế nào cho dễ nhìn và dễ …ưa: “Một cái đầu cúp rẽ! (…) Học ở Tiểu học mọi cái đầu đều phải cúp ca rê hết. Luật lệ bắt buộc như vậy”, phải “học tới đệ Tam, đệ Tứ niên mà còn cúp ca-rê hay cúp đờ-mi-cua thì nhất định giáo sư có cảm tình. Trừ phi nó học ngu quá”. Và không thiếu những hồi ức về những mối tình học trò, với sự so sanh, tự ti giâu- nghèo, đẹp- xấu: “Lăn vào vòng chiến, chiến đấu vì ái tình, thì chúng tôi thua Trần Đình Thọ là cái chắc”!

Không gian phố thị Quy Nhơn lúc bấy giờ thật là thích hợp cho sự nảy nở những tính cách “kiêu hanh và kiêu hùng”, lối sống trong trẻo, hồn nhiên, những mối tinh “ngày xưa Hoàng Thị” thơ ngây, và cả những sự “ranh manh” của tuổi học trò đáng yêu ở những chàng học sinh “chớm” thị dân này.

Những trang hồi ức về Quy Nhơn của nhà văn Võ Hồng một lần nữa cho ta thấy được một phần đời sống trai trẻ sôi nổi, chân chất cùng một tấm chân tình của nhà văn Võ Hồng đã dành cho Quy Nhơn nói riêng, và cho quê hương đất nước rộng lớn nói chung, trong văn chương của ông sau này.

Chẳng hạn, trong một truyện ngắn của ông, có chi tiết: “Trong Chuyến về Tuy Hòa ông gợi lại nếp sống quê mùa, hương đồng quê, mà nếu “bỏ tôi giữa cảnh ấy, tôi sẽ tìm thấy lại trọn vẹn cái quá khứ êm đềm của những ngày thơ ấu, cũng bờ ruộng cỏ ướt sương đêm, cùng dòng nước mương chảy róc rách trên đó những con nhện nước run rẩy trên bộ chân gầy”. Từ cái nền của quê nhà đó, xuất hiện những nhân vật miền xa tới, như Trầm, cô gái trẻ từ Đà Nẵng vào, đứng trên Gành Ráng nơi có mộ Hàn Mặc Tử: “Nhìn xuống vũng bể Qui Nhơn uốn cong một màu xanh ngọc bích nằm im lặng, bất động, câm nín. Em nhớ đến câu thơ của Hàn Mặc Tử: “Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng. Một vũng cô liêu cũ vạn đời” (Giao Hưởng, 2003).

Mái trường trung học College Quy Nhơn bấy giờ, trường Quốc học Quy Nhơn sau này và bây giờ, cùng phong cảnh và con người Quy Nhơn, đã dưỡng nuôi nhiều tài năng văn chương sau này cho đất nước như Võ Hồng. Có thể kể thêm: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan, Phan Tứ, Phạm Hổ, nhà thơ Giang Nam, nhà văn Nguyên Ngọc…Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh (1998) cũng là cựu học sinh của trường kể thêm những nhà văn, nhà thơ khác chịu ảnh hưởng của “chất thơ và hiện thực” Quy Nhơn: “Quy Nhơn - Bình Định còn có các nhà thơ Yến Lan, Vương Linh, Nguyễn Viết Lãm, Phạm Hổ, nhà văn xuôi Nguyễn Thành Long mà tôi cho có nhiều chất thơ và chất trữ tình hiện thực của Bình Định, của miền Trung v.v... cũng đều là người của trương Quy Nhơn và của các năm tháng sôi động ấy ở đất nước mình”. Không phải ngẫu nhiên mà Quy Nhơn được mệnh danh là “Thành phố thi ca”, Bình Định được gọi là “đất võ, trời văn”!

Gần một thế kỉ trôi qua, nếu như nhà văn Võ Hồng còn sống, và ông lại có dịp đến Quy Nhơn hôm nay, chắc chắn nhà văn sẽ ngạc nhiên trước sự thay đổi ngoạn mục của vùng “đất võ, trời văn” Quy Nhơn - Bình Định mà ông đã một thời trọ học. Nhưng cũng chắc chắn một điều là, dù “vật đổi sao dời” gì đi chăng nữa, tấm chân tình mà nhà văn dành cho Quy Nhơn vẫn không hề đổi thay: thân thương và trong trẻo! Đó là bởi giữa Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa có mối dây ràng buộc từ xa xưa:

“Anh về Bình Định thăm cha
Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em”

Kỉ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Võ Hồng (1921-2021)
Quy Nhơn, tháng 11-2021


Tài liệu tham khảo:

Đinh Khánh Toàn, Tìm về phố cổ Quy Nhơn trong lịch sử, Tạp chí Văn hóa Bình Định số 47/2010.

Giao Hưởng, Võ Hồng, một đời người, một đời văn, Báo Thanh Niên online, ngày28-11- 2003.https://thanhnien.vn/vo-hong-mot-doi-nguoi-mot-doi-van-post161615.html

Huy Cận, Hồi kí song đôi, Tuổi nhỏ Huy Cận- Xuân Diệu, Nxb Hội Nhà văn, 2002, trang

Huy Cận, Hồi kí song đôi, Tuổi nhỏ Huy Cận- Xuân Diệu, Nxb Hội Nhà văn, 2002, trang

Nguyễn Nam Anh, Trả lời phỏng vấn, Tạp chí Văn số 299 ra ngày 1/9/1972.

Nguyễn Thu Trang, Võ Hồng với quê hương, Báo Phú Yên online, truy cập 26/3/2013,

https://baophuyen.vn/93/93758/vo-hong-va-tinh-yeu-que-huong.html

Nguyễn Thanh Quang, Từ khảo sát nghiên cứu cảng Quy Nhơn năm 1930 của người Pháp: Nhìn lại vị trí, vai trò cảng Quy Nhơn xưa và cảng Quy Nhơn hôm nay, Tạp chí Văn hóa Bình Định, số 65/2017;

Nguyễn Thanh Quang, Hành trình các đô thị cổ Quy Nhơn, Tạp chí Văn hóa Bình Định, số 53/ 2013

Nguyễn Xuân Sanh, Mấy trang hồi tưởng, Tạp chí Văn hóa Bình Định, số 12/1998.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...