Lý Sơn là tên của huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Với người Lý Sơn, đây là hai tiếng gọi thân thương. Nhưng Lý Sơn bắt nguồn từ đâu và có nghĩa là gì thì không phải ai cũng nắm rõ. Bài viết sẽ giải thích một cách cụ thể.
Trước hết, “Lý Sơn” là
cách viết bằng Hán văn của địa danh Nôm “Cù lao Ré”. Ở nước ta, địa danh Nôm được
“phiên” ra chữ Hán nên vừa có tên Nôm vừa có tên chữ (Hán Việt) có số lượng rất
nhiều, trong đó Lý Sơn là một.
Lý
Sơn có
thể hiểu là “đảo Lý”, “hòn Lý”. Trong các thư tịch chữ Hán, “đảo”, “hòn”, “cù
lao” thường được viết bằng chữ Hán “sơn”, “phong” [nghĩa là “núi”], bên cạnh từ
“đảo”. Chẳng hạn, Hòn Khói ở Khánh Hòa được viết thành Vân Phong, Côn Đảo ở Bà Rịa - Vũng Tàu cũng được viết là Côn Sơn.
Vậy Lý trong đảo Lý có nghĩa là gì? Thật ra, Lý trong Lý Sơn không nghĩa. Nói
đúng hơn, có rất nhiều chữ Hán “Lý” khác nhau (khác tự dạng) được dùng để ghi
cho địa danh Lý Sơn.
Có hiện tượng này là do
Lý đơn thuần chỉ là cách phiên âm chữ
Nôm “Ré” (vì trong tiếng Hán không có chữ “ré”). Điều này cũng tương tự địa
danh Nước Re (ở miền Tây Quảng Ngãi) được
ghi bằng chữ Hán Ly Thủy (thủy: nước).
Nhưng vì sao khi phiên
âm Nôm ré ra Hán người xưa lại chọn
chữ Lý mà không chọn chữ khác? Là bởi,
lý là âm gần với ré nhất. Về hai vần –i và –e, đây là hai vần có quan hệ ngữ âm gần
gũi, cho nên người xưa lấy chữ Hán mĩ để
viết cho chữ Nôm mẹ, lấy tri viết cho tre, lý viết cho ré, ly
viết cho re… Mối quan hệ giữa hai
phụ âm l- và r- cũng tương tự. Cho nên, trong chữ Nôm, hầu hết các chữ Nôm có
phụ âm r- (rồng, ra, răng…) được mượn chữ Hán có phụ âm l- (long, la, lăng…) để
viết.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét