Năm 1899, thị xã Quy Nhơn được thành lập. Quy Nhơn trở thành đô thị phát triển theo hướng hiện đại. Các văn bản, sử sách của triều Nguyễn không ghi chép về đô thị Quy Nhơn ở thế kỷ XIX, chỉ nói tới Thi Nại (Thị Nại) và các phố ở Thị Nại. Vậy trước năm 1899, Quy Nhơn có phải là đô thị không?
Nó được biểu hiện như thế nào? Có đặc trưng và vai trò gì nổi bật? Đó là những câu hỏi cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung, làm sáng tỏ. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả mạnh dạn rút ra những đặc điểm, vai trò của đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX, thông qua đó góp phần nhận diện sâu sắc hơn về đô thị này trong tiến trình lịch sử.
1. Có một đô thị Quy Nhơn ở nửa đầu thế kỷ XIX
Mặc dù các văn bản triều Nguyễn không đề cập đến đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX, nhưng từ cuối thế kỷ XVIII người phương Tây đã gọi Quy Nhơn là đô thị. John Barrow khẳng định: Trong phân khu “Chang”, ở vĩ độ Bắc 13°50’, có vịnh31 và cảng “Chin-cheu”32. Cảng này rất rộng và hoàn toàn có thể chắn mọi hướng gió, nhưng những tàu lớn thì có thể vào được trong cảng lúc nước triều dâng cao, bởi vì có một giải cát chắn ngang lạch nước hẹp, là lối đi giữa cảng và vịnh ở bên ngoài. Ở đầu cảng biển này là đô thị Quy Nhơn (Quin-nong) (Nguyên văn tiếng Anh: At the head of this harbour is situated the city of Quin-nong)33.
Dựa trên kết quả khảo sát, biểu hiện về kinh tế thương mại và tấm bia công đức chùa Quan Thánh Đế quân (chùa Ông Nhiêu), giới nghiên cứu đã xác định: muộn nhất vào năm 1837, Quy Nhơn đã phát triển thành một đô thị của người Việt, mà vị thị trưởng là Trần Đức Hiệp34. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng, kể từ thời điểm này, Quy Nhơn ở thế kỷ XIX được các học giả quan tâm nghiên cứu dưới góc độ là một đô thị.
2. Đặc điểm của đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX
Thứ nhất, Quy Nhơn thế kỷ XIX là đô thị cổ, mang đậm đặc trưng của một đô thị thương mại.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều thừa nhận, những đô thị tồn tại ở Việt Nam từ thế kỷ XIX trở về trước đều gọi chung là đô thị cổ. Việc nhận diện đô thị cổ không dễ dàng, bởi những tiêu chí mang tính chất ước lược. Giáo sư Văn Tạo đưa ra 2 tiêu chí để nhận diện đô thị cổ: Một là, “đô thị” là địa điểm có tính chất và chức năng hoạt động kinh tế phi nông nghiệp là chủ yếu. Hai là, có vai trò và nhiệm vụ hành chính- chính trị của một vùng, một trung tâm quan trọng, hay của cả nước 35. Theo đó “đô thị” gồm “đô” và “thị”. “Đô” là yếu tố hành chính-chính trị như: đô, thành, trấn, dinh… “Thị” là hoạt động thương nghiệp, buôn bán như: chợ, phố, cảng, hoạt động trao đổi…nhưng ở mức độ cao hơn “thị tứ”; “thị” có thể hiểu rộng hơn, bao gồm các hoạt kinh tế phi nông nghiệp. Hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Một tụ điểm buôn bán lớn thiếu một trong 2 yếu tố này, không thể xem là đô thị.
Đặc trưng nổi bật của phần lớn đô thị ở Việt Nam là do nhà nước phong kiến lập nên. Vì vậy chức năng hành chính là chức năng chủ yếu của đô thị, trong đô thị thường có “bộ phận quản lý” và “bộ phận kinh tế” (buôn bán), thông thường “bộ phận quản lý” có trước rồi “bộ phận kinh tế” mới hình thành. Thậm chí một số đô thị “bộ phận quản lý” hình thành rồi, mà “bộ phận kinh tế” không phát triển được, hoặc yếu ớt như Hoa Lư của Nhà Đinh, Tây Đô của nhà Hồ, Hoàng Đế của Tây Sơn... Trái lại đô thị cổ phương Tây thực hiện chức năng kinh tế là chủ yếu. Về mặt quản lý, đô thị Việt Nam đều do nhà nước quản lý. Khác với nhiều đô thị cổ ở phương Tây do tổ chức tự trị quản lý.
Xét về chức năng hành chính của đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX không đậm nét như nhiều đô thị khác cùng thời. Về bộ máy quản lý đô thị Quy Nhơn, sử liệu hiện còn cho biết thông qua tấm bia phát hiện được đền Quan Thánh đế năm 1837, trong đó đề cập đến phố trưởng Trần Đức Hiệp, cai trưởng Ngô Văn Phóng. Trần Đức Hiệp là người đứng đầu trong bộ máy chính quyền của đô thị Quy Nhơn. Một số nhà nghiên cứu gọi là “thị trưởng là Trần Đức Hiệp”36. Bộ máy hành chính này quản lý đô thị về mọi mặt. “Bộ phận quản lý” này hình thành muộn hơn so với “bộ phận kinh tế”.
Sau khi lập vương triều Nguyễn, trung tâm hành chính của tỉnh Bình Định đặt tại thành Hoàng Đế (cũng gọi là thành Bình Định, nay thuộc xã Nhơn Hậu và phường Đập Đá, thị xã An Nhơn), năm 1808, trung tâm hành chính của tỉnh Bình Định chuyển về đặt tại thành Bình Định (nay thuộc phường Bình Định, thị xã An Nhơn). Ở Quy Nhơn chính quyền phong kiến không xây dựng thành quách. Như vậy, đô thị Quy Nhơn ở thế kỷ XIX, chưa bao giờ đóng vai trò là trung tâm hành chính của tỉnh Bình Định. Phải chăng do chức năng hành chính không đậm nét như các đô thị cùng thời, lại không có thành quách mà trong tác phẩm “Lịch sử đô thị Việt Nam: từ nước Văn Lang đến ngày nay” 37, khi nói tới đô thị ở Bình Định thời Tây Sơn và thời Nguyễn, tác giả Đoàn Khắc Tình, chỉ liệt kê thành Hoàng Đế và thành Bình Định mà không đề cập đến đô thị Quy Nhơn.
Yếu tố góp phần quan trọng đưa đến sự hình thành và phát triển của đô thị Quy Nhơn hoạt động thương mại. Thương mại là đặc điểm nổi bật của đô thị Quy Nhơn ở thế kỷ XIX. Hoạt động thương mại của đô thị Quy Nhơn thể hiện rõ nét qua hệ thống các chợ, các khu phố, bến cảng, hoạt động trao đổi hàng hóa.
Về chợ, đô thị Quy Nhơn và vùng phụ cận lúc bấy giờ có 07 chợ: Giã, chợ Thị Nại, chợ Dinh, chợ Ma, chợ Cháo, chợ Xổm, chợ Tháp Đôi, trong đó chợ Giã và chợ Thị Nại là 2 chợ lớn nhất. Về phố, Quy Nhơn đã trở thành một đô thị sầm uất với nhiều dãy phố ngang dọc. Trong “Châu bản triều Nguyễn” ghi về việc báo cáo việc mua quả thông đại hải (quả ươi) ở Bình Định vào năm 1841 có chép về khu phố ở đây như sau: “Thứ trái cây ấy có khi có trái, có khi 6-7 năm không có, mua không được nhiều, các phố không ai trữ lại”38. Theo kết quả khảo sát của Đỗ Bang: Hai tuyến đường Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo ngày này là hai dãy phố chính theo trục Đông - Tây của đô thị Quy Nhơn, nơi tập trung nhiều cửa hàng, hội quán. Cắt theo hình bàn cờ là các dãy phố tương ứng với các đường Nguyễn Văn Bé, Lê Lợi (giới hạn phía Đông), Trần Cao Vân, Ngô Thì Nhiệm, Đào Duy Từ, Mai Xuân Thưởng, Phan Đình Phùng (giới hạn phía Tây) ngày nay 39. Góp phần đưa đến sự nhộn nhịp của các chợ, khu phố là hệ thống các bến cảng ven bờ đầm Thị Nại. Bên cạnh bến Giả, bến Vạn ở Cẩm Thượng, nổi bật lên là bến cảng Thị Nại.
Thông qua chợ, phố, bến cảng, hoạt động trao đổi hàng hóa Quy Nhơn thế kỷ XIX diễn ra khá sôi động. Điểm nổi bật trong hoạt động thương mại của Quy Nhơn thế kỷ XIX là quan hệ buôn bán với nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Thái Lan, Singapo, Pháp và một số nước phương Tây… Trong đó nhộn nhịp nhất là hoạt động giao thương với thương nhân Trung Hoa. Với hoạt động thương mại nổi bật, Quy Nhơn ở thế kỷ XIX là đô thị thương mại, đô thị cảng.
So với nhiều đô thị khác cùng thời, chức năng hành chính, chính trị của đô thị Quy Nhơn khá mờ nhạt, trái lại chức năng và hoạt động thương mại là đặc trưng nổi bật của đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX. Vì vậy, một số nhà nghiên cứu gọi đô thị cổ Quy Nhơn là đô thị thương mại.
Thứ hai, thế kỷ XIX đô thị Quy Nhơn đã có quá trình chuyển đổi từ đô thị cổ sang “bước đầu” của đô thị hiện đại.
Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra dụ thành lập thị xã Quy Nhơn gồm 2 làng Chánh Thành và Cẩm Thượng. Ngày 30/8/1899, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ra nghị định chuẩn y đạo dụ này. Năm 1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định quy định ranh giới, ấn định ngân sách và các nguồn thu cho thị xã Quy Nhơn. Quy Nhơn trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Bình Định. Với sự kiện này, Quy Nhơn trở thành một đô thị theo kiểu hiện đại, đặt dưới sự chi phối, quản lý của thực dân Pháp.
Từ trước đó, trong quá trình xâm lược Việt Nam, đô thị Quy Nhơn nằm trong “tầm ngắm” của thực dân Pháp. Với Hiệp ước Giáp Tuất (năm 1874), triều đình Nguyễn cam kết mở cửa Thị Nại (Quy Nhơn), của Ninh Hải (Hải Phòng), tỉnh lỵ Hà Nội và sông Hồng... cho người ngoại quốc vào buôn bán40.
Năm 1876, Lãnh sự nước Pháp đến Quy Nhơn, mở việc buôn bán, đặt sở Thương chính để thu thuế, chính thức thông thương buôn bán ở cửa Thị Nại. Do phải dồn lực thực hiện âm mưu xâm chiếm toàn bộ Việt Nam, nên từ năm 1876 đến năm 1884, thực dân Pháp chưa đóng quân, bố trí nhân sự phụ trách thu thuế. Việc thu thuế vẫn do chính quyền triều Nguyễn đảm nhận. Năm 1884, sau khi đã hoàn thành xâm lược Việt Nam, Lãnh sự Pháp là Na-viên tới đóng ở sở Thương chính cửa biển Thị Nại để làm việc, thu nhận toàn bộ số thuế mà chính quyền nhà Nguyễn đã thu từ năm 1876 đến năm 1884.
Từ năm 1884 đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở Quy Nhơn. Năm 1892, Pháp đã xây xong tòa công sứ ở Quy Nhơn. “Các đường phố đã có đèn đường tháp sáng, tàu bè ra vào tấp nập nhờ hướng dẫn của hải đăng ở Cù Lao Xanh và Thị Nại, cùng với hệ thống bến cảng, cầu tàu được xây dựng kiên cố và an toàn. Vào cuối thế kỷ XIX, cảng Quy Nhơn đã hoàn chỉnh, chỉ thiếu dịch vụ dẫn tàu nhưng chưa phải cần thiết lắm”41.
Sự can thiệp của thực dân Pháp làm cho tính chất của đô thị Quy Nhơn dần có sự thay đổi. Về quản lý đô thị, Quy Nhơn trước đây do triều Nguyễn quản lý, nay đặt dưới sự chi phối, quản lý của thực dân Pháp. Một trong những hoạt động quản lý quan trọng nhất của triều Nguyễn ở đô thị Quy Nhơn là chính sách thuế khóa, nay do thực dân Pháp đảm nhiệm. Trước đây chỉ có tàu buôn Trung Quốc và các nước phương đông mới được tới Quy Nhơn buôn bán, nay Pháp buộc triều Nguyễn mở cửa thông thương với tất cả các nước, với điều kiện được Pháp cấp giấy thông hành.
Về hoạt động thương mại, lực lượng thương nhân, cơ cấu xã hội của đô thị Quy Nhơn có sự thay đổi. Trong đó đáng kể nhất là sự có mặt của người Pháp bao gồm: viên chức, lực lượng quân đội, thương nhân. Những năm cuối thế kỷ XIX, các công thự, nhà máy, xí nghiệp, khách sạn được xây dựng ngày càng nhiều, chủ yếu là các xí nghiệp của Pháp và người Hoa. Các hoạt động dịch vụ, giải trí cũng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu cho khách Tây.
Như vậy, dưới chính sách của thực dân Pháp, Đô thị Quy Nhơn đã có sự thay đổi: đường sá, cầu cống, bến cảng, nhà ở, dinh thự, xí nghiệp, nhà máy bắt đầu thay đổi theo hướng hiện đại theo kiểu phương Tây. Đô thị cổ Quy Nhơn đang trên bước đường chuyển sang đô thị hiện đại theo kiểu phương Tây, đánh dấu bước thay đổi mới trong quá trình đô thị hóa của vùng đất Quy Nhơn.
Thứ ba, quá trình hình thành và phát triển của đô thị Quy Nhơn gắn chặt với những đóng góp tích cực của người Hoa, người Hoa có vai trò nổi bật trong hoạt động kinh tế- xã hội của đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX.
Đô thị Quy Nhơn là đô thị của người Việt, do chính quyền phong kiến lập nên. Người Việt là lực lượng cơ bản góp phần đưa đến sự hình thành, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của đô thị Quy Nhơn. Bên cạnh vai trò của người Việt, người Hoa có vai trò quan trọng. Người Hoa ở Quy Nhơn thế kỷ XIX có thể chia thành 2 bộ phận: bộ phận người Hoa từ Trung Quốc (thương nhân Trung Quốc) và các địa phương khác đến buôn bán trong thời gian nhất định và bộ phận người cư trú ở Quy Nhơn.
Ở thế kỷ XIX, thương nhân Trung Quốc tới đô thị Quy Nhơn buôn bán chiếm số lượng nhiều nhất, họ lũng đoạn toàn bộ hoạt động buôn bán của đô thị Quy Nhơn với bên ngoài. Nếu thực hiện phép so sánh với các địa phương khác trong ở trong nước, thì Bình Định (Quy Nhơn) là một trong những tỉnh mà thuyền buôn Trung Quốc tới buôn bán nhiều nhất. Theo thống kê 14 tập trong tổng số 122 tập “Châu bản triều Nguyễn” của Nguyễn Thị Lệ Hiền, thì Bình Định và Gia Định là hai tỉnh có thuyền Trung Quốc đến buôn bán nhiều nhất cả nước42. Từ sau năm 1884, do sự can thiệp của Pháp, người Pháp, người nước ngoài đến Quy Nhơn ngày một đông, thương nghiệp của Quy Nhơn ngày càng nhộn nhịp, nhưng thương nhân Trung Quốc vẫn giữ vai trò là lực lượng thương nhân quan trọng trong hoạt động thương mại của đô thị Quy Nhơn trong những năm cuối thế kỷ XIX.
Do có thế lực lớn, khi tới Quy Nhơn, ngoài những mặt hàng thông thường, thương nhân Trung Quốc còn buôn bán những mặt hàng phi pháp như gạo, thuốc phiện. Thậm chí, thương nhân Trung Quốc kết hợp, giúp đỡ thương nhân phương Tây thâm nhập thị trường Quy Nhơn.
Người Hoa cư trú ở Quy Nhơn chia làm hai nhóm: nhóm người Minh hương di chuyển từ Nước Mặn lên và con cháu của họ; nhóm người Hoa mới nhập cư ở thế kỷ XIX. Người Hoa nhập cư vào Quy Nhơn theo hai con đường. Thông qua con đường buôn bán, thương nhân Trung Quốc khi tới Quy Nhơn giao thương, họ thấy được ưu thế, lợi ích thương mại của Quy Nhơn, xin nhập cư và ở lại buôn bán lâu dài. Tư liệu hiện còn cho thấy, thế kỷ XIX một bộ phận người Hoa tiếp tục di cư tới Bình Định (Quy Nhơn). Nhà Nguyễn cho phép người Hoa tới Bình Định định cư vào năm Gia Long thứ 13 (1814): “vua chuẩn lời tâu cho trấn thần Bình Định nhận người Hoa từ hai tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến phiêu lưu tới, cứ vài 30 người trở lên thì lập làm nhóm “Đại Minh”43. Sử liệu không cho biết cụ thể số lượng người Hoa cư trú ở Quy Nhơn, nhưng có thể ước lược con số không ít. Bên cạnh người Minh hương, giữa thế kỷ XIX, Bình Định có 07 bang người Hoa. Quy Nhơn và An Thái là 2 địa phương có cộng đồng người Hoa cư trú đông đảo nhất Bình Định lúc bấy giờ.
Khi đến Quy Nhơn cư trú, người Hoa mở tiệm buôn, lập phố đưa đến sự phồn thịnh cho các hoạt động thương nghiệp ở đây. Các phố tương ứng với các đường Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Ngô Thời Nhiệm ngày nay trở thành khu phố sầm uất, tập trung các cửa hàng, cửa hiệu của cả người Hoa và người Việt.
Người Hoa ở Quy Nhơn còn xây dựng cho mình tổ chức kinh tế quen thuộc là Hội quán. Những tư liệu hiện còn cho phép xác định, thế kỷ XIX, ít nhất người Hoa đã xây dựng 5 Hội quán ở Quy Nhơn: Hải Nam hội quán (Quỳnh Phủ hội quán), Triều Châu hội quán, Quảng Đông hội quán, Phúc Kiến hội quán, Ngũ Bang hội quán. Hội Quán là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, đồng thời còn là kho chứa hàng, điểm trung chuyển hàng hóa, điểm bán hàng.
Người Hoa ở Quy Nhơn còn có những lái buôn lưu động, những người chuyên chở hàng hóa. Họ mang hàng đi các nơi khác để trao đổi kiếm lời và mua hàng về. Khi đô thị Quy Nhơn hình thành (thế kỷ XIX), nhiều cửa hàng, cửa hiệu của người Hoa mọc lên, trước nhu cầu thu gom và vận chuyển hàng hóa, nhiệm vụ, công việc của những người Hoa chuyên chở hàng hóa này càng rõ nét hơn: “Nhiệm vụ của những thương lái này là chuyển hàng hóa theo hợp đồng cho các cửa hiệu, công ty. Khi tàu đến cảng Thị Nại, các “chủ chiệt” lập tức thông báo cho các cửa hiệu huy động nhân công bốc dỡ hàng hóa và vận chuyển xuống tàu cho kịp xuất phát”44.
Người Hoa là một trong những lực lượng quan trọng góp phần đưa đến sự hình thành của đô thị Quy Nhơn, thông qua hoạt động thương mại của mình, người Hoa còn góp phần đẩy nhanh sự phát triển và phồn thịnh cho đô thị Quy Nhơn. Người Hoa còn mang đến nhiều giá trị văn hóa, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của cư dân Quy Nhơn và Bình Định lúc bấy giờ.
- Thứ tư, đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX là kết quả, biểu hiện cao nhất cho quá trình đô thị hóa liên tục ở Bình Định (thế kỷ XVI-XIX)
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam thừa nhận, trong thời kỳ trung đại Việt Nam, thị tứ được xem là một dạng thức của quá trình đô thị hóa, là thời kỳ đầu cho quá trình đô thị hoá. Với quan điểm này, có thể thấy từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, trên vùng đất Bình Định đã diễn ra quá trình đô thị hóa. Sớm nhất phải kể đến thị tứ- thương cảng Nước Mặn, hình vào thế kỷ XVI. Xét trong khía cạnh đô thị hóa ở Bình Định thời kỳ Trung đại Việt Nam, thương cảng Nước Mặn đóng vai trò tiên phong, mở đầu cho quá trình đô thị hóa. Trong thời kỳ phồn thịnh (thế kỷ XVII), Nước Mặn là trung tâm của quá trình đô thị hóa trên vùng đất Bình Định. Với vai trò là trung tâm buôn bán bậc nhất, thương cảng chính của Quy Nhơn, là “cửa sổ” mang tính “đầu tàu”, Nước Mặn góp phần kích thích, đẩy nhanh, nuôi dưỡng, quá trình đô thị hóa ở đây. Các thị tứ lần lượt hình thành như Gò Bồi, Đập Đá, Gò Găng, An Thái… không chỉ để đáp ứng, trao đổi hàng hóa trong nội địa, mà còn thỏa mãn yêu cầu của Nước Mặn, đồng thời tiếp nối, kế thừa “sức sống” của Nước Mặn trước khi trung tâm thương nghiệp này lụi tàn.
Hoạt động thương nghiệp ở Nước Mặn tương đối phát triển. Chợ, khu phố và cảng ở đây có quy mô khá lớn. Ngoài các đường buôn đến Hội An, Cam Ranh, Gia Định… có thể có thuyền buôn nước ngoài đến buôn bán. Điều đó cho thấy tuy không thể so sánh với Hội An… nhưng phần “thị” của Nước Mặn đã vươn tới tầm khu vực. Trong khi đó Nước Mặn lại thiếu mất phần “đô”- một yếu tố quan trọng để hình thành nên “đô thị”. Vì vậy, thương cảng Nước Mặn không thể phát triển thành đô thị. Những thay đổi của tự nhiên và tác động của tình hình xã hội đã làm cho Nước Mặn suy yếu và lụi tàn.
Giữa lúc phong trào Tây Sơn đang bùng nổ mạnh mẽ, nhưng nhu cầu trao đổi hàng hóa ở Quy Nhơn vẫn đặt ra bức thiết. Thị tứ Gò Bồi ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó. Gò Bồi tuy không thể sánh với Nước Mặn, nhưng là biểu hiện quan trọng nhất của quá trình đô thị hóa “liên tục” ở Bình Định. Đầu thế kỷ XIX, chiến tranh chấm dứt, thương nghiệp Bình Định được phục hồi, các thị tứ cũ có điều kiện phát triển, một số thị tứ mới hình thành, nhu cầu trao đổi hàng hóa với bên ngoài tăng lên. Gò Bồi ra đời thay cho Nước Mặn, nhưng vẫn không sao đáp ứng được yêu cầu khách quan của một thị trường nội địa với lượng hàng hoá dồi dào. Các thương nhân người Việt, người Hoa đã tụ họp về Quy Nhơn để buôn bán, thị tứ Quy Nhơn có điều kiện hình thành và phát triển, sau đó vươn lên trở thành đô thị sầm uất vào giữa thế kỷ XIX.
Đô thị là kết quả của quá trình đô thị hóa, đô thị Quy Nhơn hình thành nhờ điều kiện giao thông thuận lợi, ít nhiều lại có sự quan tâm, ưu ái của nhà nước, song đó chỉ là những yếu tố khách quan tác động thuận chiều. Đô thị Quy Nhơn là kết tinh của quá trình vận động, phát triển liên tục của nền kinh tế- xã hội Bình Định, trong đó thị tứ trở thành yếu tố góp phần quan trọng vào quá trình này. Thị tứ Quy Nhơn cùng với mạng lưới thị tứ ở Bình Định thời bấy giờ, đã chuẩn bị những điều kiện và tiền đề kinh tế- xã hội cần thiết cho sự hình thành của đô thị Quy Nhơn.
Như vậy, sự chuyển đổi từ Nước Mặn - Gò Bồi - Quy Nhơn là sự chuyển đổi mang tính liên tục. Đó là sự tiếp nối không chỉ về mặt thời gian mà cả về không gian nữa. Huyện Tuy Viễn (từ năm 1832 là huyện Tuy Viễn và Tuy Phước) thời bấy giờ trở thành nơi tập trung những hoạt động thương mại nhộn nhịp nhất của Bình Định. Đây có thể xem là biểu hiện cao nhất của quá trình đô thị hoá “liên tục”, “bền vững” và là biểu hiện đậm nét nhất về sự phát triển của nền thương nghiệp ở Bình Định từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX.
Thứ năm, trong hoạt động của đô thị Quy Nhơn giao thông đường thủy giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Đây vừa là đặc điểm, vừa là ưu thế của đô thị Quy Nhơn. Bình Định là vùng đất có ưu thế về giao thông đường Thủy. Từ sớm, ưu thế này đã được cư dân tận dụng để phát triển kinh tế và đi lại. Thương cảng Vijaya (thời Champa), thương cảng Nước Mặn (XVI-XVIII) đều hình thành và phát triển phần lớn dựa vào lợi thế của giao thông đường thủy, đô thị Quy Nhơn ở thến kỷ XIX cũng không ngoại lệ.
Quy Nhơn là đô thị cảng, ngoài vai trò của đầm và cửa Thị Nại, thì cảng Thị Nại là một trong những yếu tố quyết định cho sự hình thành và phát triển của đô thị Quy Nhơn. Đó là lý do mà thực dân Pháp, sau này là Mỹ và chính quyền tay sai, cho cải tạo, xây dựng, di dời cảng nhằm đảm cho cho hoạt động của đô thị cảng.
Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer ghé vào Quy Nhơn vào cuối thế kỷ XIX đã đánh giá về đầm và cảng Thị Nại như sau: Quy Nhơn có thể sẽ là một hải cảng. Một ngày nào đó những con tàu sẽ đậu ở đó, trong một vịnh rộng lớn khi thời tiết đẹp. Thành phố Quy Nhơn nằm giữa một vịnh biển lớn có nhiều tàu thuyền bỏ neo và một vũng đậu tàu tự nhiên khá rộng. Đáng tiếc là nó không sâu và những tàu thuyền có một mớn nước nhất định đã không thể cập bến45. Sau khi mở cửa Thị Nại, thực dân Pháp cho cải tạo cảng, đắp cầu đá để tàu thuyền neo đậu, trao đổi hàng hóa được dễ dàng và thuận lợi.
3.2. Vai trò của đô thị Quy Nhơn trong đời sống kinh tế- xã hội Bình Định thế kỷ XIX
- Trung tâm thương mại đầu tàu, đầu mối giao thông, điểm trung chuyển hàng hóa quan trọng của Bình Định và khu vực ở thế kỷ XIX
Không phải ngẫu nhiên, trong âm mưu và tiến trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, Pháp đã đặc biệt chú ý đến cửa Thị Nại. Trong hiệp ước Nhâm Tuất, thực dân Pháp đã đưa ra điều khoản yêu cầu triều đình Nguyễn mở cửa Thị Nại để tự do thông thương, tiến tới khống chế cửa biển này.
Keith W. Taylor khẳng định: Một tính chất quan trọng khác của Bình Định là vị trí của nó như một bến cuối của tuyến đường được di lại nhiều dọc cao nguyên trên thung lũng Mêkông, băng qua An Khê, Plây Ku và đến sông Mêkông ở Stung Treng, ở nơi mà hiện nay là phía bắc Campuchia, nơi nó nối kết với mạng lưới giao thương toả ra từ Ayudhaya/Bangkok. Thương mại di chuyển dọc tuyến đường này, nối Bình Định với những mối quan tâm buôn bán của người Xiêm. Các dân tộc vùng cao và người Việt tham gia vào hoạt động thương mại này, nhưng các cộng đồng người Hoa ở Ayudhaya/Bangkok và Quy Nhơn cung cấp vốn và những mối quan hệ để kích hoạt giao thương. Quy Nhơn trở thành trung tâm thương mại quan trọng tại đầu mối của một cảng biển lý tưởng, con đường phía tây qua núi, con đường phía Bắc đến Thuận Quảng và con đường phía nam đến đồng bằng sông Mêkông46.
Do tính chất quan trọng đó, từ nửa sau thế kỷ XVIII, cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn, cuộc tranh giành làm chủ vùng đất phủ Quy Nhơn giữa lực lượng Tây Sơn và Nguyễn Ánh, vì “được thèm muốn như một trung tâm thương mại có cảng và kết nối đường bộ với Bangkok”47. Như vậy, thực dân pháp thấy được vai trò quan trọng của cửa Thị Nại, nơi có đô thị Quy Nhơn phát triển, có đầm và cảng biển quan trọng, nơi kết nối các khu vực vùng miền, mà quan trọng hơn cả nơi kết nối với tuyến đường bộ lên khu vực Bắc Tây Nguyên, một khu vực nhiều có tiềm năng về kinh tế, nằm trong dự tính xâm lược của thực dân Pháp, khu vực mà từ giữa thế kỷ XIX, các giáo sỹ Thiên chúa giáo đã “mở đường” lên đây truyền đạo.
Thật vậy, ở thế kỷ XIX, cùng với đô thị Thăng Long- Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, thì Quy Nhơn được xếp vào đô thị lớn dưới triều Nguyễn, là một trong những trung tâm thương mại bậc nhất của khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Điểm nổi bật trong hoạt động thương mại của Quy Nhơn thế kỷ XIX có quan hệ buôn bán với nhiều nước trên thế giới. Với một đô thị có tầm ảnh hưởng lớn như vậy, trong khoảng thời gian này, Đô thị Quy Nhơn còn có mối quan hệ giao thương với nhiều địa phương khác ở Việt Nam như tỉnh Phú Yên, Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), tỉnh Gia Định, tỉnh Quảng Ngãi, Phú Xuân (tỉnh Thừa Thiên Huế)… Theo Paul Doumer, tỉnh Phú Yên là một tỉnh giàu có, một vài sản phẩm ở đây đã được xuất khẩu thông qua đô thị Quy Nhơn48. “Đây là thời kỳ tàu thuyền ra vào tấp nập cảng Quy Nhơn và lượng tàu thuyền từ Cảng Quy Nhơn đi Nha Trang, Sài Gòn… ngày một tăng”49.
Là cảng khẩu chính của Bình Định, đô thị Quy Nhơn trở thành nơi tập kết hàng hóa của nhiều địa phương trong tỉnh. Hàng hóa của nhiều nơi trong tỉnh được thương nhân người Việt hoặc người Hoa thu mua, rồi chuyển xuống Quy Nhơn bán lại cho Hoa thương. Các thị tứ, các chợ ở Bình Định vừa có mối quan hệ “hội tụ” và “giải tỏa” cho đô thị Quy Nhơn. Người Hoa ở đô thị Quy Nhơn xác lập được mối quan hệ buôn bán chặt chẽ với thương nhân ở Bồng Sơn, Tân Quan... “Dừa và các sản phẩm chế biến từ dừa được thương nhân ở đây đưa về Quy Nhơn bán lại cho người Hoa”50. Ngay cả các mặt hàng nộp cho nhà nước cũng được hội tụ ở Quy Nhơn để chuyển ra Phú Xuân. Ví như, năm 1805, dinh Bình Định được lệnh từ Công đồng: sau khi đốn xong gỗ phải đem xuống cửa Thị Nại (cửa Quy Nhơn), để chuyển về kinh51. Quan hệ thương mại giữa thương cảng Nước Mặn với An Khê và Bắc Tây Nguyên trước đây được thay thế bằng quan hệ thương mại giữa đô thị Quy Nhơn với An Khê và Bắc Tây Nguyên. Thông qua tuyến đường thương mại này, hàng hóa ở khu vực Bắc Tây Nguyên được chuyển xuống Quy Nhơn để trao đổi, buôn bán. Vì vậy, hàng hóa ở Quy Nhơn hết sức phong phú, nhất là các sản phẩm địa phương.
- Đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX là đô thị cảng, bao gồm thương cảng và quân cảng, “tấm lá chắn” quan trọng về an ninh, quốc phòng đối với Bình Định và đất nước.
Để bảo vệ và phòng thủ mặt biển, tại đô thị Quy Nhơn, chính quyền nhà Nguyễn lập ra Hải tấn Thị Nại. So với hải tấn các hải tấn khác ở Bình Định ( Kim Bồng, An Dụ, Đề Di), hải tấn Thị Nại giữ vai trò quan trọng nhất. Vì vậy các chức quan phụ trách, số lượng binh lính, trang bị vũ khí đều nhiều hơn so với các hải tấn khác. Tải hải tấn Thị Nại triều Nguyễn còn trang bị Kính thiên lý (ống nhòm), quy định chế cờ hiệu và treo cờ hiệu... Bên cạnh đó, tại tấn phận Thị Nại, năm 1840, Minh Mệnh cho xây Pháo đài Hổ cơ và bảo Thị Nạ: Cho lập một pháo đài ở xứ Hổ Cơ, gọi là pháo đài Hổ Cơ (Hổ Ki). Lại đặt 1 bảo đắp luỹ bằng đất ở Gò Cát đối ngạn với pháo đài, gọi là bảo Thị Nại để chống đỡ với nhau52. Tại pháo đài Hồ Cơ và bảo Thị Nại, Minh Mạng cho đặt đại bác, cắt cử tướng sĩ và binh lính phòng trú.
Năm 1865, để bảo vệ vùng biển Thị Nại trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp, vua Tự Đức cho đắp gò luỹ Vũng Tàu dài ba trượng, có bốn hầm pháo và gò luỹ Quỳnh Để dài ba trượng, có năm hầm pháo và xây dựng Sở Hải phòng Bình Định ở cửa biển Thị Nại53. Năm 1867, Tự Đức lại cho xây đắp thêm pháo đài và luỹ đá ở cửa biển Thị Nại54. Như vậy, nửa sau thế kỷ XIX, ở Hải tấn Thị Nại, bên cạnh Pháo đài, Bảo Thị Nại, còn có Sở Hải phòng và hệ thống đồn lũy: Bên phải Bảo Thị Nại có Kế Luỹ, bên trái có Trường Luỹ và luỹ Bán Nguyệt. Gần luỹ Bán Nguyệt có luỹ đất chắn ngang trước Thổ bảo, phía nam đến Ghềnh Lãng (Nay là Ghềnh Ráng) giáp chân núi thôn Xuân Vân, đều đặt pháo đài và binh lính đóng giữ. Tổng cộng có 8 đồn (sở, bảo) binh55. Theo ghi chép này, ở Tấn Thị Nại, dọc bờ biển từ Bảo Thị Nại về phía Nam, tức tương đương với bờ biển thuộc phường Hải Cảng, phường Trần Phú, phường Nguyễn Văn Cừ và phường Ghềnh Ráng (đều thuộc thành Phố Quy Nhơn ngày nay), nhà Nguyễn cho xây dựng các đoạn lũy hoặc đồn binh để phòng thủ.
Theo sách “Đại Nam thực lục”, đến năm 1891, Bình Định chỉ duy trì 03 hải tấn: Kim Bồng, An Dụ, Đề Di. “Riêng tấn Thị Nại đã bỏ từ trước” 56. Như vậy, khả năng năm 1884, khi Pháp đặt sở Thương chính cửa biển Thị Nại quản lý và thu thuế, thì Hải tấn Thị Nại cũng bị xóa bỏ. Sau khi đặt sở thương chính, Pháp mới cho đóng lực lượng quân đội ở đây. Vì vậy quân Pháp đóng ở cửa biển Thị Nại trở thành một trong những mục tiêu mà nghĩa quân Cần vương “nói phao lên tiến đánh”57.
Từ năm 1802 đến năm 1884, thông qua hải tấn Thị Nại, các đồn binh, vương triều Nguyễn đã thực hiện quản lý, bảo vệ đối với bờ biển và vùng biển Thị Nại, bao gồm quản lý hàng hóa, tàu thuyền, người qua lại các cửa biển cảng biển và đánh thuế hàng hóa, quản lý hoạt động tuần tra bờ biển, vùng biển, đánh đuổi cướp biển, đảm bảo an ninh vùng biển, bảo vệ chủ quyền vùng biển và đất liền, đảm bảo an toàn cho tàu thuyền ra vào cửa biển, cảng biển cũng như trên biển, thực hiện cứu nạn, cứu hộ...
- Thúc đẩy các yếu tố sản xuất phát triển, tác động tích cực tới lực lượng thương nhân người Việt, tâm lý của cư dân Bình Định.
Đô thị được hình thành trên cơ sở sự phát triển của kinh tế phi nông nghiệp, trong đó quan trọng nhất là kinh tế thương nghiệp. Bên cạnh đó kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp cũng có vai trò quan trọng đối với sự hình thành của đô thị, nó trực tiếp tạo ra các yếu tố thúc đẩy kinh tế phi nông nghiệp phát triển, thúc đẩy sự hình thành của đô thị. Khi đô thị hình thành, tác động trở lại các lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX được xem là động lực quan trọng kích thích sự phát triển các yếu tố nội tại của nền kinh tế Bình Định: từ cơ cấu, các loại ngành nghề, đến chủng loại sản phẩm, chất lượng hàng hoá…, nhiều ngành nghề, hoạt động kinh tế hình thành không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thu sản phẩm tại chỗ của đô thị, mà còn đáp ứng yêu cầu trao đổi với bên ngoài. Theo sử cũ, trong khoảng thời gian này, nhiều ngành nghề thủ công truyền thống hình thành, phát triển trên vùng đất Bình Định như: nghề chạm bạc, nghề đúc đồng… có ngành nghề gắn liền với sự có mặt của người Hoa như nghề chế biến thuốc Bắc, nhiều nghề gắn liền với nhu cầu thu mua hàng hóa của nhà nước, bán ra bên ngoài, như nghề khai thác sản vật (yến sào, trầm hương, sản vật rừng…), nghề khai khoáng…
Thông qua hoạt động thương mại của đô thị Quy Nhơn, các tầng lớp cư dân Quy Nhơn và Bình Định có dịp tiếp xúc, giao lưu với nhiều luồng thương mại. Trong họ dần hình thành tư tưởng mới, thái độ mới đối với nghề buôn. Đối với tầng lớp thương nhân người Việt, đây là dịp để học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm buôn bán của thương nhân người Hoa và các thương nhân từ các nơi khác đến, để rồi vươn lên trở thành thương nhân cỡ vừa, cỡ lớn… Thực tế cho thấy, cùng với quá trình phát triển của đô thị Quy Nhơn, lực lượng thương nhân người Việt ở Quy Nhơn đã dần vươn lên, trở thành một lực lượng thương nhân có vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại của đô thị.
- Cung ứng hàng hóa, tăng thu nhập cho chính quyền triều Nguyễn, nâng cao đời sống vật chất cho cư dân Bình Định.
Với vai trò là một trong những trung tâm hàng hóa của Bình Đinh và cả nước cả nước, có hoạt động nội thương và ngoại thương phát triển, hàng hóa phong phú, Đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX trở thành nơi cung ứng hàng hóa quan trọng cho nhà nước phong kiến như: tơ lụa, giấy, chè tàu, mỹ phẩm (ngân son), đồ sành sứ, vũ khí, hàn the, thạch tín. Theo “Châu bản triều Nguyễn” năm 1868, một lái buôn người Tàu đã chở Trọng pháo, đạn và thuốc súng đến bán cho quan quân Bình Định58. Về mặt địa lí, Quy Nhơn cách khá xa so với kinh thành Phú Xuân, nhưng do có nhiều thuyền buôn từ Trung Quốc đến buôn bán thường xuyên, hàng hóa phong phú. Do vậy, nhiều thuyền buôn được chính quyền phong kiến Nguyễn gửi đặt mua hàng hóa đến bán cho nhà nước. Việc mua ấm chén pha trà bằng sứ mà thương nhân Trung Quốc mang tới Quy Nhơn bán cho Triều đình Huế có thể xem là một minh chứng: “Tỉnh Bình Định tâu rằng có lời của bộ đặt mua chén trà, đồ trà nhưng không tốt lắm, chỉ có hạng hơi tốt như hiệu Tầm Nai, Du Phạt, Liễu Châu, nếu có trưng dụng thì Bộ báo gấp để mua số nhiều theo giá đã định”59.
Thông qua hoạt động thương mại, đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX đã đóng góp một nguồn thu đáng kể cho các chính quyền phong kiến, nhất là các nguồn thu từ chính sách thuế khóa. Theo thống kê chưa đầy đủ từ “Châu Bản triều Nguyễn”, tổng số tiền thuế mà 15 thuyền buôn Hoa thương khi cập cảng Thị Nại buôn bán vào nửa đầu thế kỷ XIX là hơn 22.924 quan.
Trong một mức độ xa hơn, nhờ hoạt động trao đổi hàng hóa của đô thị Quy Nhơn, sản phẩm của nền kinh tế Bình Định đã có dịp vươn xa hơn tới những vùng miền trong nước và một số nước lân cận. Vì vậy mà nhiều sản vật, hàng hóa có giá trị hơn, mang lại lợi nhuận cao hơn cho cư dân Bình Định. Nhiều ngành nghề mới hình thành, một số ngành phát triển hơn trước vừa giải quyết việc làm, vừa tăng thu nhập, góp phần đảm bảo đời sống vật chất cho người dân. Hàng nhập vào đa số là các mặt hàng xa xỉ phẩm, nhưng ít nhiều vẫn thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của một bộ phận nhân dân.
- Cửa ngõ giao lưu văn hóa Đông (Trung Quốc) - Tây (Pháp), góp phần làm phong phú nền văn hóa của Bình Định. Tiếp nối vai trò của Nước Mặn thế kỷ XVI-XVIII, đô thị Quy Nhơn thế kỷ XIX đóng vai trò là trung tâm giao lưu văn hóa quan trọng của tỉnh Bình Định, trong đó thể hiện đậm nét nhất là giao lưu, tiếp thu văn hóa người Hoa và người Pháp.
Khi người Hoa mới tới cư trú ở Quy Nhơn, họ sống phần nào có sự biệt lập, qua quá trình chung sống với người Việt, người Hoa dần Việt hoá. Sự dung hợp giữa cư dân địa phương với người Hoa ở Quy Nhơn thể hiện trên những phương diện từ ăn, ở, nhà cửa, tín ngưỡng, kinh doanh buôn bán… Chẳng hạn về tín ngưỡng cả người Việt và người Hoa đều thờ thần núi, thần sông, thần tài… Thể hiện đậm nét trong việc tiếp thu văn hóa người Hoa của người Việt ở Quy Nhơn là đời sống tín ngưỡng, mà đền Quan Thánh Đế quân là một ví dụ điển hình. Thờ Quan Thánh Đế quân có nguồn gốc từ Trung Quốc, nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người Hoa, cùng với quá trình giao lưu, tiếp xúc với người Hoa, Quan Thánh Đế quân cũng được người Việt ở Quy Nhơn nói riêng và Bình Định nói chung coi trọng, tôn thờ. Đền Quan Thánh Đế quân được xây dựng ở Quy Nhơn và năm 1837, góp công đức xây dựng chùa này có vai trò quan trọng của người Việt, trong đó có cả những quan chức cao cấp đứng đầu tỉnh Bình Định và đô thị Quy Nhơn lúc bấy giờ.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, việc góp công đức xây dựng đền Quan Thánh Đế quân chủ yếu là người Việt, thuyền hộ người Hoa chỉ chiếm tỷ lệ 8%60. Thực tế không phải như vậy, tấm bia ghi công đức của 141 đơn vị, cá nhân cúng đường với số tiền 415 quan. Trong đó 91,5% là thuyền hộ và 8,5% là các viên chức nhà nước và hiệu buôn. Hiệu buôn Phát Tài cúng 2 quan tiền, các xí nghiệp (nghiệp chủ) như Lê Văn Thu cúng 3 quan, Lê Văn Chẩn cúng 5 quan, quan Tổng Đốc Bộ đường cúng 100 quan, Cai trưởng Ngô Văn Phóng cúng 100 quan và là người chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng61.
Việc góp công sức của tổng đốc họ Vũ (tức Tổng đốc liên tỉnh Bình Định- Phú Yên: Vũ Xuân Cẩn), phố trưởng Trần Đức Hiệp... cho thấy mức độ ảnh hưởng và tầm quan trọng của tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế quân trong cư dân người Việt ở Quy Nhơn lúc bấy giờ. Đền Quan Thánh Đế quân ở Quy Nhơn trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng chung của cả người Hoa và người Việt, thường được người Việt gọi là chùa Ông Nhiêu và tồn tại cho đến ngày nay.
Những thập niên cuối của thế kỷ XIX, cư dân Quy Nhơn có dịp tiếp xúc với văn hóa phương Tây, bởi sự có mặt của quan chức, sĩ quan, binh lính, tư sản người Pháp. Thông qua đó, các cư dân Quy Nhơn có dịp tiếp xúc và hiểu biết sâu hơn về lối sống, cách ăn, tiếng nói của người phương Tây. Cư dân Quy Nhơn cũng tận mắt chứng kiến trình độ khoa học kỹ thuật, văn minh phương Tây thông qua các hoạt động xây dựng, cải tạo hệ thống giao thông, hải đăng, xây dựng dinh thự, đèn điện, thiết lập các xí nghiệp của thực dân Pháp. Những hoạt động của thực dân Pháp đã tác động sâu sắc, tạo nên những thay đổi trong đời sống văn hóa của cư dân Quy Nhơn lúc bấy giờ.
Tóm lại, thế kỷ XIX, các tầng lớp cư dân Quy Nhơn và Bình Định từng bước tiếp thu tinh hoa văn hoá Trung Hoa để làm giàu thêm cho nền văn hoá truyền thống. Còn sự tiếp xúc văn hoá phương Tây đã mở rộng tầm nhìn cho họ, tạo điều kiện để thu hút những nhân tố văn hoá mới, hiện đại của các nước phương Tây như tư duy khoa học, sản xuất kinh doanh…
Chú thích:
31 Tức đầm Thị Nại ngày nay.
32 Theo Chapman cảng này tọa lạc ở 13052’ vĩ tuyến Bắc. Trong khi đó tọa độ địa lý của Nước Mặn là 13054’ Bắc, cảng Thị Nại là 13046’ Bắc, như vậy tọa độ địa lý của 2 cảng này đều không trùng khớp với ghi chép của Chapman. Đối chiếu với nhiều nguồn tư liệu khác, cho phép đoán định, cảng “Chin-cheu” là cảng Thị Nại.
33 John Barrow, Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793), Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2018, tr.30.
34 Đỗ Bang, Sự thành lập đô thị Quy Nhơn qua một tấm bia mới phát hiện, Những phát hiện mới khảo cổ học, Viện khảo cổ học, năm 1986, tr.208-210.
35 Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam -Viện sử học, Đô thị cổ Việt Nam, Hà Nội, năm 1989, tr.23.
36 Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang…, Đô thị Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, năm 2000, tr.142.
37 Đoàn Khắc Tình, Lịch sử đô thị Việt Nam: từ nước Văn Lang đến ngày nay, Nxb Xây dựng, Hà Nội, năm 2020.
38 Châu bản triều Nguyễn, triều Thiệu Trị, Thiệu trị thứ 1, tập 6, tr.255.
39 Đỗ Bang, Nguyễn Tấn Hiểu, Lịch sử thành phố Quy Nhơn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, năm 2002, tr.114-115.
40 Võ Kim Cương (CB). Lich sử Việt Nam, tập 6: từ năm 1858 đến năm 1896, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2013, tr.174.
41 Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang…, Đô thị Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, năm 2000, tr.158.
42 Đỗ Bang, Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, năm 1997, tr.86.
43 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 3, Nxb Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, năm 2005, tr.187-188.
44 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định, Địa chí Bình Định tập thiên nhiên, dân cư và hành chính, Sở văn hóa thông tin Bình Định, năm 2005; tr.223.
45 Paul Doumer, Xứ Đông Dương, Lê Đình Tuân, Hoàng Long dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2018, tr.349.
46 KeithW.Taylor, Thuận Quảng và Bình Định trong cuộc xung đột vùng miền ở Việt Nam, Tạp chí Xưa & Nay, số 10 (270), năm 2006, tr.6-8.
47 KeithW.Taylor, Thuận Quảng và Bình Định trong cuộc xung đột vùng miền ở Việt Nam, Tạp chí Xưa & Nay, số 10 (270), năm 2006, tr.6-8.
48 Paul Doumer, Xứ Đông Dương, Lê Đình Tuân, Hoàng Long dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2018, tr.349.
49 Lược sử về sự hình thành và thành lập đô thị Quy Nhơn (1997), báo Bình Định, số ra các ngày 2 tháng 8, ngày 7/8, 12/8, 17/8, tr.6-9, tr.4-7, tr.6-9, tr.4-7.
50 Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang…, Đô thị Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, năm 2000, tr.147-148.
51 Châu bản triều Nguyễn, triều Gia Long, năm Gia Long thứ 4, tập 1, tr.5.
52 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 9, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2007, tr.151.
53 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí: tỉnh Bình Định, bản thời vua Duy Tân, Nguyễn Tạo dịch, Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, năm 1963, tr.59.
54 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 7, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2007, tr.1066.
55 Đồng Khánh địa dư chí, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin dịch, Viện nghiên cứu Hán nôm, Hà Nội, 2003; tr. 1542; tr.1568.
56 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Nxb Văn hóa Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, năm 2012, tr.138.
57 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 9, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2007, tr.151.
58 Châu bản triều Tự Đức 1848-1883 (tuyển chọn và lược thuật), Nxb Văn Học, Hà Nội, năm 2003, tr. 141.
59 Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, ngày 19 tháng 12 năm Minh Mạng thứ 19, tập 65, tr.107.
60 Đỗ Bang, Nguyễn Tấn Hiểu, Lịch sử thành phố Quy Nhơn, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, năm 2002, tr.108-109.
61 Nguyễn Thanh Quang, Chùa Ông Nhiêu - Hồi sinh một di tích, https://cuongde.org/; truy cập ngày 27/8/2023.
Nguyễn Công Thành
Trường Đại học Quy Nhơn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét