Thứ Ba, 23 tháng 4, 2024

Dạy học về La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp trong nhà trường Trung học phổ thông (TS. Nguyễn Thị Duyên - ThS. Nguyễn Thị Giang)

1. Mở đầu

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723- 1804) gắn liền với một giai đoạn lịch sử có nhiều biến động của chế độ phong kiến Việt Nam. Đó là thời đại chia cắt, cát cứ của các tập đoàn phong kiến và cũng là lúc xuất hiện người anh hùng áo vải Tây Sơn - Nguyễn Huệ. 

Trước bối cảnh đất nước rối loạn, Nguyễn Thiếp chọn cách lên núi ở ẩn. Nhưng với sự kiên trì, coi trọng người tài của Nguyễn Huệ, sau ba lần sai người thân tín mang thư, lễ vật lên núi cầu hiền, Nguyễn Thiếp đã chấp nhận lời mời cộng tác và đã có những đóng góp to lớn cho chính quyền vua Quang Trung và đất nước trong thời kì này.

Trong dạy học lịch sử, việc tạo biểu tượng về các danh nhân của đất nước, của địa phương có ý nghĩa lớn đối với học sinh. Lịch sử là do chính con người tạo nên, học về các danh nhân giúp học sinh ghi nhớ, củng cố kiến thức lịch sử nói chung và giúp hình thành thái độ, phẩm chất cho các em. Nếu được giảng dạy tốt về nhân vật La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ở các trường phổ thông, sẽ giúp học sinh hiểu được bối cảnh lịch sử, cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp. Từ đó, hình thành tình cảm ngưỡng mộ đối với danh nhân, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước; biết giữ gìn, trân quí các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể liên quan đến danh nhân...

Tuy nhiên, một thực trạng hiện nay là học sinh vẫn chưa có biểu tượng sâu sắc về La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Nguyên nhân là do thời lượng của môn học không nhiều, chỉ tập trung vào những nội dung cốt yếu, các biến cố của dân tộc qua các thời kì lịch sử. Vậy, cơ hội nào để giúp học sinh có thể tiếp cận, nghiên cứu thông tin về nhân vật lịch sử này? Đó là, trong các bài lịch sử nội khóa ở trên lớp, giáo viên có thể lồng ghép, liên hệ hoặc giao vấn đề cho học sinh tự học, tự nghiên cứu. Hai là, trong các giờ học ngoại khóa, giờ học có nội dung giáo dục địa phương tại địa bàn hai tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh, giáo viên có thể nghiên cứu các biện pháp sư phạm để tổ chức dạy học về nhân vật La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp - một danh nhân của xứ Nghệ gắn với thế kỉ XVIII, với vương triều Tây Sơn.

2. Một số biện pháp dạy học về nhân vật La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp

2.1. Xác định các nội dung lịch sử về nhân vật

2.1.1. Một số nét khái quát về cuộc đời của Nguyễn Thiếp

Giáo viên lịch sử phải giúp học sinh định hướng một số nét chính về nhân vật La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Nguyễn Thiếp sinh năm 1723 tại làng Mật thôn, xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông ham học từ nhỏ. Năm 1743, ông thi Hương ở Nghệ An đỗ thủ khoa nhưng không ở lại dự thi Hội. Năm 1748, ông ra Bắc dự thi Hội nhưng chỉ vào đến tam trường, sau đó ông vào Bố chính dạy học. Khi ông 33 tuổi, triều đình cử ông làm Huấn đạo ở Anh Đô (Anh Sơn, Nghệ An) rồi giữ chức Tri huyện Thanh Giang,  Thanh Chương, Nghệ An. Vào năm 1768, Nguyễn Thiếp từ chức, trở về lập trại Bùi Phong dưới chân núi Thiên Nhẫn(Nghệ An) để dạy học. Nguyễn Thiếp được chúa Trịnh Sâm mời ra kinh đô nhưng ông từ chối, không nhận bất cứ bổng lộc gì và tiếp tục ở ẩn ở núi cao rừng sâu cùng với công việc dạy học, nghiên cứu, tránh xa thế hỗn loạn giữa các tập đoàn phong kiến lúc bấy giờ.

Khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh và đã ba lần cử người thân tín cùng lễ vật mời ông ra giúp nhưng Nguyễn Thiếp đều thoái thác. Đến năm 1788, trên đường ra Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm, khi đến đất Nghệ An, Nguyễn Huệ đã cử Cẩn Tín hầu Nguyễn Quang Đại mang thư đến mời Nguyễn Thiếp đến hội kiến. Lời thư rất tha thiết, nên ông đành xuống núi nhưng vẫn chưa chịu ra giúp. Hai người rất tâm đầu ý hợp, bàn luận sôi nổi. Sau đó ông nhận lời giúp đỡ chính quyền của vua Quang Trung.

Ông mất vào năm 1804, thọ 81 tuổi, và được an táng tại Nam Kim, Nam Đàn. Lăng mộ của Nguyễn Thiếp được đặt ở vị trí phong thủy đẹp, nơi là quê hương thứ hai, nơi gắn bó với cuộc sống ẩn dật của một bậc tài danh sinh ra vào lúc đất nước chia cắt, chiến tranh loạn lạc. Lăng mộ Nguyễn Thiếp được Bộ Văn hoá xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1994.

2.1.2. Đóng góp của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp

Ngoài những đóng góp trên lĩnh vực văn học, lý học và phong thủy, trong dạy học lịch sử, giáo viên cần tạo được biểu tưọng cho học sinh về Nguyễn Thiếp trên các phương diện sau:

- Đóng góp về quân sự cho phong trào Tây Sơn: Tháng 10/1788 quân Thanh ồ ạt tấn công nước ta. Từ Phú Xuân, Nguyễn Huệ quyết định lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Quang Trung, hành quân thần tốc ra Bắc. Cuối tháng 11, khi đi qua và dừng chân ở Nghệ An, Quang Trung cho vời Nguyễn Thiếp để xin kế sách đánh giặc. Khi được hỏi ý kiến về tình hình quân giặc, Nguyễn Thiếp trả lời: "Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã, quân Thanh thì ở xa tới mà lòng bọn tướng soái thì huênh hoang tự đắc, chúng không cần biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, binh lương và trận chiến sẽ xảy ra như thế nào, còn quân lính thì phân vân không biết là sang đánh hay đến giữ theo sự khẩn khoản của vua Lê... Số quân của Hoàng đế kéo từ miền trong ra chưa đủ để chống đối với quân giặc, mà trở lại chiêu mộ thêm binh thì thời gian không cho phép. Vậy Hoàng đế phải tuyển mộ ngay quân lính ở đất Thanh Nghệ, vì nơi đây là đất thượng võ xưa nay, anh hùng nhiều, mà hào kiệt cũng nhiều".

Về chiến thuật đánh quân Thanh, Nguyễn Thiếp khẳng định: "Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được".

Diễn biến của trận quyết chiến với quân Thanh quả đúng như dự kiến thiên tài của vua Quang Trung cũng như nhận định chính xác của Nguyễn Thiếp.

- Về việc đóng đô: khi Quang Trung hối thúc ông chọn Phù Thạch là nơi trung tâm, kề cận núi sông đi lại thuận tiện, dễ dàng phòng thủ, trong thư phúc đáp, Nguyễn Thiếp lấy lí lẽ: “Chỗ đó chật hẹp kề núi kề sông, bờ sông lại hay sạt lở”. Nguyễn Huệ cũng do đó mà từ bỏ ý định lập đô ở Phù Thạch.

Sau đó, Quang Trung nhờ cụ đến xem đất xác định phương hướng, vẽ địa đồ ở địa điểm định đô mới. Nguyễn Thiếp đã chọn địa điểm đóng đô mới của Quang Trung là ở giữa núi Kì Lân (rú con Mèo) và núi Phượng Hoàng (tức núi Dũng Quyết).

- Đóng góp trên lĩnh vực giáo dục: Khi ông chọn núi Thiên Nhẫn làm nơi ở ẩn, ông đã xây dựng cơ sở dạy học ở trại Bùi Phong gần thành Lục Niên. “Học trò trong vùng theo học ông đều thấm thía đạo nghĩa ông rao giảng; họ đem về rao giảng lại cho làng xóm luồng gió lễ nghĩa lan khắp cả vùng” 1.

Sau khi đánh tan quân Thanh, Nguyễn Thiếp là một trong những học giả được vua Quang Trung tin cậy nhất, được giao việc xây dựng nền giáo dục của triều đại Tây Sơn. Năm 1789 ông được giao làm Đề điệu kiêm chánh chủ khảo trông coi kì thi ở Nghệ An. Về đạo làm vua, Nguyễn Thiếp cho rằng: Vua phải có đức, để lòng dân quy thuận và tổ chức việc giáo dục hiệu quả. Ông đề cao việc học “người không học không biết đạo”. Đạo là lẽ thường mà mọi người phải theo mà làm người. Việc học cũng cần có tính toàn diện, cả học văn và học võ.

Quang Trung theo lời cụ mà ban chiếu lập Sùng chính thư viện ở chỗ cụ ở ẩn và mời cụ làm viện trưởng. Cốt ý để cải cách sự học. Lại nhờ cụ tuyển thầy và khuyên dân theo chính học.

Việc cử Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng Sùng chính thư viện có ý nghĩa rất lớn, chuẩn bị cho cuộc cải cách nền giáo dục lúc bấy giờ của vua Quang Trung. Chữ Nôm được đưa vào chương trình học và thi. Các bộ kinh sách được chú giải, dịch sang chữ Nôm là nguồn tài liệu cho việc học hành, thi cử, tạo dựng nền giáo dục mới nhằm giáo hóa dân chúng. Tuy vậy, sự ra đi đột ngột khi tuổi đời còn trẻ của vua Quang Trung đã khiến những ấp ủ, hoài bão của vua cùng Phu tử chưa thành hiện thực. Nhưng rõ ràng, Nguyễn Thiếp là người nêu tư tưởng, thực thi những cải cách để định hình nền giáo dục mới dưới triều vua Quang Trung.
2.2. Phương pháp dạy học lịch sử nhằm tạo biểu tượng về nhân vật Nguyễn Thiếp

2.2.1. Nguồn tài liệu dạy học về danh nhân Nguyễn Thiếp

Để dạy học tốt về danh nhân La sơn phu tử, giáo viên và học sinh phải nghiên cứu, thiết kế học liệu. Nguồn học liệu gồm các hồ sơ di tích ở hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An liên quan đến Nguyễn Thiếp; tài liệu mạng Internet cần lưu ý một số công trình sau:

- Cuốn La Sơn phu tử của Hoàng Xuân Hãn (1952); NXB Minh Tân, 7 Rue Guénégaud, Paris VI; được tái bản nhiều lần. Hoàng Xuân Hãn là một giáo sư toán học, kỹ sư, nhà sử học, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa giáo dục Việt Nam. Ông là người soạn thảo và ban hành Chương trình Trung học Việt Nam đầu tiên, có nhiều công trình khoa học tầm cỡ. Hoàng Xuân Hãn được nhiều người trân trọng vinh danh một học giả lớn. Đây là công trình khảo cứu tỉ mì, công phu về La sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Cuốn sách được trình bày với 25 chương, trong đó có các chương như: Ẩn ở núi Thiên - nhận (chương X)2; Hội kiến với Chính bình vương (chương XIII); Xem đất làm đô ở Nghệ An (chương XIV); Giao thiệp với Quang Trung (chương XV); Hợp tác với Quang Trung (chương XVI); Sùng chính thư viện (chương XVII).... Trong cuốn sách này, có các giấy tờ giao thiệp giữa phu tử và người đương thời (các thư, chiếu, chỉ, truyền, biểu...); các hành trạng, tiểu sử của phu tử được hậu thế biên soạn; sách sử, kí sự chép về phu tử; hoặc chép về lịch sử đất nước có liên quan đến phu tử... các tư liệu thơ văn của Nguyễn Thiếp như tập Hạnh Am thi cảo...

- Cuốn “Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp - ba bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam của tác giả Trần Lê Sáng, NXB Giáo dục, 1990 đã trình bày những đóng góp lớn cho giáo dục nước nhà của La sơn phu tử. Trong cuốn sách còn ghi lại các truyền thuyết dân gian về Nguyễn Thiếp.

- Cuốn “Lịch sử xã Nam Kim” của tác giả Phạm Hồng Phong, NXB Nghệ An, 2003, bên cạnh cung cấp cho người đọc về mọi mặt trong đời sống của xã Nam Kim, từ điều kiện địa lí, bề dày lịch sử - văn hóa, đời sống vật chất, tinh thần... giúp học sinh hiểu hơn về quê hương thứ hai của Nguyễn Thiếp - nơi ông chọn để ở ẩn và cũng là nơi ông yên nghỉ.

2.2.2. Tăng cường sử dụng tư liệu gốc, tư liệu văn học…

Trong dạy học lịch sử, nhóm năng lực đầu tiên cần hình thành cho học sinh chính là các năng lực tìm hiểu lịch sử. Các em phải nhận diện, phân biệt các loại hình tư liệu; bước đầu biết khai thác và sử dụng tư liệu để học tập lịch sử. Tư liệu có các nguồn: hiện vật, truyền miệng, thành văn. Đối với đặc điểm học sinh, cần cho các em tiếp xúc với các tư liệu dạng đơn giản, cần tăng tính hấp dẫn của tư liệu để tạo hứng thú cho các em. Thế nên, giáo viên phải chọn lọc, có thể tự thiết kế các đoạn tư liệu dựa trên sự tổng hợp của các nguồn khác nhau hoặc hướng dẫn học sinh tìm kiếm, thiết kế để tạo nguồn học liệu.

Tư liệu lịch sử có thể được sử dụng để khắc họa nét chính về cuộc đời của nhân vật, hiện tượng lịch sử; để trình bày bối cảnh, diễn biến, kết quả của sự kiện, hiện tượng lịch sử hoặc nhận xét, nêu vai trò của nhân vật lịch sử. Từ tư liệu lịch sử, học sinh có thể suy ngẫm, tìm ra bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử hoặc vận dụng vào thực tế cuộc sống.

+ Để mời được Nguyễn Thiếp, Quang Trung đã sai người tìm đến cụ nhiều lần. Đoạn tư liệu sau trong tài liệu La sơn phu tử của Hoàng Xuân Hãn nói về lần thứ 3 như sau:

“Mời lần thứ ba. - Chính -bình -vương đọc thư trả lời, hiểu rằng cụ tuy sợ oai mình không giám kháng cự, nhưng ý là không chịu ra. Còn nói rằng để làm cố vấn dự bị, thì sao không làm cố vấn tức thì? Huệ không bằng lòng, nhưng càng thêm trọng cụ và muốn mời cụ ra cho kì được. Cho nên mười một ngày sau khi cụ viết thư trên, nghĩa là lập tức sau khi nhận được thư ấy ở Phú Xuân, Chính -bình -vương bảo viết thư cố nài cụ. Thư này dài hơn các thư trước. Vương lại sai quan Hình bộ thượng thư Thuyên quang hầu Hồ Công Thuyên mang tới núi”.3

Hoặc theo tư liệu trong đoạn thư lần thứ ba, nguyên bản còn được lưu giữ tại nhà thờ La sơn phu tử như sau: “An Nam đại nguyên súy, Tổng quốc Chính bình vương kính thư gửi để La sơn phu tử xét rõ: Ngày trước, lần thứ hai, sai sứ thần thay quả nhân tới đón mời Phu tử. Nay sứ về tâu rằng: Phu tử từ không ra, bởi vì già yếu. Quả đức buồn mà tự phàn nàn và tự ân hận khôn xiết. Nghĩ đi, nghĩ lại, những tăng lòng cảm thấy vận hội năm trăm năm trước, năm trăm năm sau sắp tới nơi. Nay thử xét ý Phu tử, thấy có ba lẽ nầy mà Phu tử không thèm ra chăng:

Anh em quả đức nguyên chỉ trơ trọi là một tụi ấp trưởng, nổi lên ở phương Tây. May mà đánh được tụi yếu và dứt được kẻ hèn, gây dựng lên nghiệp bá. Chưa ắt đã phải là bậc chân nhân. Ấy là một lẽ.

Từ lúc khởi binh đến nay, thân trải trăm trận, sùng chuộng võ uy. Chưa chắc đã khỏi làm việc bất nghĩa, giết kẻ vô tội để lấy được đất nước. Ấy là lẽ thứ hai.

Mời kẻ hiền, tuy là thành tâm sai sứ đến nhà, nhưng không chịu thân hành đến chào đón. Đối với các bậc xưa như kẻ chăm chắm ba lần tới đón, như kẻ thành cẩn ba lượt tìm mời thì khác xa. Ấy là lẽ thứ ba.

Vì ba lẽ ấy mà Phu tử không thèm đến. Thật là phải vậy.

Nhưng vì gánh lấy việc binh dân nặng nề, công việc xếp đặt rất bề bộn: sự làm đúng hay quan hệ không phải là nhỏ. Nên suốt ngày, quả đức không dám rời ra một bước. Đã không thể thân hành tới cửa Tiên sinh mà đón, quả đức rất lấy làm ân hận. Điều ấy không phải là dối, bày đặt ra đâu. Mong Phu tử, lấy đạo rộng lượng cho, thì may lắm. Vả chăng, quả đức sinh ở chỗ hẻo lánh, học ở sự nghe trông. Gặp thời thế này, bất đắc dĩ phải khởi binh. Những người giúp việc trong nhất thời đều là kẻ chiến đấu mạnh bạo. Trong lúc dùng quân không thể không xâm chiếm tàn phá. Đạo trị dân đại để có nhiều điều làm cứng cỏi và phiền nhiễu. Tuy là tội ở những người ấy, nhưng kì thật là vì giúp việc chưa ai. Ấy là tội quả đức chưa biết cầu hiền để giúp đỡ.

Kẻ danh thế thỉnh thoảng ra đời. Quả đức hằng nghĩ và mơ tưởng đến. Trong mười lăm năm đến bây giờ, chưa hề phút nào giám quên. Không ngờ nay, trông lên thành Lục niên có người tài đương ở đó. Ấy là trời để dành Phu tử cho quả đức vậy.

Tuy Phu tử không thèm tới, nhưng lòng dân đen trông ngóng, Phu tử nỡ lảng được sao? Lòng cầu hiền, quả đức há giám sinh bụng đầu siêng sau lảng đâu. Nay riêng sai quan Thượng thư bộ Hình, Thuyên quang hầu Hồ Công Thuyên kính cẩn mang thư lại đón. Mong Phu tử soi xét đến tấm lòng thành, vụt dậy mà đổi bụng; lấy lòng vì Nghêu -Thuấn quân dân ra mà dạy bảo, giúp đỡ. Quả đức xin im nghe lời dạy bảo, khiến cho Quả đức thỏa được lòng ao ước tìm thầy và đời nầy được nhờ khuôn phép của kẻ tiên giáo. Thế thì may lắm. Nay kính thư! Thái đức, năm thứ 10, tháng 9, ngày 13 (1787)”4.

Trong đoạn trích trên:

1/ Vì sao Quang Trung nói: “Vì ba lẽ ấy mà Phu tử không thèm đến. Thật là phải vậy!”, ba lí do Nguyễn Thiếp xin thoái thác hợp tác là gì?

2/ Đọc đoạn trích trên cho thấy Quang Trung là người như thế nào?

+ Tư liệu sau lấy từ bản sao của chiếu lập Sùng chính thư viện có nội dung: “Chiếu cho La sơn dật sĩ Nguyễn Thiếp được biết: Ông tuổi đức đều cao, tất cả

sĩ phu đều trông ngóng như núi Thái Sơn, sao Bắc đẩu. Nay trong nước đã yên. Trẫm toan hưng khởi chính học. Ông đã lấy học thuật biện rõ bên tà bên chính trong phép học; Trẫm rất vui lòng.

Từ rày, phàm trong các viên tư nghiệp, đốc học, mỗi năm nếu có ai học hay hạnh tốt, thì sẽ kê quê quán, tên họ, đạt đến thư viện, giao cho ông khảo xét đức nghiệp và hạnh nghệ, tâu lên Triều để chọn mà dùng. Ông nên giảng rõ đạo học, rèn đúc nhân tâm, để cho xứng với ý trẫm khen chuộng kẻ tuổi cao đức lớn. Khâm tai! Đặc chiếu. Quang Trung năm thứ 4, ngày 20 tháng tám (1791) ”5.

Quang Trung không giữ La sơn phu tử ở Phú Xuân được đành để cụ lập Sùng chính thư viện ở nơi ông ở ẩn, biên dịch các bộ sách Tiểu học, Tứ thư, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch... sang chữ Nôm. Những người giúp việc cho Nguyễn Thiếp trong công việc này có Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Đinh và Bùi Dương Lịch.

Đoạn tư liệu sau nói về việc ông được Quang Trung khen thưởng: “Nguyên kì trước diễn dịch các sách Tiểu học đã đệ tiến nộp. Kỳ này, diễn dịch Tứ thư đã xong. Cộng được ba mươi hai tập; trấn quan đã chuyển đệ về kinh tiến nộp. Trẫm đã từng xem. Tiên sinh giảng bàn, phu diễn, kể đã chăm chỉ. Những viên giúp việc là Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch đều có công. Vậy đặc ban thưởng cổ tiền một trăm quan do trấn quan chiểu theo mà cấp, lĩnh để chung hưởng ân tứ. Khi xong công việc bộn bề, trẫm nghỉ ngơi, vui ý đọc sách. Tiên sinh học vấn uyên bác, nên vì trẫm mà phát huy những ý thư, khiến cho bổ ích thêm...” 6.

Chỉ trong hai năm, Nguyễn Thiếp đã tổ chức dịch xong các sách: Tiểu học, Tứ thư, Kinh Thi, và chủ trì biên soạn xong hai bộ sách là Thi kinh giải âm và Ngũ kinh toát yếu diễn nghĩa.

Học sinh tự đọc các đoạn tư liệu nói trên, tìm kiếm câu trả lời:

a/ Quang Trung giao cho Nguyễn Thiếp chức vụ và công việc gì để phụ trách việc học? b/ Trong một thời gian ngắn, Nguyễn Thiếp cùng các cộng sự đã làm được những gì? c/ Nêu một số tính từ nói về Nguyễn Thiếp qua đọc các đoạn tư liệu nói trên?

Khi sử dụng tư liệu lịch sử cho học sinh, giáo viên chú ý tính mục đích của việc thiết kế; nội dung gọn, hấp dẫn; cách trình bày ấn tượng. Đặc biệt, cần đặt các câu hỏi để học sinh trả lời dựa trên tư liệu cùng các câu hỏi kích thích tư duy, khắc sâu kiến thức cho các em.

Giáo viên có thể khai thác tư liệu văn học để hiểu nội dung lịch sử. Ví dụ, trong bài thơ ngũ ngôn “Dựng trại, tự thuật”, Nguyễn Thiếp tự bộc bạch:

“Nam hà có lão già ốm,
Lục niên thành cũ, dựng nhà ở bên.
Ba bề đá dựng thành phên,
Bốn bên núi bọc, trông nên bức hình”

Học sinh đọc và trả lời câu hỏi: “Đoạn thơ nói trên nói về điều gì? Em biết gì về địa danh nói trên?”.

Ngoài ra có thể kết hợp tài liệu địa lí, một số kiến thức khoa học kĩ thuật… để thực hiện việc liên môn, tích hợp; giúp phát triển năng lực vận dụng, liên hệ cho người học, cũng như tăng hứng thú cho các em khi dạy học lịch sử nói chung, cũng như dạy học về La sơn phu tử Nguyễn Thiếp nói riêng.

2.2.3. Vận dụng dạy học dự án tại các địa danh liên quan đến cuộc đời của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp

Giáo viên có thể vận dụng dạy học dự án để tổ chức bài nội khóa, ngoại khóa, giáo dục địa phương tại di tích lịch sử ở địa phương nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh. Đây là cách thức dạy học, trong đó người học phải thực hiện một dự án - thực chất là một tình huống, một nhiệm vụ học tập dựa trên năng lực có sẵn của mình, dựa trên các khả năng về lý thuyết và thực hành sẵn có. Dạy học dự án ưu tiên giải quyết các vấn đề mở, gắn với thực tiễn cuộc sống. Học sinh chủ động tìm vấn đề, xác định mục tiêu, lập kế hoạch, đưa ra cách giải quyết vấn đề, thực hiện, tự đánh giá, điều chỉnh và tạo ra các sản phẩm để có thể báo cáo, thuyết trình. Nó đòi hỏi cá nhân nỗ lực cao kết hợp hoạt động nhóm - nhằm mang lại sản phẩm của cả nhóm.

Các bước của bài học này là: Lập kế hoạch, xác định chủ đề, giao nhiệm vụ (các tiểu chủ đề) cho các nhóm. Học sinh cần nghiên cứu tài liệu về La sơn phu tử Nguyễn Thiếp trước khi bài học diễn ra, các em cần làm việc nhóm, hoàn thành các tiểu dự án theo sự phân công cụ thể.

Tổ chức bài học lịch sử tại di tích thông qua dạy học dự án yêu cầu học sinh phải tự trình bày sản phẩm của mình, phải có kĩ năng phản biện, tranh luận để bảo vệ chính kiến của mình. Về cơ bản, các bước của dạy học dự án gồm:

* Bước 1: Lập kế hoạch

Giáo viên có thể sử dụng một tiết trống để hướng dẫn học sinh lập kế hoạch cho việc tổ chức bài học. Xuất phát từ nội dung học, giáo viên đưa ra một chủ đề với những gợi ý hấp dẫn, kích thích người học tham gia thực hiện. Bước này tạo động cơ, sức thu hút đặc biệt đối với học sinh nếu giáo viên đồng hành và khơi gợi vấn đề cùng các em. Lựa chọn vấn đề cần đảm bảo: tính khả thi, tính thiết thực, gợi sự tò mò và hứng thú cho học sinh... “Khi bắt đầu dự án, học sinh sẽ có xu hướng khám phá. Nhu cầu để lựa chọn một chủ đề, câu hỏi hay vấn đề nghiên cứu tạo ra sự gợi mở. Sự gợi mở này sẽ khiến hoạt động học tập trở nên khó đoán trước, vốn là một đặc trưng cơ bản của việc dạy học theo dự án”.

Ví dụ, GV định hướng vấn đề: “Với chủ đề: La sơn phu tử Nguyễn Thiếp - bậc hiền sĩ dưới triều đại Quang Trung” các em mong muốn tìm hiểu những gì?” HS nêu ý tưởng, GV lắng nghe, khéo léo dẫn dắt để hình thành các tiểu dự án sau:

1. Khái quát về gia đình, quê hương, cuộc đời của Nguyễn Thiếp.

2. Những đóng góp của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp.

3. Khảo tả di tích liên quan đến La sơn phu tử Nguyễn Thiếp.

4. Đề xuất các giải pháp phát huy, lan tỏa giá trị của khu di tích.

Các nhóm học sinh phân công trưởng nhóm, thư ký và thảo luận, lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của tiểu dự án. Trong đó xác định nội dung vấn đề nghiên cứu cụ thể là gì, công việc cần làm, dự kiến thời gian, kinh phí, phân công nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên, sử dụng phương tiện gì, sản phẩm cần đạt...

Việc hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề trong việc dạy học theo các tiểu dự án giúp học sinh làm quen với quy trình nghiên cứu. Về nội dung, học sinh có thể xây dựng sơ đồ tư duy để xác định các vấn đề cụ thể, mối liên hệ giữa các nội dung cần tìm hiểu. Muốn vậy, cần tập hợp ý kiến, tìm ra những ý tưởng chung, hợp lý, xây dựng mô hình, các vấn đề nhỏ tương ứng, xác định nhiệm vụ cụ thể.

Sau khi đã thống nhất kế hoạch cụ thể, các nhóm cần cử đại diện trình bày trước giáo viên và cả lớp kế hoạch của mình, tiếp tục xin ý kiến tập thể và nếu hợp lý thì thảo luận để điều chỉnh. Sau đó, dưới sự chỉ đạo của giáo viên, sẽ cho ra bản kế hoạch thực hiện dự án của cả lớp.

* Bước 2: Thực hiện dự án

- Tìm kiếm dữ liệu, thu thập thông tin: việc thu thập thông tin được các cá nhân, các nhóm thực hiện theo sự phân công của dự án. Các em có thể thu thập thông tin một cách trực tiếp hay gián tiếp từ sách, báo, tài liệu, tài liệu trên mạng Internet...

- Xử lí thông tin: thông tin cả nhóm thu thập được phải được xử lý một cách khéo léo, gọn gàng trên cơ sở quan điểm lịch sử cụ thể, khách quan, khoa học.

* Bước 3: Tổng hợp báo cáo kết quả

Sau khi xử lý thông tin, các nhóm trình bày kết quả nghiên cứu của mình thành các sản phẩm. Đó là thành quả của các thành viên trong nhóm trong việc giải quyết nhiệm vụ chung. Nó có thể được trình bày dưới nhiều dạng như: báo cáo, thuyết trình, trưng bày triển lãm, mô hình, các màn biểu diễn, trình chiếu power-point..

Kết quả nghiên cứu cần được nhóm trình bày trước tập thể lớp, trước thầy cô giáo. Tùy vào sự phân công mà các thành viên có vai trò khác nhau trong phần trình bày kết quả này. Sản phẩm của dự án có thể được trình bày trong lớp, có thể được giới thiệu trước toàn trường hay ngoài xã hội. Đó có thể là các video về cuộc đời, sự nghiệp, đóng góp của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp; hay một vở kịch; một trang web; một bản thuyết trình; các bức vẽ về ông... Điều này giúp đa dạng hóa sản phẩm của học sinh, trên cơ sở các nhóm và cá nhân tự hoạt động, kết nối và cho ra sản phẩm. Đấy cũng là con đường giúp các em tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, thêm hiểu và yêu về lịch sử, truyền thống cùng các danh nhân đã làm rạng danh quê hương mình.

3. Kết luận

La sơn phu tử Nguyễn Thiếp là một danh nhân của vùng đất Nghệ - Tĩnh. Ông có nhiều đóng góp để giúp vua Quang Trung đánh giặc, định đô, xây dựng đất nước. Trong dạy học lịch sử cũng như thực hiện các nội dung giáo dục địa phương ở Hà Tĩnh và Nghệ An, nhất là các huyện Can Lộc (Hà Tĩnh), Nam Kim (Nam Đàn), giáo viên cần nghiên cứu đưa vào sử dụng các phương pháp dạy học thiết thực, hiệu quả để một mặt khắc họa sâu về nhân vật lịch sử, mặt khác góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Qua đó góp phần thực hiện tốt Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhằm phát huy năng lực, phẩm chất của học sinh.


1. Trần Lê Sáng (1990): Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp - ba bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam, NXB Giáo dục; tr. 53.

2. Tức núi Thiên Nhẫn - Nam Kim - Nam Đàn - Nghệ An.

3. Hoàng Xuân Hãn (1952): La Sơn phu tử, NXB Minh Tân, 7 Rue Guénégaud, Paris VI, tr.105.

4 Hoàng Xuân Hãn (1952): La Sơn phu tử, NXB Minh Tân, 7 Rue Guénégaud, Paris VI, tr. 105-107.

5 Chiếu của Quang Trung lập Sùng chính thư viện và sai khảo các học quan, 20-8 Quang Trung 4, 1791.

6 Hoàng Xuân Hãn (1952): La Sơn phu tử, NXB Minh Tân, 7 Rue Guénégaud, Paris VI, tr. 152.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Nghệ An: Hồ sơ di tích và danh thắng mộ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (Nam Kim, Nam Đàn).

2. Sở Văn hóa và Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh: Hồ sơ di tích lịch sử danh nhân đền thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (Kim Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh).

3. Ninh Viết Giao (2005): Nghệ An - lịch sử và văn hóa, NXB Nghệ An.

4. Hoàng Xuân Hãn (1952): La Sơn phu tử, NXB Minh Tân, 7 Rue Guénégaud, Paris VI.

5. Nguyễn Thị Thu Hằng (2007): Góp phần tìm hiểu về danh nhân lịch sử - văn hóa La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, khóa luận tốt nghiệp, đại học Vinh. Trần Lê Sáng (1990): Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp - ba bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam, NXB Giáo dục.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...