Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

THỤY HIỆU VỚI TÊN CÚNG CƠM (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Thụy hiệu (諡號) là tên Thụy đặt cho người qua đời, theo tên đó mà khấn vái khi cúng giỗ, không vái thẳng tên húy của người mất. Cho nên người Việt còn gọi tên Thụy là tên Hèm, tên Cúng cơm.

Tên thụy diễn đạt phẩm hạnh, tánh khí, võ công, đức độ… của một người. Như vua Minh Mạng Thụy hiệu là Nhân hoàng đế, sau Miếu hiệu đặt là Thánh tổ Nhân hoàng đế. Thụy hiệu của vua Thiệu Trị được đặt là Chương Hoàng đế, nên Miếu hiệu là Hiến tổ Chương Hoàng đế…

Thụy hiệu phát sinh từ vua chúa, khi mất Tên thụy được vua kế vị phê chuẩn. Còn với quan chức, Thụy hiệu của các quan được vua ban cho. Như từ triều Minh Mạng có điển lệ: Dựa theo phẩm hàm chánh, tòng của quan, ban Văn hay ban Võ mà triều đình sắp xếp sẵn Thụy hiệu để vua ban cho các quan. (trang 432 Thực Lục tập 2)

Ví dụ:
+ Chánh nhất phẩm Văn giai : được Thụy hiệu là Văn Nghị, Võ giai Thụy hiệu là Võ Nghị…
+ Chánh nhị phẩm Văn giai : được Thụy hiệu là Tráng Liệt, Võ giai Thụy hiệu là Trung Liệt…
+ Chánh tam phẩm Văn giai : được Thụy hiệu là Hiến Mục, Võ giai Thụy hiệu Anh Túc…
… …
+ Tòng lục phẩm Văn giai : được Thụy hiệu là Đôn Kính, Võ giai Thụy hiệu là Hùng Tiết…

Nhưng có trường hợp không tuân thủ theo điển lệ. Như đại thần trải 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức là Trương Đăng Quế, năm 1840 ông được Minh Mạng phó thác tôn phò Trường Khánh công Nguyễn Phước Miên Tông lên ngôi là Thiệu Trị, năm 1847 ông nhận di chiếu của Thiệu Trị tôn phò Phước Tuy công Nguyễn Phước Hồng Nhậm lên ngôi là Tự Đức. Khi Trương Đăng Quế mất, được Tự Đức tặng hàm Thái sư, ban tên thụy là Văn Lương, truyền cho khắc lên bia mộ: “Lưỡng triều cố mệnh lương thần Trương Văn Lương chi mộ”. Có nghĩa là: Mộ của bề tôi chịu mệnh 2 triều Tiên đế phó thác là Trương Văn Lương.

Xuống đến thứ dân, gia đình có chữ nghĩa thì Nam lấy Tự, Nữ lấy Hiệu làm tên Thụy. Với thường dân không có tên Tự thì càn ngang lấy tên Húy làm tên Thụy, nên dân gian đánh đồng cũng gọi Tên Húy là Tên Cúng cơm.

Một người ngày xưa có khá nhiều tên, nào là tên Húy (tên tránh gọi hay tên hồi nhỏ), tên Tự (tên chữ), tên Hèm (tự dạng chữ Nôm 𠸛嫌 hàm nghĩa là tên cúng rượu), tên Thụy (tên cúng cơm)… khiến hậu thế phải nhức đầu với chuyện của ngày xưa.

--------------------
Bài thơ của vua Tự Đức viếng Trương Đăng Quế năm 1865
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...