Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2025

NAM ÔNG MỘNG LỤC - MỘT TÁC PHẨM CỦA HỒ NGUYÊN TRỪNG, CON HỒ QUÝ LY (GS. BỬU CẦM)

Hồ Nguyên Trừng, con trưởng của Hồ Quý Ly, sau khi bị quân Minh bắt đưa sang Tàu, có soạn một tác phẩm bằng Hán văn, nhan đề là Nam Ông mộng lục 南翁夢錄, mà có lẽ ở nước ta ít người biết. Nhận thấy tác phẩm này có giá trị, và tác giả của nó cũng không phải là một người hoàn toàn vong bản, nên chúng tôi đem ra giới thiệu với đồng bào.
Trước khi nghiên cứu nội dung sách Nam Ông mộng lục, thiết tưởng chúng ta nên tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của người đã soạn ra tác phẩm này, qua các bộ tín sử Việt Nam và Trung Quốc như: Việt sử thông giám cương mục 越史通鑑綱目, Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書, Minh sử 明史, Kỷ lục vị (vựng) biên 紀錄彙編...

Hồ Nguyên Trừng

Hồ Nguyên Trừng 胡元澄 là con cả của Quý Ly 季犛, cho nên trong thời gian Quý Ly chuyên quyền, năm Quang Thái 光泰 thứ 7 (1394) đời Trần Thuận Đế 陳順, Nguyên Trừng được giao cho phụ trách Thượng Lâm tự 上林寺, một quan thự chuyên xét xử việc ngục tụng mà trước kia gọi là Viện Đăng văn kiểm pháp 登聞檢法 [Cương mục, chính biên, quyển XI, tờ 21ab; Toàn thư, bản kỷ, quyển VIII, tờ 24b]. Năm Kiến Tân 建新 thứ 2 (1399) đời Trần Thiếu Đế 陳少帝, Quý Ly tự xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng 國祖章皇. Con của y là Hán Thương 漢蒼 xưng quyền nhiếp chức Thái phó 太傅, Nguyên Trừng làm chức Tư đồ 司徒 [Cương mục, chính biên, quyển XI, tờ 35a; Toàn thư, bản kỷ, quyển VIII, tờ 35a].

Mùa xuân năm sau (1400), Quý Ly xưng đế, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên 聖元, đổi quốc hiệu là Đại Ngu 大虞 và đổi họ mình là Hồ 胡 [Ông tổ của Quý Ly là Hồ Hưng Dật 胡興逸, người Chiết Giang 浙江, sang nước ta từ đời Ngũ Quý 五季 (907-959), ngụ tại làng Bào Đột 泡突 thuộc Diễn Châu 演州 (nay là Bảo Đột, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An); sau đó, Hồ Liêm 胡廉 dời ra ở Thanh Hoá và làm con nuôi của Lê Huấn 黎訓, nhân đấy mới đổi họ là Lê. Quý Ly là cháu bốn đời của Hồ Liêm. Quý Ly có hai người cô được Trần Minh Tông 陳明宗 nạp vào hậu cung, một người sinh ra Nghệ Tông 藝宗, một người sinh ra Duệ Tông 睿宗 (Cương mục, chính biên, quyển X, tờ 31b-32b). Họ Hồ là dòng dõi Ngu Thuấn 虞舜 (con Ngu Yên 虞舜 là Quy Mãn 嬀, được Chu Vũ Vương phong cho ở đất Trần 陳, gọi là Hồ Công 胡公, sau dùng chữ Hồ làm họ) cho nên Quý Ly mới đổi họ là Hồ và đổi quốc hiệu là Đại Ngu (Cương mục, chính biên, quyển XI, tờ 37a), truất Thiếu Đế làm Bảo Ninh Đại vương 保寕大王, vì Thiếu Đế là cháu ngoại [Trần Thiếu đế là con của Trần Thuận Tông (hoặc Thuận Đế); Thuận Tông là rể của Quý Ly (Cương mục, chính biên, quyển XI, tờ 7a)] nên không giết [Cương mục, chính biên, quyển XI, tờ 36b, Toàn thư, bản kỷ, quyển VIII, tờ 36b]; 2) Nhưng Quý Ly chỉ làm vua mấy tháng rối truyền ngôi cho con là Hán Thương, tự xưng là Thái Thượng hoàng. Hán Thương là con thứ của Quý Ly và là em Nguyên Trừng. Mẹ Hán Thương, Huy Ninh Công chúa 徽寧公主, là con gái Trần Minh Tông. Trước kia, Quý Ly đã có ý muốn lập Hán Thương nối ngôi, nhưng chưa quả quyết, mới ngụ ý vào cái nghiên đá, ra một câu đối cho Nguyên Trừng đối lại, để dò xét khẩu khí của Nguyên Trừng:
此一拳奇石有辰為雲為雨以潤生民
Thử nhất quyền kỳ thạch, hữu thời vi vân, vi vũ, dĩ nhuận sinh dân
(Viên đá lạ bằng nắm tay, có lúc làm mây, làm mưa, để thấm nhuần cho nhân dân)
Nguyên Trừng đối lại:
這三寸小松他日作棟作樑以扶社稷
Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống, tác lương, dĩ phù xã tắc
(Cây thông nhỏ chừng ba tấc, sau này làm cột, làm xà, để phù trì xã tắc)
Quý Ly bèn lập Hán Thương nối ngôi. [Cương mục, chính biên, quyển XI, tờ 36b, Toàn thư, bản kỷ, quyển VIII, tờ 36b].

Năm Khai Đại 開大 [Niên hiệu thứ hai của Hồ Hán Thương (1403-1406). Niên hiệu thứ nhất của Hán Thương là Thiệu Thành 紹成 (1401-1402)] thứ 3 (1405), Hồ Hán Thương hạ lệnh cho các viên An phủ sứ ở các lộ về triều để cùng các quan trong kinh đô bàn về kế hoạch nên chiến hay nên hoà với nhà Minh. Lúc ấy, có người khuyên nên đánh, nói: “Nếu để quân Minh kéo vào nước thì sẽ là mối lo sau này”. Nguyễn Quân 阮均, Trấn phủ Bắc Giang 北江, cho rằng hãy nên tạm hoà, chiếu theo ý muốn của bên địch, để hoãn bình, thì hay hơn. Tả Tướng quốc Nguyên Trừng nói: “Tôi không sợ đánh nhau với giặc, chỉ sợ lòng dân có theo chúng ta hay không mà thôi” Sử thần Ngô Sĩ Liên 吳士連 nói: “Mệnh trời tại lòng dân. Lời nói của Trừng thật sâu sắc và nêu lên được điều trọng yếu. Người ta không nên lấy cớ họ Hồ soán nghịch mà bỏ lời nói của Trừng" [Toàn thư, bản kỷ, quyền VIII, từ 49b-50a]. Quý Ly lấy cái hộp bằng vàng (dùng để đựng cau trầu) ban cho Trừng [Cương mục, chính biên, quyển XII, tờ 9b-10a; Toàn thư, bản kỷ, quyển VIII, tờ 49b].

Mùa thu năm Khai Đại thứ 4 (1406), nhà Minh sai Đại tướng Chu Năng 朱能, Phó tướng là bọn Trương Phụ 張輔, Mộc Thạnh 沐晟, Tham tướng là bọn Lý Bân 李彬, Trần Húc 陳旭, kéo quân sang đánh họ Hồ. Hán Thương hạ lệnh cho Tả Tướng quốc Nguyên Trừng và Đại tướng Hồ Đỗ 胡杜 đem quân thuỷ, bộ ra chống cự [Cương mục, chính biên, quyển XII, tờ 126-13b, Toàn thư, bản kỷ, quyển VIII, tờ 52b, 53a].

Tháng Hai năm sau (1407), Mộc Thạnh (Tả Phó tướng nhà Minh) nghe biết Hồ Nguyên Trừng đóng quân ở Hoàng Giang liền đem quân thuỷ và quân bộ cùng tiến đến sông Mộc Hoàn 木丸 [Sông Mộc Hoàn. Ở xã Mộc Hoàn, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Sông này tiếp giáp với Hoàng Giang (Cương mục, chính biên, quyền XII, tờ 16a). Xã Mộc Hoàn nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Huyện Phú Xuyên nay thuộc tỉnh Hà Đông], đóng dinh trại đối ngạn với Hoàng Giang. Nguyên Trừng dùng ba trăm thuyền lớn tung quân ra đánh, quân Mộc Thạnh ở hai bên bờ sông đánh khép lại, quân của Nguyên Trừng bị thua to, lui về giữ cửa Muộn Hải 悶海口 [Cửa Muộn Hải: Ở địa phận huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định, nay bị bồi lấp (Cương mục, chính biên, quyển XII, tờ 16a)] [...]. Quân hai bên đối lũy, ngày đêm đánh nhau, gặp lúc ấy mưa nắng thất thường, sinh ra tật dịch. Quân nhà Minh thấy cửa Muộn Hải ẩm thấp, không thể đóng quân lâu được, mới giả vờ rút lui, đến cửa Hàm Tử 鹹子 [Cửa ải Hàm Tử: Tại châu Hàm Tử, huyện Đông Yên, tỉnh Hưng Yên (Cương mục, chính biên, quyển VII, tờ 39b)], đóng dinh trại kiên cố để đợi quân địch. Hồ Nguyên Trừng cũng đón Quý Ly và Hán Thương từ Tây Đô 西都 (Thanh Hoá) đến, lại tiến quân đóng ở Hoàng Giang để cầm cự với quân nhà Minh [Cương mục, chính biên, quyển XII, tờ 15a-16a; Toàn thư, bản kỷ, quyển IX, tờ la-2a].

Tháng 3 năm đó, Hồ Nguyên Trừng tiến quân đến cửa Hàm Tử, quân nhà Minh đón đánh, quân của Nguyên Trừng bị thua to [Cương mục, chính biên, quyển XII, từ 16b-17b, Toàn thư, bản kỷ, quyển IX, tờ 2ab].

Tháng 5 năm đó, quân nhà Minh kéo đến cửa biển Kỳ La 奇羅海 […] bắt được Quý Ly, Hán Thương và con của y là Nhuế 芮 ở núi Cao Vọng 高望山 […]. Những tướng tá sau này đều bị bắt: Hữu Tướng quốc Quý Tỳ 季貔 và con của y là Phán trung đô Vô Cữu 无咎, Tả Tướng quốc Nguyên Trừng, Tướng quân Hồ Đỗ, Phạm Lục Tài 范六材, Nguyễn Ngạn Quang 阮彥光, Đoàn Bổng […]...

Trương Phụ sai bọn Hoành hải Tướng quân Lỗ Lân 魯麟, Đô đốc Thiêm sự Liễu Thăng 柳升 áp giải Quý Ly và con cháu cùng liêu thuộc của y đến Kim Lăng 金陵 […] hiến tiệp. Vua nhà Minh ngự điện nhận tù binh và hỏi Quý Ly rằng: "Giết vua, cướp nước, như thế có phải là đạo của kẻ bế tôi không?”. Quý Ly không trả lời được. Vua nhà Minh liền ra lệnh giam những người bị bắt vào ngục, chỉ tha cho Trừng và Nhuế. Sau, Quý Ly cũng được tha, nhưng phải đi làm thú binh ở Quảng Tây. Trừng vì thạo nghề chế binh khí, dâng phép chế súng lên vua Minh, nên được tha ra để dùng”.

[Cương mục, chính biên, quyển XII, tờ 21ab; Toàn thư, bản kỷ, quyển IX, tờ 5b, chép rằng: “Khi Quý Ly đến Kim Lăng, vua nhà Minh giả vờ trao cho chức Tham chính, sai người bộ tống đến nơi làm việc, rồi giết chết ở dọc đường”. Nhưng Cương mục (chính biên, quyến XII. tờ 21b) đã bác thuyết của Toàn thư, trong lời cẩn án như sau: “Có lẽ nào đánh bắt được người đầu sỏ của giặc, không đem làm tội một cách đàng hoàng, mà lại phải dùng kế giả dối để giết đi? Thật là vô lý! Nay theo sách Minh sử kỷ sự mà cải chính lại”. Kỷ lục vị biên, quyển 49, tờ 3a cũng chép như Minh sử kỷ sự và Việt sử thông giám cương mục mà còn đầy đủ, chi tiết hơn nữa” 季犛釋自獄充成廣西而季犛子蒼澄各以善兵器用累官供至工部尚書 = Quý Ly thích tự ngục, sung thú Quảng Tây, nhi Quý Ly tử Thương. Trừng, dĩ thiện binh khí dụng, lũy quan cầu chí Công bộ Thượng thư (Quý Ly được tha từ trong ngục, nhưng phải sung làm thú binh ở Quảng Tây, còn con của Quý Ly là Thương và Trừng, vì giỏi về việc chế tạo binh khí, cho nên đều được dùng làm quan đến Thượng thư bộ Công”].

Nội dung sách "Nam Ông mộng lục".

"Nam Ông mộng lục" được in vào trong Kỷ lục vị biên, quyển 50, gồm có 19 tờ, 31 chuyện.

Đại ý bài tựa của tác giả như sau: “Ngôn hạnh và tài điệu của tiền nhân có nhiều điều đáng ghi lấy. Nhưng sau cơn binh hoả, sách vở mất mát gần hết, thành thử những điều nói trên không được truyền lại nữa, há chẳng đáng tiếc lắm ru? Tôi nghĩ đến việc đó, rồi truy ức những chuyện cũ và ghi chép lại, chỉ được một vài phần trăm, biên tập thành sách, nhan đề là Nam Ông mộng lục... “Mộng lục” là nghĩa thế nào? Đáp rằng: Nhân vật của đất Giao Nam ngày trước rất mực phồn hoa, nhưng vì thời thế đổi thay, sự đời biến cải, cho nên đến nay cũng không còn dấu vết. Chỉ một mình tôi biết mà nói đến những nhân vật ấy, há chẳng phải là mộng hay sao?".

Cuối bài tựa có ghi: 正統三年戊午重九日正議大夫資治尹工部左侍郎交南黎澄孟源序 “Chính Thống tam niên Mậu Ngọ trùng cửu nhật, Chính nghị Đại phu Tư trị doãn Công bộ Tả Thị lang Giao Nam Lê Trừng Mạnh Nguyên tự” (Ngày trùng cửu (mồng 9 tháng 9) năm Mậu Ngọ, niên hiệu Chính Thống […] thứ 3, chức Chính nghị Đại phu Tư trị doãn Công bộ Tả Thị lang là Lê Trừng […], tên chữ là Mạnh Nguyên, người ở Giao Nam […], làm bài Tựa).

Sau đây là khái lược ba mươi mốt truyện trong "Nam Ông mộng lục".
1. Nghệ Vương thuỷ mạt 藝王始末: Chuyện Trần Nghệ Tông từ khi còn là một vị thân vương cho đến lúc lên ngôi Hoàng đế.

2. Trúc Lâm thị tịch 竹林示寂: Chuyện Trần Nhân Tông, sau khi truyền ngôi cho Thái tử, bèn xuất gia tu hành khắc khổ, tự hiệu là Trúc Lâm Đại sĩ.

3. Tổ linh định mệnh 祖靈定命: Chuyện Trần Minh Tông vốn là con dòng thứ của Trần Anh Tông, nhưng được nối ngôi vua là vì do ý muốn của Trần Nghệ Tông. Mặc dầu Nghệ Tông đã băng, song rất linh ứng, xá lợi […] của Nghệ Tông đã bay vào tay áo Trần Mạnh (sau là Minh Tông), do đó Anh Tông mới quyết ý lập Mạnh làm Thái tử để rồi truyền ngôi cho.

4. Đức tất bữu vị 德必有位: Chuyện này khen Trần Minh Tông là một ông vua có đức. Sau khi Minh Tông đã lên ngôi, bà mẹ đích của ông mới sinh hoàng tử. Lúc hoàng tử đầy năm, triều thần xin làm lễ chu tuế (đủ năm) cho hoàng tử. Minh Tông cho phép dùng nghi lễ của Thái tử; triều thần tỏ ý ngại ngùng, thì Minh Tông nói: “Trước kia, vì con dòng đích chưa sinh, cho nên Trẫm tạm giữ lấy ngôi này, nay Thái tử đã sinh rồi, thì đợi lớn lên, Trẫm sẽ trao trả ngôi báu cho Thái tử”. Nhưng sau đó chẳng bao lâu, vị hoàng tử con dòng đích mắc bệnh mà mất, ngôi vua vẫn thuộc về Minh Tông.

5. Phụ đức trinh minh 婦德貞明: Chuyện bà Lê thị, chính hậu của Trần Duệ Tông, mẹ của Trần Đế Nghiễn. Duệ Tông thân chinh Chiêm Thành và bị tử trận, bà Lê thị liền cắt tóc đi tu. Nghe tin con của mình (tức Trần Đế Nghiễn) được Trần Nghệ Tông lập lên làm vua, bà vội tới xin từ nhượng nhưng không được. Bà khóc và nói cùng thân nhân: “Con tôi phúc bạc, không kham nghiệp lớn, sợ rằng phải mang hoạ về sau”. Quả thật, Đế Nghiễn sau bị phế làm Linh Đức Vương và bị Quý Ly thí.

6. Văn tang khí tuyệt 聞喪氣絕: Chuyện Thiếu Dương Công chúa, con Trần Thái Tông, khi nghe tin vua cha băng, bà gào khóc và chết theo.

7. Văn Trinh ngạnh trực 文貞鲠直: Chuyện Chu An, một danh nho đời Trần, đã làm những chức Quốc tử Tư nghiệp và Thái học Tế tửu, đã có can đảm dâng Thất trảm sớ lên vua Trần để xin chém đầu bảy kẻ gian thần, nhưng vua không nghe theo, nên đã từ chức trở về điền lý. Học trò của tiên sinh có nhiều người thành đạt, nhưng mỗi lần đến thăm tiên sinh, vẫn giữ đúng lễ của học trò đối với thầy, có người làm điều bất thiện, hẳn bị tiên sinh trách ngay, thậm chí có khi còn bị tiên sinh thoá mạ, quát mắng và đuổi đi nữa.

8. Y thiện dụng tâm 醫善用心: Chuyện Phạm Công Bân, làm chức Thái y lệnh đời Trần Anh Tông. Ông là một vị lương y đã cứu sống nhiều người mắc bệnh trầm trọng. Một hôm, có người đến gõ cửa xin ông tới cứu chữa cho một người đàn bà đang bị băng huyết. Ông nhận lời và mới bước ra khỏi cửa thì gặp sứ giả của nhà vua đến mời ông vào cung chữa bệnh sốt rét cho cung nhân. Ông nói cùng sứ giả rằng: “Bệnh ấy không nguy cấp. Hiện giờ có người mắc bệnh nặng lắm, có thể chết trong khoảnh khắc, tôi phải đi cứu người ấy trước đã, rồi sẽ vào cung sau”. Sứ giả giận, nói: “Sao ông không biết giữ lẽ làm bầy tôi? Ông muốn cứu tính mệnh kẻ khác, chứ không muốn cứu lấy tính mệnh của ông sao?”. Ông đáp: “Tôi hẳn có tội, nhưng không biết làm gì hơn, vì không cứu người ta thì người ta có thể chết trong chốc lát”. Dứt lời, ông vội đi đến cứu sống được người đàn bà. Xong rồi, ông mới vào cung bệ kiến vua Trần. Bị nhà vua khiển trách, ông cởi mão để tạ tội và giãi bày tấm lòng chân thành của mình. Nhà vua hoan hỷ khen rằng: “Ông là một vị lương y chân chính, đã có thiện nghệ, lại có nhân tâm”.

9. Dũng lực thần dị 勇力神異: Chuyện Lê Phụng Hiếu, một dũng sĩ đời Lý. Vì ông có công dẹp giặc, nên Lý triều muốn ban thưởng quan tước cho ông, nhưng ông từ khước, nói rằng: “Tôi chỉ mong có một ít ruộng đất để sinh sống. Xin triều đình cho phép tôi leo lên đỉnh núi, cầm đại đao ném ra xa, con đao rơi xuống nơi nào thì lấy chỗ đó làm giới hạn”. Lý triều chấp thuận. Ông bèn leo lên núi cao, cầm đao ném xa đến hơn 10 dặm. Nhà vua liền lấy cả phần đất ấy ban cho ông. Sau ông được phong Uy Viễn Tướng quân, nhưng vẫn sống ở nơi điền lý.

10. Phu thê tử tiết 夫妻死節: Chuyện vợ chồng Ngô Miễn tử tiết, sau khi cha con Quý Ly bị quân Minh bắt. Ngô Miễn làm chức Hành khiển Hữu Tham tri Chính sự đời nhà Hồ, đã khảng khái nhảy xuống sông chết, chứ không chịu đầu hàng quân Minh hoặc để rơi vào tay địch. Vợ của Miễn là Nguyễn thị cũng tử tiết theo chồng.

11. Tăng đạo thần thông 僧道神通: Chuyện nhà sư Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền đều giỏi pháp thuật, đã trừ được yêu quái trong cung nhà Lý.

12. Tấu chương minh nghiệm 奏章明驗: Chuyện đạo sĩ cung Thái Thanh, tên là Đạo Thậm, lập đàn cầu tự cho Trần Thái Tông. Sau khi đốt chương sớ, Đạo Thậm tâu cùng Thái Tông rằng: “Thượng đế đã chấp nhận tấu chương và sẽ cho Chiêu Văn đồng tử giáng sinh làm con của Bệ hạ”. Quả thật sau đó cung phi sinh được hoàng tử, nơi tay có dấu chữ “chiêu văn", cho nên mới dùng danh xưng đó mà đặt làm hiệu.

13. Áp Lãng chân nhân 壓浪真人: Chuyện một đạo sĩ ở Thần Đầu Hải Khẩu đã làm cho gió lặng sóng yên, để giúp vua Lý đem chu sư đi chinh phạt Chiêm Thành. Lúc trở về, vua Lý phong cho đạo sĩ làm Áp Lãng Chân Nhân, nghĩa là bậc chân nhân có pháp thuật đàn áp được sóng lớn.

14. Minh Không thần dị 明空神異: Chuyện Nguyễn Minh Không, vị thiền sư ở chùa Không Lộ, đã dùng pháp thuật để chữa bệnh cho Lý Thần Tông, trong lúc Thần Tông hoá thành con hổ.

15. Nhập mộng liêu bệnh 入夢療病: Chuyện sư Quán Viên chữa bệnh đau mắt cho Trần Anh Tông trong giấc mộng. Sau Anh Tông tìm được Quán Viên, phong làm Quốc sư và ban thưởng thật hậu, nhưng sư đem bố thí hết cả, không để lại một đồng nào, rồi vẫn mặc áo vá trở về sơn tự.

16. Ni sư đức hạnh 尼師德行: Chuyện ni sư họ Phạm tu hành đắc đạo, được người trong nước ngưỡng mộ và được Trần Nghệ Tông ban hiệu là Tuệ Thông Đại sư. Có lần bà vào ngồi trong rừng và tịnh thực, nhưng hổ lang không dám tới gần. Lúc sắp viên tịch, bà dặn đệ tử nên dùng xá lợi của bà để chữa bệnh cho mọi người, nhưng các đệ tử không nỡ làm như vậy, nên khi thiêu xác bà rồi, họ gói tất cả xá lợi lại để thờ. Hôm sau, bỗng thấy một mảnh xương khuỷu tay của bà nằm ở trên mặt bàn, ai nấy đều lấy làm kinh dị. Sau hễ có người bệnh nào tới chùa có cầu đảo, các đệ tử của bà lấy mảnh xương ấy mài ra rồi hoà với nước cho con bệnh uống, thì thấy công hiệu ngay. Lời thệ nguyện của bà thâm hoằng đến như thế.

17. Cảm kích đồ hành 感激徒行: Chuyện Trần Đạo Tái, hiệu Văn Túc, tùng đệ của Trần Nhân Tông, vốn là một kẻ đã nổi tiếng từ lúc còn nhỏ. Năm 14 tuổi, Văn Túc xin vào thí trường và đỗ Giáp khoa, cho nên được Nhân Tông hết lòng quý trọng, hứa sẽ dùng Văn Túc giữ những chức vụ lớn cho xứng với tài năng của ông. Nhưng không ngờ Văn Túc đoản mệnh, thành thử chưa kịp làm đến Tể tướng. Từ khi Nhân Tông xuất gia tu hành, Văn Túc thường đi bộ, không cần lên xe xuống ngựa, để tỏ lòng cảm phục Nhân Tông là một ông vua mà đã từ bỏ chốn cao sang để tu theo lối khổ hạnh.
18. Điệp tự thi cách 叠字詩格: Khen Trần Thánh Tông là vua giỏi về văn học, có làm bài thơ điệp tự rất hay, trong lúc về chơi Thiên Trường, sau khi đã truyền vị cho Thái tử.

19. Thi ý thanh tân 詩意清新: Khen thơ của Trúc Lâm Đại sĩ (Trần Nhân Tông) có nhiều bài thanh tân, hùng kiện. Như bài Sơn phòng mạn hứng 山房漫興 có mấy câu:
是非言逐朝花落,
名利心隨夜雨寒.
花盡雨晴山寂寂,
一聲啼鳥又春殘.
Phiên âm:
Thị phi ngôn trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tuỳ dạ vũ hàn.
Hoa tận, vũ tình, sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điều hựu xuân tàn.
Tạm dịch:
Mưa đêm rửa sạch lòng danh lợi,
Hoa sớm rơi theo chuyện thị phi.
Mưa tạnh, hoa tàn, non vắng vẻ,
Chim kêu một tiếng tiễn xuân đi.
Sau khi ca tụng thơ của Trúc Lâm Đại sĩ là “tiêu sái xuất trần, trường không nhất sắc, tao tình thanh sở, dật túc siêu quần”, tác giả Lê Trừng còn nói thêm: “Trúc Lâm Đại sĩ có tập thơ nhan đề Đại hương hải ấn tập 大香海印集, trong đó có nhiều bài tuyệt xướng, nhưng tiếc rằng sau cơn binh hoả, thi tập ấy không được lưu truyền. Nay tôi chỉ còn nhớ một đôi bài mà thôi. Than ôi! Đáng tiếc thay!".

20. Trung trực thiện chung 忠直善終: Chuyện Phạm Ngộ và Phạm Mại là hai anh em đều giỏi văn học, đỗ cao khoa, làm quan đời Trần Minh Tông. Ngộ đã làm đến Thẩm hình Viện sứ, còn Mại đã làm Ngự sử Trung thừa rồi thăng lên Tham tri Chính sự. Hai anh em đều nổi tiếng thanh liêm, chính trực. Mại làm thơ hay, có tác phẩm nhan đề Kính Khê thi tập 鏡溪詩集.

21. Thi phúng trung giản 詩諷忠諫: Chuyện Trần Nguyên Đán Ngự sử Đại phu đời Trần Dụ Tông. Thấy nhà vua không chăm lo chính sự, Nguyên Đán can gián nhiều lần nhưng không được vua nghe theo. Sau khi Dụ Tông băng, Dương Nhật Lễ kế vị lại càng tệ hơn nữa. Nguyên Đán xin về hưu, có làm bài thơ gửi cho các bạn đồng liêu để khuyên các vị này nên đem lời trung thành phúng gián nhà vua.

22. Thi dụng tiền nhân cảnh cú 詩用前人警句: Chuyện Trần Toại, một thi sĩ có tài nhưng chết sớm, còn truyền lại tác phẩm nhan đề Sầm lâu tập 岑樓集. Giới thiệu Nguyễn Trung Ngạn cũng là một danh sĩ đời Trần, tuy chưa từng quen biết Trần Toại, nhưng khi đi ngang qua trước mộ Toại, đã cảm động mà làm một bài thơ truy vãn rất thống thiết lâm ly, trong bài có xen vào hai câu thơ hay của Trần Toại.

23. Thi ngôn tự phụ 詩言自負: Chuyện Nguyễn Trung Ngạn có làm bài thơ với giọng rất kiêu căng tự phụ, cho mình là rường cột của nước nhà, lúc còn nhỏ tuổi đã có chí “thôn ngưu”, năm 12 tuổi làm Thái học sinh, năm 16 tuổi vào Đình thí, năm 24 tuổi làm Gián quan, năm 26 tuổi đi sứ sang Yên Kinh. Trung Ngạn tuy khoe khoang và tự phụ như vậy, nhưng làm quan có tiếng tốt.

24. Mệnh thông thi triệu 命通詩兆: Chuyện Lê Quát làm thơ tiễn bạn đi sứ Yên Kinh. Người ta xem thơ biết rằng Quát sẽ được hiển đạt. Quả thật, sau đó chẳng bao lâu Quát thi đỗ, được bổ ra làm quan.

25. Thi chí công danh 詩志功名: Chuyện Phạm Ngũ Lão, làm chức Điện suý Thượng Tướng quân đời Trần Nhân Tông. Tuy ông xuất thân trong quân đội nhưng ham đọc sách, thích ngâm thơ, không lưu tâm đến việc võ bị, thế mà mỗi lần ông chỉ huy một đoàn quân nào, thì binh lính dưới quyền ông đối với ông như con với cha. Vì vậy mỗi khi xuất trận đều thẳng. Ông có làm bài thơ Thuật hoài để bày tỏ chí lớn của mình.

26. Tiểu thi lệ cú 小詩麗句: Chuyện một người trong hàng tông thất nhà Trần, biệt hiệu là Ái Sơn, thích đọc sách, ngâm thơ, và đã làm được nhiều bài thất ngôn tuyệt cú có giá trị.

27. Thi tửu kinh nhân 詩酒驚人: Chuyện Hồ Tông Thốc đã từng dự một bữa tiệc và làm ngay một trăm bài thơ, uống một trăm chén rượu, khiến cho cử toạ phải lấy làm kinh dị, thán phục.

28. Thi triệu dư khánh (khương) 詩兆餘慶: Chuyện Nguyễn Công Thánh Huấn, ngoại tổ của cha Hồ Quý Ly, làm chức Trung thư Thị lang đời Trần Nhân Tông, là một người có lòng nhân hậu, lại có tài làm thơ, đương thời không ai sánh kịp, nên được người đời sau gọi là “Nam phương thi tổ”. Bài Điền viên mạn hứng 田園漫異 của Nguyễn Công có hai câu như sau:
巢烏寄林休伐木
蟻封在地未耕田
Phiên âm:
Sào điểu ký lâm, hưu phạt mộc,
Nghị phong tại địa, vị canh điền.
Tạm dịch:
Rừng chim làm tổ, cây đừng chặt,
Đất kiến đùn hang, ruộng chớ cày.
Hạng thức giả đều thán phục tấm lòng nhân ái của Nguyễn Công suy cập đến muôn vật như thế.

29. Thi xứng tướng chức 詩稱相職: Chuyện Trần Nghệ Tông và hoàng đệ, trong thời gian còn làm Tể tướng, đều có những bài thơ lời lẽ thuần hậu, ý tứ nghiêm chỉnh, xứng với chức vị của hai ông.

30. Thi thán trí quân 詩歎致君: Chuyện Băng Hồ tiên sinh (Trần Nguyên Đán), trong lúc làm Tư đồ, có đề ở Huyền Thiên quán bài thơ như sau:
白日升天易
致君堯舜難
塵埃六十載
回頭媿黃冠
Phiên âm:
Bạch nhật thăng thiên dị,
Trí quân Nghiêu Thuấn nan.
Trần ai lục thập tải,
Hồi thủ quý hoàng quan.
Tạm dịch:
Dễ thành tiên tử tiêu diêu,
Giúp vua đến bậc Thuấn Nghiêu khó lòng!
Trần ai sáu chục năm ròng, Hoàng quan* ngoảnh lại thẹn thùng xiết bao!
[Hoàng quan: Mũ của nông phu và đạo sĩ, làm bằng cỏ hoặc kết bằng lá, màu vàng. Thiên Giao đặc sinh 郊特牲 trong sách Lễ ký 禮記 có chép: “野夫黄冠。黄冠、草服也 Dã phu hoàng quan; Hoàng quan, thảo phục dã (Người nông phu ở nơi thôn dã đội mũ màu vàng; Mũ màu vàng là đồ phục sức làm bằng cỏ". Đường thư, Phương kỹ truyện 唐書方技傳 cũng có chép rằng: “Thân phụ của Lý Thuần Phong 李淳風 đã làm quan đời nhà Tùy, nhưng sau từ chức để làm đạo sĩ, hiệu là Hoàng Quan Tử 黃冠子”. Bởi vậy, người ta cũng dùng danh từ hoàng quan để gọi đạo sĩ].
Đó là tiên sinh tự thấy bất lực trong việc phù trì xã tắc, cho nên mới thốt ra những lời thở than trầm thống như thế, để biểu lộ tấm lòng trung nghĩa đối với nhà Trần lúc sắp tuy vong.

31. Quý khách tương hoan 貴客相飲: Chuyện một vị võ tướng ở Đông Triều, tuy xuất thân nơi quân ngũ, nhưng rất sính ngâm thơ. Ông đã được cử ra tiễn sứ giả nhà Nguyên là Hoàng Thường về nước. Thường cũng có tài làm thơ, cho nên hai người đã cùng nhau xướng hoạ, có nhiều giai cú.
Trên đây, chúng tôi đã căn cứ vào các bộ tín sử để đưa ra giới thiệu cùng quý vị độc giả tiểu sử Lê Trừng và một tác phẩm của Trừng là "Nam Ông mộng lục". Thiết tưởng nhiệm vụ của chúng tôi đến đây là chấm dứt. Chúng tôi muốn giữ thái độ khách quan của một nhà khảo cứu vô tư. Vậy quyền phê phán cá nhân Lê Trừng và sách "Nam Ông mộng lục" xin nhường lại độc giả./.

(Theo "Văn hoá nguyệt san", Sài Gòn, số 70, tháng 5-1962, tr.409-419). Tuyển in trong "Nam Ông mộng lục". NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2025, tr.190-203).

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...