Quãng cuối đời Thiệu Trị, các cố đạo người Tây đã có kế hoạch lên Tây nguyên truyền giáo. Năm 1850 tại họ đạo Gò Thị ở Bình Định, Linh mục Pierre Dourisboure (1825-1890) nhận nhiệm vụ lên Tây nguyên rao giảng Phúc âm cho người miền núi. Ông ở lại vùng đất này 35 năm, đến năm 1885 mới về miền xuôi. Tập hồi ký Les Sauvages Bahnar của ông, đã được chuyển Việt ngữ tên sách là Dân Làng Hồ - hàm nghĩa là người Bahnar ở KonTum, nơi ông thực thi sứ vụ truyền giáo ở đây.
Với hồi ký Les Sauvages Bahnar của Cố Ân (là Lm. Pierre Dourisboure), sách dẫy đầy những bước khảo sát phong tục, tập quán, cách sinh sống của các sắc tộc thiểu số ở Tây nguyên, nhưng qua đó phân định được dấu vết người Kinh vào thời Tự Đức lên Tây Sơn thượng lập làng.
I. TÂY SƠN THƯỢNG ĐẠO
Đất Tây Sơn, vùng đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn xưa được phân làm 2 vùng: Tây Sơn thượng đạo và Tây Sơn hạ đạo. Chính Biên Liệt Truyện quyển 30 của Quốc sử quán triều Nguyễn có chép:
+ Nhạc trục vu Tây Sơn thượng đạo thiết lập đồn trại, thượng đạo tức Man trung, hạ đạo tức Kiên Thành ấp ( 岳逐于西山上道設立屯寨, 上道卽蠻中,下道卽堅城邑 )
Tạm hiểu: Nguyễn Nhạc tìm lên thượng đạo Tây Sơn thiết lập đồn trại. Thượng đạo tức vùng đất của người Man, hạ đạo tức ấp Kiên Thành.
Ấp Kiên Thành ngày nay là thôn Phú Lạc của xã Bình Thành, huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định (tên mới: thôn Phú Lạc xã Bình An tỉnh Gia Lai). Còn Man trung nay là cao nguyên An Khê, mở rộng hơn có thể bao trùm luôn Gia Lai, KonTum vì đều là vùng đất của người miền Thượng. Người Kinh bấy giờ chưa lập làng định cư ở vùng đất này.
Năm 1771 ba anh em của Nguyễn Nhạc lên đây chỉ thiết lập đồn trại gầy dựng lực lượng, để năm 1773 xuống chiếm Phủ thành Quy Nhơn rồi kéo vào Nam đánh tan quân Xiêm, tiến ra Bắc đuổi Tôn Sĩ Nghị chạy rơi cả ấn tín không hay. Hai bộ địa bạ Bình Định vào triều Nguyễn năm 1815 và năm 1839 không cho thấy dấu tích các làng người Việt trên cao nguyên An Khê. Năm 1850 Linh mục Pierre Dourisboure lên đây xác định: vùng đất của người sắc tộc thiểu số lúc này còn hoàn toàn độc lập với “vương quốc An Nam”:
+ “Dọc suốt Vương Quốc An Nam, xuyên qua núi rừng người dân tộc cư ngụ, trải rộng đến tận phía Tây chừng hai, ba ngày đường, đều có các lái buôn người Kinh thường xuyên lui tới trao đổi hàng hoá với thổ dân. Thật ra, các dãy núi rừng này hoàn toàn độc lập với Vương quốc An Nam”. (tr 12 Dân Làng Hồ)
Ranh giới giữa vương quốc An Nam với sắc tộc thiểu số ở đây là tại địa danh nào! Pierre Dourisboure thuật trong Les Sauvages Bahnar về vùng đất phía Tây tỉnh Bình Định:
+ “Nằm cận biên giới phía Tây của tỉnh này, có làng An Sơn vốn là trung tâm buôn bán lớn giữa người Kinh và người dân tộc. Chính nơi đây, vào cuối thế kỷ trước, đã là cái nôi của cuộc nổi dậy của ba anh em nhà Tây Sơn chống vua Gia Long. Từ thời kỳ đáng nhớ này, An Sơn (xưa là Tây Sơn) luôn là mối e ngại cho triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Vì vậy, nhiều điều luật nghiêm ngặt với những hình phạt khắt khe đã được đặt ra cho những người An Nam định cư trên đất của người dân tộc cũng như cho những người dân tộc nào vượt quá lãnh thổ An Sơn để vào đất An Nam. Thật vậy, những người An Nam buôn bán rất tấp nập trong các vùng dân tộc, họ thường xuyên đi lại từ bộ tộc này đến bộ tộc khác, nhưng không ai trong số họ nghĩ đến việc định cư ở đó. Về phần mình, các dân tộc thiểu số cũng xuống tận An Sơn để buôn bán mà chưa bao giờ dám vượt qua biên giới này”.(tr 14 Dân Làng Hồ)
Làng An Sơn mà Linh mục Pierre Dourisboure đề cập, Quốc sử quán triều Nguyễn xác nhận là địa điểm đặt đồn nguồn Phương Kiệu (của Bình Định), Đại Nam Thực Lục kỷ Minh Mạng chép:
Tháng 4 năm Kỷ Sửu 1829, Quan trấn Bình Định tâu rằng:
+ “Nguồn Phương Kiệu đặt ở ấp An Sơn. Năm trước trích phái 5 đội trấn binh theo viên thủ nguyên để phòng ngự người Man Lèo và trông giữ bọn tù bị đày. Nơi ấy rất độc, lính bị ốm nhiều”.(tr 608 Thực Lục tập II)
Nguồn Phương Kiệu ( 方嶠源 ), năm 1829 nơi đây chỉ có binh lính của quan chức trấn đóng giữ nguồn, và dùng làm chỗ giam giữ tù nhân. Nói rộng ra thì An Sơn là khu vực An Khê ngày nay, nếu xét Đại Nam Nhất Thống Chí bản khắc in năm 1909 triều Duy Tân, bộ địa chí đã xác định cụ thể hơn về ấp An Sơn:
+ “Tại Bình Khê huyện An Khê thôn nãi kinh lý nha cựu sở, chợ Đồn xứ cựu tại An Sơn ấp danh Cầu Bông nguyên, địa tối phong chướng. Minh Mạng thập niên di kim sở cải kim danh”.
( 在平溪縣安溪村,乃經理衙舊所,𢄂屯處舊在安山邑,名橋芃源,地最風瘴.明命十年 移今所改今名 )…(tr42 phần Nho Văn, Đại Nam Nhất Thống Chí bản Duy Tân)
Tạm hiểu: Ở thôn An Khê huyện Bình Khê là Nha kinh lý cũ, xứ chợ Đồn trước xưa tại ấp An Sơn tên là nguồn Cầu Bông, nơi có nhiều chướng khí sơn lam. Năm Minh Mạng thứ 10 (1829) dời qua chỗ ngày nay, cải tên mới (là Phương Kiệu)…
Gói gọn lại, ấp An Sơn là vùng chợ Đồn nay thuộc phường An Bình tỉnh Gia Lai, năm 1850 người thiểu số miền Thượng xuống đây trao đổi hàng hóa nhưng theo quan sát của các thừa sai người Tây thì họ chưa bao giờ dám vượt qua biên giới này, còn những người An Nam, họ thường xuyên đi lại từ bộ tộc này đến bộ tộc khác, nhưng không ai trong số họ nghĩ đến việc định cư ở đó. Chung quy chỉ vì An Sơn theo Pierre Dourisboure nhận xét xưa là đất Tây Sơn, địa danh này luôn là mối e ngại cho triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.
Có thể hiểu Tây Sơn ở đây là “Tây Sơn thượng” vùng đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn, vì hồi năm 1838 triều Minh Mạng, người Tây dương đã biết phía Tây huyện Tuy Viễn là Tây Sơn thượng. Trong quyển Tự Điển LaTin – An Nam của Lm. Jean Louis Taberd xuất bản tại Calcutta (Ấn Độ), có in bản An Nam Đại Quốc Họa Đồ, trong đó ghi rõ 3 chữ Tây Sơn Thượng viết theo mẫu tự La Tinh ở phía Tây của Tuy Viễn.
Đại Nam Nhất Thống Chí bản Duy Tân có nói thôn An Khê là Nha Kinh lý cũ, đây là một cơ cấu tổ chức như chính quyền mà trước kia triều Nguyễn sắp xếp, chỉnh đốn công việc trước khi thiết lập đơn vị hành chánh trên cao nguyên An Khê.
II. THÀNH LẬP HUYỆN BÌNH KHÊ
Để hình thành nên huyện Bình Khê ở phía Tây huyện Tuy Viễn của Bình Định, triều Nguyễn phải lần đi từng bước.
1) Nha Doanh điền An Khê
Nha Doanh điền An Khê được thành lập vào niên hiệu Tự Đức thứ 23 (năm 1870) theo ghi chép của Đại Nam Thực Lục:
+ “Tháng 7 năm 1870 bắt đầu đặt nha Doanh điền ở An Khê. Khi trước Biện lý bộ Hộ là Trần Hy Tăng tâu nói: Một dải An Khê (thuộc huyện Tuy Viễn) ở thượng du tỉnh Bình Định, tiếp giáp sơn Man, đất phần nhiều bỏ không, xin mở làm đồn điền, để khai hết nguồn lợi ở đất và để giữ nơi xung yếu”…
Bấy giờ tỉnh thần Bình Định liệu tính:
1._ Xin đặt chánh, phó kinh lý mỗi chức 1 người, cho người Thổ (bản địa) trước lĩnh chức ấy
2._ Xin lập 1 cơ Hương binh, lĩnh tiền công để khai khẩn, 3 năm thành hiệu thì liệu thưởng
3._ Xin bất cứ người hạt nào, tự mộ được người đến đấy khai khẩn, đinh, điền được bao nhiêu, đều được thưởng phỏng theo lệ thưởng ở đồn điền ven biên giới
4._ Xin tùy địa điểm lập làm 8 ấp. (Tân Trạch, Tân Cư, Tân Tụ, Tân Khai, Tân Lai, Tân Dư, Tân Lập, Tân Tạo).
+ Vua chuẩn y cho thi hành. Rồi cho Quyền hàm ngũ phẩm là Tú tài Đặng Duy Hanh đổi hàm Thị giảng, lĩnh An Khê Doanh điền sự vụ, viên Kinh lý tạm đợi tính sau”. (tr 946 Thực Lục tập VII)
Biện lý bộ Hộ Trần Hy Tăng nguyên là Trần Bích San người làng Vị Xuyên tỉnh Nam Định (tên mới: tỉnh Ninh Bình), bạn học với Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Trần Bích San trải 3 kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình đều đỗ đầu như Nguyễn Khuyến, mà đỗ liền 3 kỳ liên tục nên được vua Tự Đức ban biển vinh quy “Liên Trúng Tam Nguyên”, lại ban cho tên là Hy Tăng, với hy vọng mong muốn Trần Bích San được như danh sĩ Vương Tăng đời nhà Tống của Trung Hoa. Để phân biệt với Tam nguyên Yên Đổ, người đời gọi ông là Tam nguyên Vị Xuyên. Ông từng đảm nhận chức Tri phủ Phủ An Nhơn của Bình Định, nên khi về triều ông rắp tâm vận động đồng liêu lập Nha Doanh điền khẩn đất trên cao nguyên An Khê.
Còn Đặng Duy Hanh nguyên là Tú tài, vì quyên 8000 quan tiền để khẩn đất nên được lĩnh chức Doanh điền sứ, năm 1873 vì sai trái khi thi hành nhiệm vụ phải phạt tội lưu theo ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn:
+ Bọn phạm tội lưu (lưu đày) là Đặng Duy Hanh, phạm tội đồ (khổ sai) là Nguyễn Chân ở Bình Định (Hanh nguyên là Tú tài quyên 8.000 quan tiền, được thưởng hàm Thị giảng lĩnh chức Doanh điền ở An Khê; Chân nguyên là Tú tài hàm Đãi chiếu theo làm việc ở nha Doanh điền, năm thứ 25 [năm 1872] vì lĩnh thừa tiền gạo, thay đổi đem cấp phát, phải tội, Hanh là thủ phạm xử tội 100 trượng, lưu 2.000 dặm, Chân là tòng phạm xử tội 100 trượng, đồ 3 năm. (tr 1067 Thực Lục tập VII)
Nha Doanh điền An Khê thực thi công việc không như mong muốn, triều Nguyễn phải chỉnh đốn sửa sang lại thành nha Kinh lý.
2) Nha Kinh lý An Khê
Tháng 5 năm 1877 triều đình đặt Nha Kinh lý An Khê, lấy Bố chánh tỉnh Bình Định Phan Văn Điển người Quảng Ngãi sung chức chánh Kinh lý, phó là Đỗ Văn Thôn người Bình Định nguyên là Phó quản cơ của dinh Vũ lâm. Lúc này Triều đình đặt đồn lính, trích tinh binh cho Nha Kinh lý sai phái. Xét An Khê bấy giờ chỉ có Man người Thượng và một ít dân theo tả đạo (Thiên Chúa) đang xiêu tán ở nơi này (tr 169 Thực Lục tập VIII), cư dân chẳng có là bao, triều đình đưa tù phạm ở tỉnh khác lên đây, và cho trích tiền quyên được để thuê dân nghèo các nơi đến để khẩn ruộng. Đại Nam Thực Lục chép:
+ “Tháng 8 1882 Kinh lý sứ ở An Khê, tỉnh Bình Định là Nguyễn Trường xin trích tiền quyên thuê dân phụ vào việc khai khẩn ruộng hoang. Vua y cho”. (tr 380 Thực Lục tập VIII)
+ “Tháng Giêng 1883 Tha tù phạm quân lưu (97 tên) tỉnh Bình Thuận chia ra giao cho 2 nha Kinh lý ở Bình Định và Điển nông ở Khánh Hoà quản thúc, và xếp đặt chỗ ở để khai khẩn ruộng hoang”. (tr 389 Thực Lục tập VIII)
+ “Tháng 4 năm 1883 Xếp đặt dân nghèo tỉnh Quảng Ngãi đến tỉnh Bình Định (nha Kinh lý) và tỉnh Thuận – Khánh (nha Doanh điền) liệu cấp vốn công cho khai khẩn ruộng hoang cày cấy”. (tr 401 Thực Lục tập VIII)
An Khê có Nha Kinh lý điều hành, tình hình làng mạc được khởi sắc hơn, Đồng Khánh Dư Địa Chí biên soạn quãng 1886 – 1887 cho thấy cao nguyên An Khê bấy giờ có 3 thôn 7 ấp, lệ vào tổng Phú Phong của huyện Tuy Viễn. Đó là 3 thôn An Khê, An Khê Tây, Cửu An, 7 ấp là Tân Cư, Tân Khai, Tân Lai, Tân Lập, Tân Phong, Tân Tạo, Tân Tụ. Còn Đại Nam Thực Lục thì cho biết nhờ được cấp trâu cày, đồ làm ruộng, mộ dân các nơi đến cày cấy… Nha Kinh lý An Khê bấy giờ hộ khẩu hơn 800 người, ruộng đất hiện thành 900 mẫu. (tr 389 Thực Lục tập VIII)
Với những kết quả mà Nha Kinh lý đạt được, năm Đồng Khánh thứ 3 Nha Kinh lý An Khê được nâng lên làm huyện Bình Khê, đặt quan cai trị.
Ảnh 1: Mộc bản Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện quyển 30, trang 2:
+ thượng đạo tức Man trung, hạ đạo tức Kiên Thành ấp
( 上道卽蠻中,下道卽堅城邑 )
Ảnh 2: An Nam Đại Quốc họa đồ của Linh mục Taberd in năm 1838:
+ khu vực phía Tây huyện Tuy Viễn là Tây Sơn thượng
3) Huyện Bình Khê
Tháng 6 năm 1888, gã phiêu lưu người Pháp Charles Marie David de Mayréna lên KonTum lập vương quốc Sedang, đất nước của sắc tộc người Bahnar và Sedang. Chưa được quốc gia nào công nhận, nhưng Mayréna đã thuyết phục toàn quyền Đông Dương Étienne Antionne Guillaume Richaud mua lại. Bị từ chối, Mayréna lại sang Hồng Công gạ bán cho người Anh, việc không thành Mayréna lại sang Bỉ. Người Pháp quyết liệt chống lại sự hình thành vương quốc Sedang, đầu năm 1889 Mayréna bị cấm trở lại Tây nguyên, vương quốc Sedang giải tán.
Tháng 9 năm 1888 huyện Tuy Viễn lấy 18 thôn trong huyện sáp nhập với 28 thôn mới mộ khẩn của nha Kinh lý An Khê, lập nên huyện Bình Khê [平溪] do phủ An Nhơn thống hạt. Huyện phân làm 4 tổng Vĩnh Thạnh [ 永盛 ], Thuận Đức [ 順 德 ], An Khê [ 安溪 ] và Tân Phong [ 新豐 ], với tất cả là 46 thôn trang (tr 13 Đại Nam Nhất Thống Chí bản Duy Tân), Huyện lỵ đặt tại thôn Thượng Giang, tổng Vĩnh Thạnh, nay là thôn Thượng Giang 2 xã Tây Giang, huyện Tây Sơn (tên mới: xã Bình Khê tỉnh Gia Lai).
28 thôn mới mộ khẩn, ngoài 3 thôn 7 ấp liệt kê trong Đồng Khánh Dư Địa Chí thì chưa minh bạch hồi đó chúng ở vị trí nào, nhưng hẳn là chúng thuộc tổng An Khê và Tân Phong. Còn 18 thôn của huyện Tuy Viễn trích ra, gồm 10 thôn của tổng Phú Phong và 8 thôn của tổng Mỹ Thuận (tr 13 Đại Nam Nhất Thống Chí bản Duy Tân), có thể minh định, thống kê được:
+ 10 thôn của tổng Phú Phong trừ đi 3 thôn An Khê, An Khê Tây, Cửu An đã thuộc tổng An Khê và Tân Phong, còn 7 thôn đặt làm tổng Vĩnh Thạnh là các làng trong Đồng Khánh Dư Địa Chí: Vĩnh Thịnh, Định Chiêu (cải là Định Quang), Tiên Thuận, Thượng Giang, Hữu Giang, Tả Giang, và Trinh Tường.
+ 8 thôn của tổng Mỹ Thuận đặt làm tổng Thuận Đức [ 順德 ], trong bản đồ phân bổ sắc tộc ở Bình Định của người Pháp năm 1905 thấy chép tổng này là Thuận Truyền, người huyện Tây Sơn cũ từ lâu cũng gọi tổng này là Thuận Truyền [ 順傳 ] gồm các làng trong Đồng Khánh Dư Địa Chí: Thuận Ninh, Mỹ Thạch, Kiên An (cải là Thuận An), Kiên Nhứt (cải là Thuận Nhứt), Kiên Hạnh (cải là Thuận Hạnh), Kiên Truyền (cải là Thuận Truyền), Phú Ân, và Hưng Long.
Thực thi quyền bảo hộ theo hiệp ước Giáp Thân 1884, người Pháp tác động triều đình Huế phân bổ lại địa giới cũng như cơ cấu hành chánh vùng có người sắc tộc thiểu số. Năm 1899 Darlac được tự trị tách khỏi Lào, năm 1904 chính thức là tỉnh, nhưng sau cải là Đại lý hành chánh trực thuộc tỉnh KonTum. KonTum bấy giờ được thành lập ngày 09.02.1913 hợp nhất từ 3 Đại lý hành chánh: Darlac (mới lập), Đại lý KonTum của Bình Định, cùng Đại lý CheoReo của Phú Yên.
Ngày 28.3.1917 có Nghị định cắt tổng Tân Phong và An Khê của huyện Bình Khê tỉnh Bình Định để lập Đại lý hành chánh An Khê cho sáp nhập vào tỉnh KonTum. (tr 340 Việt Nam Những Sự Kiện Lịch Sử 1858-1918). Có nghĩa là địa giới huyện Bình Khê lui xuống đồng bằng, nhưng sứ mệnh thiết lập cơ cấu hành chánh đặt chính quyền ở cao nguyên An Khê, huyện Bình Khê đã làm tròn chức năng của nó.
Việc tạo lập một cộng đồng dân cư hình thành nên thôn ấp không thể trong một sớm một chiều. Cao nguyên An Khê vốn là đất của các sắc tộc người miền Thượng, cuối thế kỷ 18 là đất tụ nghĩa của phong trào Tây Sơn chống lại sự hà khắc của chúa Đàng Trong. Khi Gia Long lên ngôi tiếp quản vùng đất này nhưng chỉ đặt binh lính trấn giữ đầu nguồn, tháng 12 năm 1817 Gia Long lấy một hàng tướng Tây Sơn làm quan Thủ nguyên trấn giữ nguồn:
+ “Lấy khâm sai Chưởng cơ vệ úy Vệ Thiện võ Hữu quân là Nguyễn Văn Tứ lãnh Quản thủ nguồn Cầu Bông (thuộc tỉnh Bình Định). Tứ là người ấp Tây Sơn (sau đổi là An Tây) trấn Bình Định. Năm Gia Long thứ 8 [1809] nhân già nghỉ việc. Vua nghĩ là người có công, muốn cho ăn lộc trọn đời, nhân ở gần chỗ nên cho lãnh chức ấy” (tr 1021 Thực Lục tập I).
Sang triều Minh Mạng ông vua có óc cải cách hành chánh vỡ ruộng lập ấp lập làng, tháng 3 năm 1828 Minh Mạng từng cho người giàu có ở địa phương trông coi việc mộ dân nghèo các hạt để khai khẩn: mộ được 50 người lập làm một làng thì cho làm Lý trưởng, mộ được 30 người lập làm một ấp thì cho làm Ấp trưởng. Triều đình cấp tiền công xây dựng nhà cửa, mua trâu bò, nông cụ, gạo mắm dùng trong 6 tháng (tr 556 Thực Lục tập II). Nhưng bộ Địa bạ 1839, kể cả bộ Địa bạ năm 1815 của Bình Định không thấy làng mới lập nào ở cao nguyên An Khê. Ấp An Sơn nơi đặt nguồn Phương Kiệu năm 1829 bất quá chỉ là ấp khoảng chừng 30 người, là thân nhân của binh lính theo lên khẩn đất làm ăn, còn bấy giờ việc định cư lập làng là một chuyện khác. Theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, Địa Bạ lập năm Tự Đức thứ 26 (1873) cho tổng Phú Phong của huyện Tuy Viễn, có nghĩa ruộng đất ở An Khê được đo đạc lập sổ bộ sau khi hình thành Nha Doanh điền. Qua đó thôn An Khê điền thổ được 52,9 mẫu, trong đó 20,1 mẫu tư điền, 10 mẫu tư thổ, còn lại là công điền (tr 895 Nghiên Cứu Địa Bạ Tỉnh Bình Định tập II).
Điều quan trọng là đất cao nguyên An Khê lúc này các sách sử đều ghi nhận là “lam chướng rất độc”. Ngay vào năm 1898 lúc mà đã lập huyện Bình Khê ở cao nguyên, công ty Delignon & Paris lập đồn điền ở tổng Tân Phong nay là vùng Đồng Chè xã Cư An huyện DakPơ (tên mới: phường An Bình), việc tìm kiếm nhân công cho đồn điền không phải dễ, tuyển người tại chỗ vì họ mới định cư lập thôn lập huyện, đi làm thì xã tổng thiếu nhân lực, tuyển từ đồng bằng lên ai cũng sợ “rừng thiêng nước độc” sẽ bị chết bởi bệnh sốt rét (website báo Gia Lai Online ngày 19.02.2022).
Trong các tiêu chí của việc khẩn đất lập làng, kế hoạch phòng chống bệnh tật không thể thiếu vắng. Ngày xưa làng mạc phải “liền nhau” để dễ đối phó với bệnh tật cũng như chung tay chống cự trộm cướp, thú hoang… Từ năm Mậu Tý 1648 Thế tử Nguyễn Phúc Tần bắt được 3 vạn tù binh Trịnh ở Quảng Bình, chúa Nguyễn Phúc Lan cho rải khắp Xứ Quảng Nam, cứ 50 người làm một Ấp, cấp lương cho ăn nửa năm để khẩn ruộng. Nhờ đó mà bấy giờ từ miền “Thăng Điện (là Thăng Bình và Điện Bàn của Quảng Nam) đến Phú Yên, làng mạc liền nhau” (tr 64 Thực Lục tập I).
Năm 1888 huyện Bình Khê thành lập, đất An Khê liền lạc với các làng đồng bằng phía dưới, có quan lại cai trị nên cư dân được yên ổn làm ăn. Huyện Bình Khê xem như là đơn vị hành chánh mở đường cho người Việt định cư trên cao nguyên An Khê.
Huyện đường Bình Khê năm 1896 (ảnh của Jean-Marc Bel) - Đúng ra là phía trước cổng, phía sau cột cờ mới là huyện đường.
Nguồn: Hội Yêu Thích Tháp & Văn Hóa Cham




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét