Sáng nay tôi đi dự Hội thảo “Giáo sư Hoàng Tuệ - Ngôn ngữ trong đời sống xã hội” ở Viện Hàn lâm KHXHVN ở 1 Liễu Giai.
Khi đến nơi thì thấy nhà văn Bảo Ninh là con trai của GS Hoàng Tuệ đang chào đón bạn bè và người quen. Thấy tôi, anh ôm chầm và gọi tên. Vì đã lâu quá không gặp và chúng tôi từng có nhiều giao lưu trong mươi năm trước đây. Hôm nay nhiều người đã kể về Hội thảo này rồi nên nhân gặp anh Bảo Ninh tôi lại muốn kể câu chuyện năm xưa mà có lẽ rất ít người biết là chuyện anh được mời đi Nhật rồi làm thủ tục khó khăn như thế nào.
Chuyện Như sau:
Từ năm 2001 đến 2003 tôi được mời thỉnh giảng tại Khoa tiếng Việt, Đại học Ngoại ngữ Tokyo. Khoảng năm 2002 thì Đại học Ngoại ngữ Tokyo tổ chức một Hội thảo quốc tế lấy tên là “ Ký ức chiến tranh-Nỗi buồn chiến tranh” (senso no kyouku, senso no kanashimi), vế sau chính là tên tiểu thuyết của nhà văn Bảo Ninh. Để tổ chức Hội thảo này thì Ban tổ chức Hội thảo đã mời nhà văn Bảo Ninh, một nhà văn từng mặc áo lính của chính quyền Hà Nội và nhà văn Phan Nhật Nam, một nhà văn từng là chiến binh của chính quyền Sài Gòn, thời gian đó đang định cư tại Mỹ. BTC cũng mời một nữ TS người Hàn Quốc, nghiên cứu về Văn học Việt Nam, một giáo sư Trung Quốc nghiên cứu về Việt Nam, và nhiều giáo sư Nhật Bản.
Bảo Ninh rất nổi tiếng ở Nhật Bản, nhiều người say mê văn học coi Bảo Ninh là thần tượng. Họ rất háo hức được tận thấy Bảo Ninh.
TƯỞNG KHÔNG THỂ ĐI ĐƯỢC
Trong những ngày trước Hội thảo, Giáo sư Kenichi Kawaguchi và Giáo sư Akio Imai của Khoa tiếng Việt Đại học Ngoại ngữ Tokyo đã mất nhiều công chuẩn bị. Tuy nhiên thông tin không vui mà ban tổ chức nhận được là có thể Nhà văn Bảo Ninh sẽ không sang dự Hội thảo được do thủ tục giấy tờ phức tạp.
Tôi vẫn nhớ, những đêm đó, GS Kawaguchi ngủ lại ở phòng nghiên cứu cách phòng nghiên cứu của tôi một phòng là phòng của GS Imai. Ông ngủ lại để tiện liên lạc bằng cả email và khi cần thì cả điện thoại với nhà văn Bảo Ninh. Khi đó Bảo Ninh hình như làm việc tại tòa soạn báo Văn nghệ.
Tôi vẫn nhớ, một tối ông sang phòng tôi và đưa cho tôi xem email của nhà văn Bảo Ninh, đại ý: Tôi rất cảm ơn Giáo sư đã nhiệt tình mời tôi tham gia Hội thảo. Vì Giáo sư đã rất nhiệt tình nên tôi cũng đã cố gắng tiến hành các thủ tục. Tuy nhiên công việc vẫn không tiến bộ. (Tôi bật cười vì cách dùng từ “tiến bộ” của nhà văn). Tôi sẽ cố gắng và tiếp tục chờ đợi.
Vài hôm sau, GS Kawaguchi lại sang phòng tôi và đưa tôi xem email của nhà văn Bảo Ninh. Nội dung đại ý là: “Cấp thẩm quyền ở Việt Nam đã đồng ý cho tôi đi Nhật dự Hội thảo, tuy nhiên hôm nay là thứ Sáu và người ta trao cho tôi giấy tờ vào lúc ngoài 4 giờ chiều để đi làm thủ tục ở sứ quán Nhật Bản. Tôi không thể đến sứ quán Nhật Bản trong giờ làm việc được nữa, mà thứ Hai thì Hội thảo đã tổ chức rồi. Ngày mai tôi sẽ ra phòng vé để trả lại vé máy bay. Rất tiếc là tôi đã không thể sang dự Hội thảo của Giáo sư. Xin cảm ơn Giáo sư đã rất nhiệt tình mời tôi và chúc Hội thảo thành công.”
Giáo sư Kawaguchi ngay lập tức gọi điện thoại cho nhà văn Bảo Ninh trong đêm thứ Sáu đó và đề nghị nhà văn kiên nhẫn, không trả vé và bên Đại học Ngoại ngữ Tokyo sẽ tổ chức phiên “Hậu Hội thảo” dành riêng cho Nhà văn Bảo Ninh tiếp xúc với độc giả và giới nghiên cứu Việt Nam ở Nhật Bản. Đồng thời các giáo sư Nhật Bản cũng liên lạc với sứ quán Nhật Bản, giải quyết visa nhanh cho nhà văn Bảo Ninh. GS Kawaguchi là thầy dạy tiếng Việt của Bộ Ngoại giao Nhật Bản. Một học trò cũ tiếng Việt của tôi là đại diện văn phòng thương mại Nhật Bản ở Hà Nội cũng kể chuyện với tôi là giới doanh nhân Nhật Bản ở Việt Nam thích Bảo Ninh cũng theo dõi sát chuyện này và tìm cách làm thế nào đó để có visa nhanh nhất cho nhà văn Bảo Ninh. Thế là nhà văn Bảo Ninh được cấp visa ngay lập tức mà không phải chờ đợi và bay sang Nhật ngay thứ Ba.
HẬU HỘI THẢO
Khoảng vài ngày sau đó, phiên “Hậu hội thảo Ký ức chiến tranh-Nỗi buồn chiến tranh” được tổ chức tại một hội trường khác của Đại học Ngoại ngữ Tokyo. Rất nhiều fan hâm mộ nhà văn đã đến trường lần thứ hai trong cùng một tuần vì hôm Hội thảo, BTC thông báo nhà văn chưa sang kịp nhưng sẽ có phiên “Hậu hội thảo”.
Lại nói chuyện hôm hội thảo mà vắng nhà văn Bảo Ninh. BTC đã tìm được một người tạm thay vị trí của nhà văn Bảo Ninh là anh Tuấn, vốn là phóng viên báo Đại Đoàn kết, có vợ là Phóng viên của báo Yomiuri Nhật Bản nên định cư tại Nhật và có dạy môn báo chí Việt Nam ở Đại học Ngoại ngữ Tokyo. Tôi vẫn nhớ người đến dự Hội thảo khoảng hơn 300 người, vì Hội trường 300 chỗ nhưng phải kê thêm ghế. Các giáo sư đều nói, họ đến đông thế là để được gặp nhà văn Bảo Ninh. Nhưng rất tiếc nhà văn chưa sang kịp.
Ở phiên Hậu hội thảo, sau khi giới thiệu ngắn về nhà văn Bảo Ninh thì có phần nhà văn được yêu cầu đọc một trang tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” bằng tiếng Việt. Mọi người lắng nghe, chỉ để nghe giọng của tác giả mà hầu hết không hiểu nội dung, tuy nhiên mọi người lắng nghe chăm chú. Ở Nhật thì điều này rất là đặc biệt.
Đến phần hỏi đáp thì cũng rất thú vị. Có nhiều câu hỏi nhưng tôi cũng không còn nhớ rõ. Chỉ nhớ nhất là một độc giả nam mang theo một tập ảnh các loại súng ngắn và súng dài, có lẽ có AK47… và so sánh với các loại vũ khí mà Bảo Ninh tả trong sách và hỏi, cái nào thì tương ứng với loại được kể trong tiểu thuyết. Cả hội trường cười ầm lên. Có vẻ nhà văn Bảo Ninh hơi bị bất ngờ và anh trả lời là chiến tranh trôi qua cũng đã lâu, tôi không còn nhớ rõ để phân biệt số hiệu súng nữa.
Có độc giả bảo, tôi đọc “Nỗi buồn chiến tranh” của ông mê mải và tôi thích cô Phương quá. Công nhận cô Phương đẹp thật….
NHỮNG CHUYỆN NGOÀI NỘI DUNG HỘI THẢO:
DỊCH GIẢ KHIẾU NẠI
Có lẽ Bảo Ninh là nhà văn duy nhất ở Việt Nam (ngoài Đại thi hào Nguyễn Du)có tác phẩm được 2 người dịch ra tiếng Nhật. Có một bản dịch ra tiếng Nhật từ tiếng Anh của một nữ dịch giả và một bản dịch từ tiếng Việt ra tiếng Nhật của một nam dịch giả. Điều éo le là hình như bản dịch Nỗi buồn chiến tranh từ tiếng Anh sang tiếng Nhật lại bán chạy hơn. Nhân khi biết tin nhà văn Bảo Ninh ở Tokyo thì nam dịch giả là từ Osaka đánh đường lên và xin gặp Bảo Ninh sau phiên “Hậu hội thảo”.
Mọi người bố trí cho dịch giả gặp nhà văn ở phòng nghiên cứu của tôi. Tuy là dịch giả nhưng ông không nói được tiếng Việt, chỉ đọc được thôi. Vì vậy ông phải thuê một phiên dịch người Nhật đang là học viên cao học ở trường. Tôi vẫn còn nhớ, Dịch giả này nói: Cuốn của tôi là dịch từ tiếng Việt sang tiếng Nhật nên sẽ trung thực hơn cuốn kia dịch từ tiếng Anh sang tiếng Nhật. Tôi nhờ nhà văn hiểu điều đó và nói cho tôi điều đó. Bảo Ninh trả lời: tôi không biết tiếng Anh, tôi cũng không biết tiếng Nhật nên tôi không thể nói gì cả.
TƯỞNG LÀ QUÁN CƠM NHƯNG LÀ PHỐ ĐÈN ĐỎ
Khi nhà văn Bảo Ninh sang thì đêm đầu tiên BTC thuê cho anh ở một Khách sạn gần ga Sugamo. Từ ga đến khách sạn có đi qua một con phố kiểu đèn đỏ, có các nhân viên nam đứng trước các cửa hàng vỗ tay mời mọc. Buổi tối tôi cùng mấy sinh viên, thực tập sinh người Việt đến thăm anh ở Khách sạn. Chúng tôi nói nhiều chuyện, nhất là chuyện thanh niên trên mạng Trí tuệ Việt Nam bình phẩm ca ngợi cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của anh. Hồi đó mạng Trí tuệ Việt Nam là một mạng trao đổi kiến thức đủ mọi lĩnh vực của giới trẻ Việt Nam. Phần tranh luận về Nỗi buồn chiến tranh cũng rất sôi nổi.
Có bạn bảo là “bị cấm”, có bạn lập tức tranh luận lại: “Không phải bị cấm mà là bị đình bản. Đình bản tức là tạm không cho xuất bản tiếp.” Có bạn còn cung cấp một bản lí lịch chi tiết của Bảo Ninh (tên thật, năm sinh quê quán,…). Bảo Ninh lúc đó cũng còn I tờ về mạng nên rất ngạc nhiên và bảo : thằng này là công an hay sao mà nó biết mình rõ thế?” . Tôi có in ra một tập đưa cho anh. Nhưng điều làm chúng tôi bật cười là Bảo Ninh nhận xét là bên Nhật đây họ cũng giống bên mình, đi qua phố gần ga họ cũng nhiệt tình mời vào quán ăn như bên ta. Bọn tôi mới giải thích, không phải quán ăn đâu. Đó là những quán kiểu “đèn đỏ” đấy. Ngày hôm sau thì BTC chuyển cho nhà văn đến một khách sạn sang trọng hơn và ở gần Trường hơn.
ĐI BỘ KHÔNG QUEN
Sau phiên hậu hội thảo thì GS Imai và tôi đưa Bảo Ninh đi tham quan Tokyo. Vì người Việt ở Việt Nam rất ít đi bộ mà động tí là xe máy nên không quen đi bộ. Ở Tokyo thì phương tiện di chuyển chủ yếu là tàu điện nên phải đi bộ từ ga đến điểm tham quan. Vừa đi được vài ba điểm thì Bảo Ninh kêu với tôi là mệt quá, đi không nổi. GS Imai muốn đưa Bảo Ninh đi vài điểm nữa nhưng anh đành nói thật với GS Imai là: Tôi kiệt sức rồi.
Buổi tối, các GS Nhật mời Bảo Ninh đi nhà hàng. Ban đầu các GS mời anh uống bia nhưng anh từ chối là tôi không uống bia. Nhưng các giáo sư nói, có lẽ uống một cốc đã rồi uống rượu sau. Lúc đó Bảo Ninh đành nói: xin lỗi, tôi mà uống bia là tôi bị đau bụng. Thế là Bảo Ninh uống rượu sake luôn khi mọi người đang uống bia. Tối đó anh uống khá nhiều sake.
Ở HÀ NỘI
Kể thêm chút là đợt đó Mẹ tôi cũng đang ở Nhật thăm cháu. Vì tôi có gia đình đi cùng nên Trường thuê cho tôi một nhà to gần trường, nhà có vườn như là biệt thự kiểu nhà cổ Nhật. Đó cũng là trung tâm tụ tập người Việt khi có dịp hoặc mỗi khi Tết đến xuân về. Đợt Bảo Ninh sang, tôi cũng kể trước với cả nhà và Mẹ tôi cũng đã tranh thủ đọc trước “Nỗi buồn chiến tranh”của Bảo Ninh để hôm nhà văn đến uống rượu thì còn biết đường mà nói chuyện với nhà văn. Bảo Ninh cũng về nhà tôi uống rượu một bữa. Hôm đó tôi bảo là bà cụ vừa đọc xong tiểu thuyết của anh để nói chuyện với anh đấy.
Bảo Ninh cười bảo dạ con không dám đâu Bà ạ. Từ sự quen biết này, sau này về Hà Nội, tôi cũng đã mời anh và anh Phạm Xuân Nguyên Nguyen Pham Xuan (từng nghiên cứu ở ĐHNN Tokyo năm 2002-2003) đến nhà tôi uống rượu vài lần. Cũng nhờ mối quen biết này mà về sau rất nhiều lần tôi đã giúp Trường nhân văn mời Bảo Ninh giao lưu với các đoàn sinh viên của các Đại học Mỹ qua Hà Nội du học. Tôi nhớ có lần thì thầy Phạm Quang Minh, khi đó còn làm Trưởng Khoa Quốc Tế học, tôi thì làm Trưởng phòng QHQT của Trường, nhờ tôi liên hệ giúp đoàn sinh viên Mỹ mời nhà văn Bảo Ninh đến giao lưu. Điểm giao lưu hôm đó là một quán cà phê ở cạnh Văn Miếu, do một cô gái tên là Ngọc đã tốt nghiệp Đại học Harvard về mở. Khi nhà văn giao lưu xong thì GS trưởng đoàn Mỹ nói là được biết nhà văn thích uống rượu nên chúng tôi muốn cảm ơn nhà văn bằng chai rượu này.
Một lần khác thì buổi giao lưu được tổ chức ở Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt. Tôi nhớ hôm đó hơi bí phiên dịch nên họ nhờ tôi tìm, và tôi đã nhờ một sinh viên năm thứ 3, sinh viên của thầy Minh phiên dịch giúp cho nhà văn Bảo Ninh hôm đó. Cô sinh viên đó bây giờ là giảng viên của Khoa Quốc tế học TS. Lena Le.
Sáng nay anh Phạm Xuân Nguyên nói với tôi là bây giờ Bảo Ninh không được uống rượu nữa vì sức khỏe không cho phép. Đối với một người thích rượu mà phải bỏ rượu thì cũng có nỗi buồn, có lẽ cũng chẳng kém gì “Nỗi buồn chiến tranh”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét