Hết sức phong phú về cấu trúc. Có câu dài 7,8 từ, thậm chí hàng ngàn câu như trong các Ot n’trong, nhưng cũng có câu chỉ 3,4 từ. Lời nói vần có mặt trong tất cả các hình thức ngôn từ dân gian Mnông như lời khấn thần ( prah), ru con (nhung kon) , hát đố ( tăm hôr, mpring nchoroh), hát đối đáp ( ngơi prai), hát khóc ( nhim khât), luật tục (doih, bhat kduôil),sử thi ( ot n’trong) gia phả ( ro yau), kuach yau) . Kinh nghiệm sản xuất, ứng xử…
Ví dụ như “ Tăp rling jêng plang/ tăp rlang jêng i/ Tăp yăr bri jêng ruch mpuih/Tăp klang guih jêng sial ban bhiar – dịch là : Chim Rling đẻ trứng thì hạn/ Chim Rlang đẻ trứng thì trời âm u/ gà rừng đẻ trứng thì rẫy đốt không cháy/ Chim Klang đẻ trứng thì lúa sẽ lép”.
Hoặc “ Tâm dah anh hoi yang ka/ Tâm ya anh hoi yang yun/ Queel n’hanh anh hoi yang kon, yang bao/ Tâm rlao hoi yang sra, yang yơng – Dịch là :Trong nước tôi gọi thần cá/ Trong bãi tranh tôi gọi thần núi/ trong buồng bếp tôi gọi con thần, vợ thần/ trong chòm rừng tôi gọi thần cào cào…”.
Hay nói về người lười biếng “ Ji ngot joi ba/ mih sa joi tuanh – Dịch là : Lúc bụng đói mới nghĩ tới lúa/ Lúc trời mưa mới tưởng tới chòi”.
Nói tới gia đình không hạnh phúc, vợ chồng bất hòa “ Ur tanh brai sai lah, amâu ơh/Sai tanh sah ur lah , am âu ơh- dịch là : Vợ dệt vải thì chồng bảo đừng/ Chồng đan gùi thì vợ bảo không”.
Câu đố : “ Sa păng n’hung sak păng brô măng – dịch : chính nó thì nhát nhưng lại hay đi đêm ( con nai) / Săk păng rôi mbăn ôi sat – dịch : chính nó kéo chỉ nhưng lại mặc váy rách ( cái sa quay chỉ)”…
Qua những dẫn chứng trên, có thể thấy Lời nói vần Mnông không tuân thủ bất cứ quy tắc cố định nào, vần luôn bất ngờ xuất hiện, khiến cho câu nói trở thành dễ nhớ, dễ thuộc. ( VHDG Mnông 1993).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét