Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2025

ĐƠN GIẢN HÓA CÁCH XƯNG–GỌI (Lê Đình Khẩn)

1. Xưng–gọi khi giao tiếp với người lạ như thế nào? Khi lần đầu tiên gặp gỡ, giao tiếp với ai đó ngoài xã hội , người Việt chúng ta thường cảm thấy lúng túng, trong cách lựa chọn từ xưng–gọi. Tự xưng là gì, và gọi người đối thoại là gì đây? Bởi vì cách xưng–gọi của người Việt chúng ta rất phức tạp.

Đó cũng chính là nỗi lo lắng và “sợ hãi” của những người viết sách dạy tiếng Việt; của những người học tiếng Việt, đặc biệt là người nước ngoài .
Trong một bài hát thiếu nhi, bài “Con Chim Vành Khuyên”, có đoạn:

Chim gặp bác Chào Mào, chào bác!
Chim gặp cô Sơn Ca, chào cô !
Chim gặp anh Chích Chòe, chào anh!
Chim gặp chị Sáo Nâu, chào chị !

Vậy là trước khi cất tiếng chào, thì Chim Vành Khuyên, ít nhất cũng phải xác định tuổi tác của từng đối tượng.
Chào Mào có lẽ lớn tuổi hơn cha mình ở nhà, nên phải gọi là “bác”.
Sơn Ca, chắc cũng bằng tuổi cô mình ở nhà, nên gọi là “cô”
Chích Chòe và Sáo Nâu, thì chắc là nhiều tuổi hơn mình, nên gọi là “anh”, là“chị”.

Vậy là, trước khi tiếp xúc, trò chuyện với ai đó, người Việt chúng ta phải xác định độ tuổi của người nghe (áng chừng), để quyết định cách xưng–gọi.( Đấy là chưa nói, còn cần phải xác định địa vị xã hội của người mình đang tiếp xúc; như là chức vụ gì, nghề nghiệp gì v.v..)

Nếu ước lượng tuổi của đối tượng sai, thì kèm theo cách xưng–gọi sai, sẽ dễ dẫn đến điều bất lợi trong giao tiếp !

2. Nguyên nhân gây ra tình trạng phức tạp trong xưng– gọi là gì?

–Một là, do thói quen truyền đời, dùng từ không đúng chỗ, sai đối tượng.
Người Việt có một hệ thống từ xưng– gọi rất phong phú. Những từ ấy, vốn chỉ được dùng trong giao tiếp nội bộ, giữa những người trong gia đình, dòng tộc, họ hàng có cùng huyết thống.

Nhưng rồi chúng ta lại đưa ra dùng với những người xa lạ ngoài xã hội, vốn không thân thiết gì!
Gồm có những cặp xưng– gọi cơ bản, theo hai chiều thông dụng sau :
“Cháu, con, em, tôi (tui)… <======> Ông, bà, cố, cụ , bố, cha, thầy, tía, mẹ, má, me, mế, mệ, bác, bá. chú, thím, cậu, mợ, mự, dì, dượng, cô, o, anh, chị , mình…”

Ngoài ra còn một số cặp xưng–gọi, không chuẩn mực, biểu cảm âm tính như:

“tao (tau), tớ, ta ,đây, tụi tao<====> mày, tụi mày, mi, ngươi, đấy …”.
Từ “thầy”, “cô” trong các từ hai âm tiết: “thầy giáo”, “cô giáo”,nguyên cũng là từ để gọi, nhưng lâu dần chúng đã trở thành danh từ chỉ nghề nghiệp.

–Hai là, Người Việt chúng ta, thiếu khách quan trong tư duy xưng–gọi.
Cho rằng, dùng từ xưng–gọi trong quan hệ họ hàng huyết thống, để giao tiếp ngoài xã hội, sẽ kéo quan hệ giữa người nói, với người nghe, trở nên gần gũi thân thiện hơn. Góp phần thể hiện tính tôn/ti trong ứng xử kiểu phong kiến nho giáo.

–Ba là, sự đa dạng của phương ngữ (tiếng địa phương) cũng góp phần không nhỏ tạo nên tình trạng phức tạp này.

3. Làm sao để đơn giản hóa cách xưng– gọi ?

–Cần thay đổi lối tư duy thiếu khách quan, thiếu khoa học trong cách xưng–gọi.
–Bỏ thói quen truyền đời : dùng từ xưng–gọi trong nội bộ gia đình dòng tộc, làm từ xưng–gọi ngoài xã hội.
–Một số người (đặc biệt là tầng lớp “trí thức nửa mùa”) tránh né bằng cách đưa vào tiếng Việt những “từ ngoại lai”, như là: “moa”- “toa”, “ngộ” – ”nỉ”, “ai”- “diu”, mỗ– chư vị v.v.. Đó là điều hoàn toàn không nên chút nào.
– Hãy khắc phục tình trạng tiêu cực vừa nêu trên , bằng chính từ ngữ của tiếng Việt chúng ta.

4. Kiến nghị

Trước đây, chúng tôi từng đề xuất một số dự kiến, về vấn đề này, gửi đến cơ quan chuyên môn, để tiếp tục nghiên cứu và nếu được thì thực thi. Nay đăng để các bạn tham khảo và cùng thảo luận. Cụ thể các từ xưng–gọi (còn gọi là “đại từ nhân xưng”) trong giao tiếp xã hội của tiếng Việt, gồm :

– Ngôi 1 (xưng) : TÔI; CHÚNG TÔI
–Ngôi 2 (gọi) : ÔNG, BÀ, BẠN ; CÁC ÔNG, CÁC BÀ, CÁC BẠN
Trường hợp trang trọng, cần thái độ khách khí, xã giao, lịch sự, thì ngôi hai gọi là: NGÀI, QUÝ ÔNG, QUÝ BÀ, QUÝ VỊ …
–Ngôi 3 (chỉ trỏ) : ÔNG ẤY, BÀ ẤY, BẠN ẤY , CÁC ÔNG ẤY, CÁC BÀ ẤY, CÁC BẠN ẤY; HỌ
Ngôn ngữ vốn có tính võ đoán, quy ước, vì thế dùng một thời gian sẽ quen dần, không còn bỡ ngỡ nữa !

P/S:
1/ Có người cho rằng : Người nhỏ tuổi, xưng “tôi” với người lớn tuổi, hoặc kẻ bề trên là “hỗn”.
Nghĩ thế là sai, vì từ “tôi” vốn đã hàm nghĩa khiêm tốn, tự hạ thấp mình rồi (dấu ấn nghĩa ấy còn lưu trong những từ như: tôi tớ. tôi đòi, kẻ bề tôi…)

2/ Lại có người cho rằng, người lớn gọi trẻ con là “bạn”, và ngược lại, nghe không ổn.
Tại sao không ổn nhi! Từ“bạn” có biểu cảm trung tính, không phân biệt tuổi tác, tôn/ ti.

3/ “ông”.“bà” trong trường hợp này ( dùng làm “đại từ nhân xưng”) chỉ có giá trị phân biệt giới tính, chứ không hàm nghĩa chỉ người lớn tuổi.

4/ Trong tiếng Việt có vài từ , lúc thì để xưng, lúc thì để gọi, ví dụ từ “mình”.
Dầu sao cũng không nên dùng trong giao tiếp xã hội.

5/ Thầy giáo, cô giáo gọi học sinh là “bạn”, “các bạn”; tự xưng là “tôi”, “chúng tôi”;
Học sinh tự xưng là “tôi”, “chúng tôi”; gọi người giảng dạy cho mình là “ thầy giáo”, “cô giáo”.
Đó là cách xưng– gọi có biểu cảm trung tính, khách quan, bình đẳng , thân thiện, không hàm nghĩa biểu cảm tôn/ti, không tạo khoảng cách giữa người nói và người nghe.

6/ Các bạn để ý mà xem, lớp trẻ ngày nay khi nói chuyện với nhau, họ hầu hết xưng “tôi” và gọi người nghe là “bạn”, là “ông”, là “ bà”; mặc dầu không sách nào dạy cả. Có thể xem họ là lớp người tiên phong trong việc góp phần làm thay đổi những yếu tố tiêu cực,phức tạp trong tiếng Việt.

7/ Một số tình huống xưng–gọi trong đàm thoại (dùng để tham khảo) :
*Nữ MC 26 tuổi và khách mời 85 tuổi, anh hùng quân đội NDVN.
–MC :Kính chào ÔNG ! TÔI là MC Mỹ Hạnh, rất vinh dự được đón tiếp ÔNG trong buổi phỏng vấn giao lưu này ạ !
–Khách: Chào MC Mỹ Hạnh cùng tất cả CÁC BẠN khán-thính giả quý mến của TÔI !
*Nữ MC 26 tuổi và thủ tướng chính phủ nước CHXHCNVN, 62 tuổi.
–MC : Xin kính chào ÔNG (ngài) thủ tướng ! Tôi là MC Mỹ Hạnh, rất vinh dự được đón tiếp và làm việc với ÔNG trong buổi phỏng vấn, giao lưu long trọng này ạ !
– Khách : Vâng. Chào BẠN, MC Mỹ Hạnh thân mến, cùng tất cả CÁC BẠN khán -thính giả quý mến của TÔI !
*Cô giáo và học sinh lớp 6A. Cô bước vào lớp.
– ( cả lớp đứng dậy) : Chào cô giáo ạ.
–Cô giáo: Chào CÁC BẠN. Mời CÁC BẠN ngồi xuống !
–Lớp trưởng: Thưa cô, hôm nay lớp CHÚNG TÔI vắng mặt hai BẠN ạ
– Cô giáo : BẠN Hào và BẠN Nguyên, bệnh vẫn chưa khỏi à?
–Lớp trưởng: Thưa cô, (dạ) vâng ạ.
–cô giáo: Ngày mai TÔI và CÁC BẠN đến thăm hai BẠN ẤY . Cả lớp đồng ý không ?
– Cả lớp : CHÚNG TÔI đồng ý, thưa cô.
*Ông giám đốc công ty 35 tuổi và anh sinh viên tìm việc 22 tuổi
–SV : Chào ÔNG giám đốc ạ !
– GĐ : Vâng, Chào BẠN ! Mời BẠN ngồi !
– SV : Thưa ÔNG ! TÔI muốn xin việc làm tại quý công ty ạ .
–GĐ : BẠN cho tôi xem hồ sơ của BẠN .
*Tại một cơ sở ngân hàng, khách hàng là bà lão 80 tuổi, nam nhân viên 24 tuổi.
–NV : Thưa BÀ, CHÚNG TÔI có thể giúp được gì cho BÀ ạ ?
–khách : TÔI muốn rút 100 triệu đồng trong sổ tiết kiệm. Sổ đây. gửi BẠN ,
–NV: Dạ vâng, xin BÀ ngồi đợi một chút ạ !,

8/ “Đồng chí” là một từ Hán (同志 tong zhi , tức cùng chí hướng đi đến xã hội cộng sản). Nó theo chân những người cộng sản Việt Nam vào Tiếng Việt. Nó chủ yếu được dùng trong nội bộ ĐCS và các tổ chức cánh tay của đảng, như đoàn TN, CA, QĐ… Vì thế chúng ta tạm thời không bàn đến ở đây.
“Tiếng Việt còn, dân tộc còn, tổ quốc còn”.
Các bạn yêu quý của tôi nhỉ !

Sài Gòn, 5. 2024

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...