Thứ Tư, 1 tháng 1, 2025

Văn hóa Mnông - TRƯỜNG CA, SỬ THI (Nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdam)

Các nhà khoa học coi những truyện có vần dài, có tái hiện lại những sinh hoạt, lễ tục…truyền thống, mới được gọi là sử thi. Nhưng trong thực tế, có những truyện thơ dài, chỉ là những câu chuyện truyền miệng về sinh hoạt, nên tôi vẫn dùng cả hai khái niệm trường ca & sử thi nhé. Theo thiển nghĩ cá nhân, xưa kia, tất cả các tộc người thiểu số bản địa Tây Nguyên đều có sử thi, nhưng do những biến động của lịch sử, đời sống xã hội, mà dần mai một. Đặc biệt là đội ngũ những nghệ nhân diễn xướng. 

Do một thời gian rất dài, vì nhiều nguyên nhân, không có điều kiện thực hành, các “ Báu vật nhân văn sống” – theo cách gọi của UNESCO đi dần về với ông bà, nên mất mát là điều không tránh khỏi. Hiện đã sưu tầm được sử thi của các tộc người Mnông, Ê Đê, Bâhnar, Sê Đăng, Chăm Hroaih, Jrai, Rak Glay, Hrê, K’Ho…độ dài ngắn các trích đoạn còn lưu lại khác nhau. Nhưng cũng chung một cách diễn xướng là : Hát – kể. Nghĩa là câu chuyện có vần và được kể bằng lối hát nói (khác với chuyện cổ tích, chỉ kể chứ không hát). Ót N’trong có môi trường hát – kể rất rộng, bất cứ ở đâu, lúc nào bên bếp lửa, thậm chí theo người trên rẫy mùa suốt lúa, trong các đêm lễ hội, có người nghe là có người kể. 

Nghe Ot N’trong vừa biết được lịch sử phát triển của tộc người, diễn biến của đời sống sinh hoạt, vừa giúp cho tinh thần con người vui vẻ, làm việc không mệt mỏi. Câu chuyện có thể rất dài, được kể từ ngày này sang ngày khác, đêm này qua đêm kia. Giọng người kể khi cao, khi trầm theo nội dung vui buồn, khi tức giận, lúc yêu thương, đôi khi dùng tay làm điệu bộ mô tả nội dung diễn biến của câu chuyện. Chính vì vậy mà câu chuyện rất cuốn hút, khiến người nghe có cảm giác như mình cũng đang sống với nhân vật trong không gian ấy. ( Mỗi nghệ nhân Hát – Kể Ót N’trong là sự tổng hòa của 3 người : tác giả, diễn viên, người bình luận). Các vị Nghệ nhân bậc thầy thuộc nhiều trường ca, sử thi như cụ Điểu Klưt, N’Rong, Điểu Glung… Cụ Điểu Kâu là người có công lớn khi dịch hàng chục sử thi Mnông sang tiếng Việt.

Sử thi Mnông (Ót n’trong) căn cứ vào hiện trạng được sưu tầm, có thể coi là có số lượng nhiều nhất trong gần 30 tộc người khắp Trường Sơn – Tây Nguyên. Đặc biệt dày đặc ở vùng Mnông Preh và Nong. Các nhà khoa học chia sử thi Mnông làm 3 thể loại : anh hùng, sáng thế và sinh hoạt.

- Sự hình thành vũ trụ, con người và xã hội: Không gian vũ trụ trong sử thi Mnông được miêu tả theo ba tầng: Tầng đất có con người và thần linh, tầng trời và tầng âm phủ có thần linh và linh hồn người chết. Con người và thần linh có quan hệ mật thiết với nhau. Ở tầng đất, chủ yếu miêu tả gia tộc mẹ Rong, trong đó nổi bật là các nhân vật Bông, Rong, Tiăng, Ndu, Lêng, Mbông và một số các vị thần linh như Lêt, Mai thường gây nên sự hiềm khích đánh nhau. Ở tầng trời, có thần Me Trôk, Nri, Nre và các thần có khả năng đưa thế giới trở lại bình thường. Ở tầng âm phủ có thần Dê, Dơm canh giữ linh hồn người chết. Hệ thống thần linh trong sử thi Mnông tuy không đối lập mà loại trừ điều xấu, điều ác và bảo vệ con người.

Sử thi “Bông, Rong và Tiăng” nói về cuộc hành trình đầy gian khổ để khai thiên lập địa của hai nhân vật Bông và Rong, được người Mnông gọi là Mẹ Rong, Mẹ Bông chinh phục thiên nhiên, mở rộng địa bàn cư trú của người Mnông. Tiếp nối sự nghiệp của Mẹ Bông và Mẹ Rong, Tiăng là người anh hùng có công khai sáng cho cộng đồng Mnông. Mẹ Bông, Mẹ Rong và Tiăng là những biểu trưng văn hóa về nguồn gốc dân tộc Mnông.
- Ca ngợi cuộc sống trù phú và hạnh phúc của cộng đồng: Cuộc sống trong sử thi Mnông được đề cập với sự đầy đủ, giàu có và một cộng đồng có ý thức tập thể cao. 

Trong gia đình, người phụ nữ dệt vải, giã gạo, bổ củi, nấu cơm, bắt cá, hái lượm; người đàn ông làm công việc nương rẫy, săn bắt thú rừng, đan lát, rèn đúc, chặt cây và tham gia chiến đấu khi có chiến tranh. Ngoài ra, sử thi còn phản ánh khá sâu sắc đời sống tín ngưỡng và phong tục tập quán của gia đình, cộng đồng, sự chi phối bởi thần linh. Trong gia đình có người đi xa hay có người chết, người phụ nữ, chủ gia đình phải giữ kiêng cữ để đảm bảo an toàn. Quan niệm về thần, linh hồn, bùa ngải, phù thuỷ,... phong phú, đa dạng chi phối rất lớn đến hành động các nhân vật trong trường ca, sử thi.

- Chiến tranh và người anh hùng: Chiến tranh trong sử thi Mnông chỉ đơn giản là những cuộc giao tranh, nhằm giải quyết những mâu thuẫn nội bộ, như: bị lăng nhục, chiếm đoạt đất đai, nô lệ, tài sản, nghi oan là ma lai, bị kẻ khác gây hoạ hoặc có thể mâu thuẫn lớn hơn, như: xâm phạm lãnh thổ người khác, cướp phụ nữ… Đứng đầu những cuộc giao tranh thường là người tài giỏi có sức mạnh phi thường, biết sắp xếp, tổ chức chiến đấu. Những chàng Lêng, chàng Tiăng, chàng Mbông, vừa có đức tính như con người, vừa được thần linh giúp đỡ, nên có khả năng xuất chúng, vượt ra ngoài sức tưởng tượng của con người và trở thành người anh hùng để bảo vệ lợi ích, công bằng cho con người và xã hội.

Có thể kể tên một số “Sử thi cổ sơ M’nông” (1993), “Ăn trâu - Tăm Nghét” (1994), “Sử thi thần thoại M’nông” (1995), “Gió xoáy Bon Trăng” (1996), “Tranh chấp bộ cồng của Sơm Sơ Kon Phan”, “Lêng đi giành lại Nring” (1997)… đều dài hàng ngàn câu, kể chuyện trên trời, trên dưới mặt đất, dưới nước… với hàng trăm nhân vật.

Sử thi cổ sơ Mnông do Đỗ Hồng Kỳ sưu tầm, Điểu Kâu dịch, kể rằng Bông và Rong là hai anh em ruột đã dựng nên núi sông, tạo ra các loài vật, gieo trồng cây cối, xây dựng bon làng đầu tiên của người Mnông, bảo vệ tục lệ của cộng đồng. Chuyện rằng : Rong là một người phụ nữ quyết liệt nhưng tình cảm yếu mềm. Rong và chị là Bing Bang cãi nhau giành một một người đàn ông là Soang để làm chồng. Họ lấy cuộc thi dệt vải quyết định. Rong bị thua, lại còn bị Bing Bang đập bể hết đồ nghề. Xấu hổ và tức giận, nàng định tự tử nhưng không được, nên quyết định kể cho anh trai là Bông nghe sự tình và rủ Bông “đi đến nơi đất gặp trời”. 

Họ đi qua “Xứ trên kia toàn là tảng đá/ Xứ trên kia bằng phẳng trống không” nên họ nghĩ đến việc đắp đất lên để gieo mầm sống “ Một nắm đất Rông đắp núi Nâm Brah/ Một nắm đất Rong đắp núi Nâm Veng/ Bông kéo cây mây hóa thành khe suối/ kéo cây n’rong thành con sông/ Đổ nước cơm hóa thành biển cát”…Những nơi họ đi qua “ Đường chưa có Bông, Rong tự tạo” Và rồi sau đó “Bông nấu canh, Rong gieo hạt cam/ Rong trồng bưởi bên bờ sông Mê Kông”. Cuộc hành trình của hai anh em vô cùng gian khổ, như khi qua vùng lửa mặt trời “Nóng phỏng da hạn hán quanh năm/ nóng đến khó thở, lở da…”. Để rồi họ dừng lại ở xứ sở Bu Prah, Bu Prăng để làm nhà cửa, vì không còn ai trên đất, nên lấy nhau làm vợ chồng, sinh con cái, lập bon làng…

Ngoài Bông, Rong còn có Tiăng, người xuất hiện như thiên thần “ Lúc đầu dòng nước phun lên mặt trời/ lửa mặt trời phun xuống nước/ hai bên gặp nhau giữa không trung/ rớt xuống một quả trứng to”. Chị em Biôn, Biăn đem về ấp nở ra Tiăng, người sau này dạy mọi người làm rẫy, cắm chông, truyền tục ngữ, luật lệ... người được khắp các cộng đồng tin cậy, tôn trọng.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...