Tóm tắt: Người Ê-đê, Ba-na, Chăm H’roi là những tộc người định cư lâu đời tại vùng núi huyện Sông Hinh, Phú Yên. Quá trình sống và lao động, mưu sinh của họ góp phần hình thành nên các di sản văn hóa tinh thần mang bản sắc riêng độc đáo. Truyện kể dân gian là một trong số đó. Tham luận này chủ yếu nêu một số đặc điểm thể loại truyện kể dân gian của người Ê-đê, Ba-na qua sưu tầm, khảo cứu; mục đích là góp phần khẳng định các giá trị của văn học dân gian địa phương, sự thú vị trong giao lưu tiếp biến về văn hóa của các tộc người.
Từ khóa: Truyện kể dân gian, đồng bào thiểu số, Sông Hinh, Phú Yên.
1. Mở đầu
Cách thành phố Tuy Hòa 65km về phía Tây Nam, Sông Hinh là một huyện miền núi sát với huyện M’Đrăk (Đăk Lăk), giáp huyện Krông Pa (Gia Lai). Sông Hinh có điều kiện tự nhiên và quá trình lịch sử rất đặc biệt. Vùng đất này vừa rất hoang sơ, vừa mới mẻ, hiện đại.
Điều thú vị là dù hiện nay người Kinh chiếm tỷ lệ cao hơn (52%), nhưng đây vẫn là điạ phương có số lượng đồng bào thiểu số đông nhất (48%). Bên cạnh ba tộc người cư trú lâu đời nhất là người Ê-đê, người Chăm H’roi và người Ba-na còn có nhiều tộc người khác từ vùng núi phái Bắc mới di cư vô đây như Sán Dìu, Tày, Nùng, Thái, Hmông… Ngay cả người Kinh cũng mới quy tụ về vùng đất này nhiều nhất là 30 đến 40 thập kỷ cách đây. Sự đa dạng các thành phần dân tộc và quá trình di dân, cộng cư, giao lưu, tiếp biến về văn hóa đã biến không gian văn hóa của huyện Sông Hinh trở thành một điểm hội tụ nhiều màu sắc và độc đáo.
Tìm hiểu và nghiên cứu về văn học dân gian trong đó có truyện kể dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số như người Ê-đê, Ba-na tại huyện Sông Hinh, chính là để nhận thức và thưởng thức sự đa dạng, phong phú của vùng văn hóa ấy.
2. Đặc điểm truyện kể dân gian Ê-đê, Ba-na, Chăm trong văn học dân gian Sông Hinh nói chung
Văn học dân gian các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh cũng có đa dạng các thể loại như sử thi, dân ca, câu đố, cổ tích… So với sử thi/ trường ca, các thể loại truyện kể dân gian như truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười… dù không độc đáo và phong phú bằng nhưng vẫn có những nét riêng thú vị. Trong các thể loại truyện kể dân gian, thần thoại và cổ tích là hai thể loại có vị trí quan trọng và giá trị hơn cả. Thần thoại vì ra đời sớm, có màu sắc lộng lẫy, hoang đường của thế giới tưởng tượng hồn nhiên. Thậm chí, kho tàng thần thoại của đồng bào các dân tộc Ê-đê, Ba-na, Chăm H’roi được bảo lưu bền vững và được hệ thống hóa chặt chẽ hơn thần thoại của người Kinh. Bởi lẽ, theo thời gian, thần thoại người Kinh khi tồn tại trong độ phong kiến nhiều thăng trầm đã bị rơi rụng, cải biên ít nhiều. Nhiều trí thức phong kiến xưa kia, trong quá trình ghi chép, sưu tầm, đã có sự cắt xén, chỉnh sửa theo hiểu biết chủ quan thời đó. Còn các dân tộc thiểu số ở vùng Tây Nguyên trong đó bao gồm vùng núi huyện Sông Hinh, cơ bản bị khép kín trong phạm vi công xã hoặc lãnh địa của chế độ phong kiến thời kỳ đầu nên ít chịu ảnh hưởng từ văn hóa chủ thể. Truyện cổ tích của đồng bào Ê-đê, Ba-na, Chăm H’roi ở vùng núi huyện Sông Hinh phát triển khá tương đồng với truyện cổ tích người Kinh nói chung và có tính giao thoa mạnh nhất. Nếu phân loại theo kiểu nhân vật, truyện cổ tích của đồng bào thiểu số huyện Sông Hinh cũng có nhiều truyện kể về người mồ côi, người có tài mà xấu xí, truyện về loài vật, nhưng khác biệt là kiểu nhân vật khỏe mạnh, khéo léo được đề cao nhất. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến hình ảnh những tù trưởng khỏe mạnh “đầu đội khăn kép, vai mang túi da” trong các pho sử thi Đăm-săn, Xinh Nhã nổi tiếng của người Ê-đê.
Chúng tôi cũng cho rằng thần thoại và truyện cổ tích các dân tộc Ê-đê, Ba-na, Chăm H’roi ở huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên không nằm ngoài quy luật hình thành và phát triển của truyện kể dân gian nói chung bởi nó liên quan đến việc giải quyết những vấn đề của con người trong thời kỳ đầu.
2.1. Về truyện thần thoại
Căn cứ theo những chủ đề, hình tượng trong các tác phẩm thần thoại sưu tầm được, chúng tôi khái quát thần thoại các dân tộc Ê-đê, Ba-na, Chăm huyện Sông Hinh thành ba loại:
+ Thần thoại phản ánh quá trình sáng tạo vũ trụ
Người Ê-đê lưu truyền truyện Huyền thoại về sông anh, sông em. Truyện kể lại rằng ngày xưa, các con sông ở Phú Yên được Trời phân chia vai vế, lớn, nhỏ rõ ràng. Sông Ba là sông anh, các sông khác như sông Krông Hinh, Krông Năng, sông Cà Lúi, sông Ea Nho… là sông em. Khi chảy, trừ sông Ba làm đúng lệ trời đặt ra, còn các sông khác thì chảy không theo thời gian quy định. Trời giận, từ đó bắt tất cả sông em phải nhập chung vào sông Ba trước khi chảy về đồng bằng. Trong thần thoại Suối Chồng Mâm và sự tích ma lai, trời có vợ, có con và hết mực yêu thương con. Nhưng không may, đứa con trai độc nhất ấy bị chết. Quyến luyến con nên trời cho chôn cất ngay tại bờ suối gần nhà. Đến ngày bỏ mả, trời cho đặt những mâm thịt chồng lên nhau. Mâm dưới cùng là thịt gà, chim cu, trên là chồn rắn, trên nữa là heo rừng, nai… và mâm trên cùng là thịt người. Trời mời các chư thần đến dự. Chư thần nào đến trước thì ăn mâm trên cùng, các chư thần khác đến sau thì lần lượt ăn các mâm tiếp theo cho tới mâm cuối cùng. Chư thần ăn mâm thịt người biến thành con ma lai đi lang thang khắp các buôn làng rút ruột người. Còn các mâm đá chồng lên nhau bị lũ lụt làm đổ, cuốn trôi xa ra con suối và suối này có tên là suối Chồng Mâm. Nội dung phản ánh trong thần thoại này không ngoài việc lý giải nguồn gốc hình thành suối Chồng Mâm và sự tích về ma lai, nhưng điều thú vị là ở chỗ, trời cùng các chư thần của mình suy nghĩ, sống và sinh hoạt chẳng khác gì người phàm trần. Trời cũng có vợ, sinh con. Và con của trời cũng không thoát khỏi sự nghiệt ngã của số mệnh và phải chết, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho người cha. Như con người, trời cũng làm lễ bỏ mả theo phong tục, cũng mời chư thần đến ăn uống. Các chư thần không phải ai cũng nghiêm túc, mà có người đến đúng giờ, có người đi trễ. Theo Huyền thoại Chơ Râk lấp sông Ba, ngày xưa, có một người ở nước Hỏa Xá có sức khỏe phi thường nên người đặt cho tên là Chơ Râk (nghĩa là ông rất khỏe). Chơ Râk làm được nhiều việc mà người bình thường không làm được: vác đá lấp sông Ba để bắt cá, dùng những hòn đá to làm thành ba ông táo để nướng cá. Chỗ Chơ Râk dùng đá lấp là đoạn sông Ba phía trên lòng hồ thủy điện sông Ba Hạ, còn ba hòn đá ông dùng làm bếp thì biến thành ba ngọn núi, một ngọn nằm ở giữa sông Cà Lúi và sông Ba, một ngọn ở Phước Tân còn ngọn kia thì ở Phú Túc. Như vậy, xuất thân là người trần, nhưng Chơ Râk mang tầm vóc của thần linh, có sức dời non lấp biển, kiến tạo nên địa thế núi sông. Chơ Râk là hiện thân của những người đi tiên phong khai phá, chinh phục các vùng đất.
+ Thần thoại phản ánh quá trình sáng tạo con người và nguồn gốc các dân tộc
Cũng như các cộng đồng dân tộc thiểu số khác, từ vùng núi phía Bắc đến dọc dãy Trường Sơn - Tây Nguyên hay lặp đi lặp lại mô típ quả bầu trong các truyện thần thoại và truyện kể dân gian nói chung; tại huyện Sông Hinh, các thần thoại lý giải về nguồn gốc tộc người cũng thường xoay quanh môtip quả bầu. Thần thoại Sự tích các dân tộc của dân tộc Ê-đê ở Sông Hinh kể rằng trong một nạn lụt lớn, loài người và vạn vật đều bị chìm trong nước lũ. Lúc nước rút, chỉ còn sót lại hai anh em Khốt và Kho. Những gì họ còn giữ được là một hạt lúa, một hạt bắp, một hạt bầu. Kỳ diệu thay, họ gieo hạt lúa xuống thì được một rẫy lúa tốt, gieo bắp được một rẫy bắp tốt, riêng bầu thì được một quả to. Họ khiêng bầu về nhà rồi đốt. Quả bầu nổ, trong quả bầu có 54 đôi nam nữ bước ra gọi Khốt và Kho là cha mẹ. Từ đó, 54 dân tộc anh em trên đất nước được hình thành. Điều thú vị là các quả bầu ở từng địa phương có khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là quả bầu nào cũng có người Kinh ở trong đó. Đặc điểm này phản ánh sự quy tụ trong cùng một cộng đồng dân tộc mà người Việt/ Kinh là thành phần chủ yếu và nòng cốt.
+ Thần thoại phản ánh kỳ tích khai sáng và các anh hùng văn hóa
Nếu các vị thần sáng tạo ra trời đất của các dân tộc mới có tính chất là những nét phác thảo, dựng lên theo hướng nhân cách hóa thiên nhiên thì những nhân vật sáng tạo sau đó là những nhân vật văn hóa đóng góp vào việc kiến tạo nên những thành quả lao động, thúc đẩy sự phát triển nhận thức của con người. Thần thoại ca ngợi những kỳ tích của người xưa: làm nhà, nấu rượu, đúc trống đồng, thuần dưỡng súc vật. Truyện Huyền thoại về chiếc gươm thần trên sông Ba kể rằng, xưa kia, vương quốc Hỏa Xá gặp hạn hán. Lúc bấy giờ, Siu Linh là thần dân của nước này và có khả năng giao tiếp với thần linh. Chàng được các thần báo là để vương quốc khỏi bị diệt vong vì đại hạn, chàng phải tìm ra thanh gươm thần có khả năng tạo ra nước và lửa. Chàng lên đường với quyết tâm tìm thanh gươm báu. Vượt qua nhiều thử thách, Siu Linh cũng tìm được thanh gươm quý dâng lên vua. Từ đó, vương quốc không còn bị hạn nữa, con người lại có lửa để nấu chín thức ăn. Nét nổi bật trong nghệ thuật thần thoại là nghệ thuật sáng tạo những hình tượng đẹp lộng lẫy, kỳ vĩ, hoành tráng. Đặc điểm địa hình, khí hậu vùng đất Sông Hinh cũng được cắt nghĩa, lý giải bằng nhiều truyện thần thoại vừa hồn nhiên, sơ khai vừa triết lý sâu sắc; ví dụ theo Huyền thoại Chơ Râk lấp sông Ba, Chơ Râk làm được nhiều việc mà người bình thường không làm được: vác đá lấp sông Ba để bắt cá, dùng những hòn đá to làm thành ba ông táo để nướng cá. Chỗ Chơ Râk dùng đá lấp là đoạn sông Ba phía trên lòng hồ thủy điện sông Ba Hạ, còn ba hòn đá ông dùng làm bếp thì biến thành ba ngọn núi, một ngọn nằm ở giữa sông Cà Lúi và sông Ba, một ngọn ở Phước Tân còn ngọn kia thì ở Phú Túc.
Cho tới nay, thần thoại vẫn tồn tại cùng với con người ở vùng đất Sông Hinh cũng như sử thi, truyện cổ tích. Về nghệ thuật, các truyện thần thoại này đơn giản, ít tình tiết ly kỳ nhưng thú vị là nó ít bị truyền thuyết hóa, cổ tích hóa và vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ, mộc mạc đặc trưng của thể loại.
2.2. Về truyện cổ tích
So với thần thoại, truyện cổ tích ra đời trễ hơn, nhưng phát triển mạnh mẽ và có đời sống ổn định hơn. Thần thoại thường gắn liền với nghi lễ, còn truyện cổ tích tách rời nghi lễ, gắn chặt với đời sống, nếp sinh hoạt thường nhật của con người. Truyện cổ tích ra đời và tồn tại, phát triển từ xã hội cộng đồng nguyên thủy, tiến lên xã hội có sự phân hóa giai cấp. Truyện cổ tích một mặt kế thừa cảm hứng lãng mạn, thần kỳ của thần thoại nhưng mặt khác thể hiện tính hiện thực rõ nét hơn. Và sự khác biệt lớn nhất có lẽ là ở hệ thống nhân vật. Nếu nhân vật trung tâm của thần thoại là các vị thần thì nhân vật trung tâm của truyện cổ tích là con người trong cuộc sống đời thường. Dựa theo chủ đề, đặc điểm nhân vật, có thể chia truyện cổ tích các dân tộc Ê-đê, Ba-na, Chăm H’roi ở Sông Hinh thành ba loại:
+ Truyện về những chàng trai khỏe
Trong truyện cổ tích người Kinh, ta từng bắt gặp các nhân vật Thạch Sanh, Ba chàng thiện nghệ, Ông Ồ, Lê Như Hổ thì trong truyện cổ tích các dân tộc ở sông Hinh, đó là những Đam Bung Pha, Cơ Đam Bung, YRit (dân tộc Êđê), Ma Pơ Nen (dân tộc Chăm)… Tất cả các nhân vật đều có những đặc điểm chung là: có hình dáng cao lớn, tầm vóc kỳ vĩ, sức mạnh phi thường; tài năng nổi trội, mỗi nhân vật thường có một sở trường riêng; có thành tích, tài trí hơn người, có khả năng chinh phục những thế lực xấu, ngăn cản bước tiến của con người.
Truyện Sự tích suối nàng H'Leo kể rằng nàng H'Leo xinh đẹp con một tù trưởng giàu mạnh, đã bất chấp sự hà khắc của làng buôn, nàng đã dành trọn tình yêu của mình cho YRit, một người mồ côi đau khổ nhưng tài giỏi, dũng cảm hơn người. Sống ở miền núi, con người nơi đây luôn bị đe dọa bởi thú dữ. Trong truyện, con cọp xuất hiện rất ám ảnh, đáng sợ. Con người vừa kính nể, vừa muốn chiến đấu với chúng để giữ đời sống bình yên cho buôn làng. Vì sợ hãi, nên con người gọi con cọp bằng những danh xưng trang trọng như ông bà Rạc. Nhưng vì khát vọng chiến thắng thế lực xấu, làm hại dân làng, nên những cuộc đọ sức người và cọp diễn ra liên tục, quyết liệt và dai dẳng. Trong cuộc chiến ấy, bằng tài nghệ và mưu trí của mình, Y Rít đã chiến thắng được thú dữ, trừ họa cho dân làng. Truyện Đứa con Ma Pơ Nen (dân tộc Chăm) ca ngợi những chàng trai dũng cảm, dám đem sức mình chế ngự sức mạnh tự nhiên. Ma Pơ Nen là một tay thợ săn giỏi, nhưng không may bị cọp ăn thịt. Trước sự truy lùng của cọp dữ, vợ ông mang đứa con chạy trốn. Khi người con trưởng thành, biết được chuyện xưa, chàng đã lên đường tìm cọp để trả thù. Lượng sức mình không đủ sức đánh lại cả đàn cọp hung ác, chàng trai bèn dùng mưu lừa đàn cọp. Chàng bảo trời sắp sập, bày kế đàn cọp dùng dây mây buộc lại. Xong việc, chàng dùng tên bắn chết cả đàn cọp. Sau đó chàng đón mẹ trở về làng, sống cuộc sống bình an. Theo dân tộc Chăm, cọp ngày nay ít đi một phần là do đã bị con của Ma Pơ Nen giết. Truyện Quỷ Tung Bê hung ác ca ngợi chiến công của con người trong cuộc chiến với yêu ma, quỷ dữ. Đam Bung Pha (dân tộc Êđê) kể rằng, chàng trai Cơ Đam Bung ăn to, nói khỏe, tài sức hơn người đã may mắn lấy được 7 cô gái đẹp làm vợ. Theo nội dung của những truyện ra đời ở thời kỳ đầu thì chiến công và sức mạnh thuộc về tập thể, thuộc về số đông. Nhưng ở những truyện ra đời sau thì chiến công và sức mạnh của tập thể lại tập trung vào một cá nhân. Điều này thể hiện sự phát triển của xã hội và nhận thức con người về vai trò cá nhân: Con người trong một tập thể đã tìm thấy đại biểu xuất sắc của cộng đồng và vai trò của cá nhân lãnh đạo/ đứng đầu có ý nghĩa quyết định trong nhiều chiến thắng.
+ Truyện về nhân vật người mồ côi
So với truyện cổ tích người Kinh, truyện cổ tích đề cập đến số phận con người mồ côi của các dân tộc Ê-đê, Ba-na, Chăm xuất hiện dày đặc và phong phú hơn. Điều này ít nhiều bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử - xã hội của các dân tộc. Trong chế độ công xã nguyên thủy, con người sống quần hôn, tạp hôn và những đứa trẻ không may mất bố hoặc mẹ hoặc cả bố lẫn mẹ vẫn được sống trong tình yêu thương và sự bảo bọc của cộng đồng mà không có sự phân biệt về quyền lợi lẫn nghĩa vụ. Bước vào thời kỳ nô lệ gia trưởng, những Mơtao, tù trưởng vốn sở hữu nhiều tài sản, đất đai trở nên giàu có, còn người bị mất mùa, bệnh tật, mồ côi, rơi vào cảnh đói kém, trở nên nghèo khó hoặc phải làm nô lệ, tù binh. Ranh giới phân chia giai cấp và vị thế xã hội chính vì vậy ngày một đậm nét hơn.
Theo GS. Phan Đăng Nhật, truyện mồ côi có thể chia làm hai loại:
- Loại đơn giản:
+ Mồ côi nghèo đói, cô đơn, không ai lấy.
+ Trải qua bước chuyển biến thần kỳ.
+ Gặp hạnh phúc và hưởng một cuộc sống giàu sang.
- Loại phức tạp:
+ Sau khi gặp hạnh phúc, mồ côi không sống yên ổn mà bị thế lực trên cướp lấy hạnh phúc.
+ Nhân vật mồ côi đấu tranh để giành lại hạnh phúc và quyền lợi đã mất.
Truyện cổ tích về nhân vật mồ côi của các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh đa số thuộc loại đơn giản. Loại truyện đơn giản kể về những con người bất hạnh, bị áp bức, bóc lột và cô đơn. Họ thường gặp được may mắn bất ngờ. Ví dụ trẻ mồ côi thì có cơm ăn, áo mặc, sống no đủ; chàng trai thì lấy được vợ đẹp (tiên nữ), có nhà cửa lâu đài, cồng chiêng treo khắp nhà, thóc gạo đầy bồ, heo gà đầy sân; là cô gái thì lấy được chồng tài giỏi, đẹp trai, giàu có. Số phận người mồ côi thay đổi dễ dàng. Trong trí tưởng tượng của nhân dân, chỉ cần một biến cố hay tình huống nào đó xảy ra thì người thiệt thòi sẽ được đền bù. Đó cũng là ước mơ chung của các truyện cổ tích.
Quá trình chuyển hóa số phận của người mồ côi, nhìn chung, không đi theo một hướng nhất định mà bằng nhiều phương thức thần kỳ khác nhau. Mồ côi có thể gặp may như đến chỗ nàng tiên tắm, nhanh nhẩu giấu cánh của nàng tiên đẹp nhất, khiến nàng không thể về trời được, đành ở lại làm vợ cho mồ côi. Mồ côi gặp được phép màu của thế lực siêu nhiên ban cho… Nguyên nhân chính của mọi sự may mắn theo lý giải của người dân là nhờ đạo đức và tài năng nên người mồ côi đáng thương được các lực lượng siêu nhiên phù trợ.
Trong truyện Ma Nga xuống chợ (dân tộc Êđê), nhân vật Ma Nga là ông chủ giàu có, tính tình họm hĩnh, khinh người. Ông có một bà chị dâu nghèo khổ, nghèo đến độ không có lấy một cái nồi nấu cơm. Nhờ may mắn và hiền lương, đứa cháu con người chị dâu trở nên giàu có, trong khi đó ông chú Ma Nga ngày một sa sút, nghèo khổ.
Xã hội có giai cấp nảy sinh trên hai cơ sở: quan hệ bất bình đẳng và sự tư hữu về tài sản. Cơ sở này được hình thành từ hạt nhân ban đầu là trong phạm vi gia đình, sau đó lan rộng ra toàn xã hội. Trong gia đình, đó là mâu thuẫn giữa anh - em, chú - cháu, dì ghẻ - con chồng. Ngoài xã hội, đó là mâu thuẫn giữa các tù trưởng (Mtao), nhà giàu với những người mồ côi, người ở, dân nghèo. Và một khi mâu thuẫn này không thể điều hòa được, giai cấp trên mưu toan chiếm đoạt của cải, hạnh phúc của giai cấp dưới thì truyện mồ côi có thêm phần giành giật lại hạnh phúc.
Truyện Nàng Hơbia Táctô (dân tộc Ê-đê) kể về một cô gái xinh đẹp tên Hơbia Tắctô. Cô sống trên một hòn đảo, chưa có ai tới đó được. Trong đất liền, có một ông vua gian ác. Nghe đồn về nhan sắc của Hơbia Tắctô, ông muốn lấy cô gái xinh đẹp làm vợ. Chàng YRit vẽ đẹp và thông minh tài giỏi bị vua bắt ra dẫn Hơbia Táctô về làm vợ vua. YRit vốn mồ côi, sống với bà từ nhỏ và vì thương bà, nên chàng phải vâng lệnh ra đi. Sau một thời gian dài vật lộn với biển cả, vượt qua nhiều thử thách nghiệt ngã của ông vua gian ác, của ông rạc bà rạc, cuối cùng, YRit và Hơbia Tắctô xinh đẹp cùng được hạnh phúc. Truyện Câu chuyện về con thuồng luồng cũng có cách lý giải về quan niệm đạo đức ở hiền gặp lành tương tự như vậy.
+ Truyện về nhân vật xấu xí mà có tài
Loại truyện này thường có nhân vật chính thường là những con vật xấu xí và nhỏ bé nhưng bên trong lại tiềm ẩn một tâm hồn cao thượng, nhân ái, một tài năng và bản lĩnh mà người thường không có được. Bởi mang vẻ bề ngoài là những con vật xấu xí nên họ phải chịu sự sự phỉ báng và xa lánh của người đời. Nhưng nhờ có đạo đức, tài năng và lòng dũng cảm, họ được người tốt cảm mến hóa kiếp và được đẹp xinh, hạnh phúc. Và khi tìm thấy tình yêu, từ xấu xí, họ vụt cởi lốt, trở thành một chàng trai tuấn tú hoặc một cô gái nhan sắc tuyệt trần. Cái vỏ xấu xí bị phá vỡ đồng nghĩa với việc phá vỡ mâu thuẫn cũ, tạo nên một sự thống nhất hài hòa giữa hình thức và nội dung. Nhân vật lý tưởng được đánh giá lại phù hợp với bản chất bên trong của mình.
Truyện Cô gái lấy chồng rắn kể rằng xưa kia, ở một làng nọ, có đôi vợ chồng sinh được bảy chị em gái. Hằng ngày, hai vợ chồng lên rừng đào sắn về nuôi con. Cô gái út là người hiền lành, nhân ái nhất nên chịu lấy con rắn và sau này trở nên giàu có, hạnh phúc. Truyện Hơbia Rùa kể chuyện một người đàn bà góa mang thai, sinh ra một con rùa, đặt tên là Hơbia Rùa. Trải qua nhiều thử thách và phải chịu đựng sự chế giễu của bà con làng bản, cuối cùng Hơbia Rùa trở nên giàu có và sống hạnh phúc. Chuyện Khan YRit và chàng Phung cũng có nội dung ca ngợi người xấy xí, dị dạng nhưng có tài như vậy…
Tóm lại, những nghệ nhân dân gian và các cộng đồng người xưa đã thể hiện quan niệm nhân ái, đạo đức về con người: người tốt, người trung thực sẽ được đền bù và giá trị con người không phụ thuộc ở vẻ bề ngoài.
+ Truyện cổ tích về loài vật
Cũng giống như mảng truyện cổ tích của người Kinh mà nhân vật là con vật rất phong phú, đồng bào người Ê-đê, Ba-na ở Sông Hinh có nhiều truyện hay như: Sự thật vòm lông trên cổ chim bồ câu, Hổ và trâu, Cọp đánh đàn môi, Hổ sợ chài, Chuyện về thỏ trắng… Nhưng truyện cổ tích này đều tập trung phản ánh các mối quan hệ xã hội của con người qua nghệ thuật hình tượng hóa con vật. Những truyện như: Sự tích chim chích chòe, Sự tích dòng Krông Năng, Sự tích Krông Buk, Sự tích thác nàng H'Ling, Sự tích thác Khói, Suối nàng H'Leo…; là sự cắt nghĩa về nguồn gốc, đặc trưng của các địa danh. Những truyện này gần với thần thoại nhưng nội dung cơ bản vẫn là phản ánh đời sống con người, đạo đức con người. Trong truyện cổ tích, dù trực tiếp hay gián tiếp, nhân dân đều gởi gắm vào đó quan niệm tốt-xấu, chân-giả, thiện-ác. Trong các truyện cổ tích, sự thưởng công, phạt tội đều được nhìn nhận giải quyết theo tiêu chí đánh giá các phẩm chất đạo đức. Và tất nhiên, vấn đề đạo đức trong truyện cổ tích vừa có tính thực tiễn, vừa có tính lý tưởng hoá. Niềm tin ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác vừa là triết lý sống có tính lạc quan, tích cực, vừa là ước mơ về công lý của nhân dân, bao gồm đồng bào Ê-đê, Ba-na, Chăm. Nó thể hiện niềm tin của người dân về một tương lai tốt đẹp hơn.
3. Văn học dân gian biểu hiện đặc trưng văn hóa vùng miền.
Nằm trong khu vực Tây Nguyên - Trường Sơn hùng vĩ, Sông Hinh là nơi có sự giao thoa, tiếp biến văn hóa độc đáo thú vị. Đây là quê hương của những bản sử thi hào hùng, lãng mạn. Không chỉ người Ê-đê, Ba-na mà cả người Chăm H’roi cũng có nhiều sử thi có cốt truyện tương tự với Đăm-Săn, Xinh Nhã. Ví dụ sử thi Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ Đă, Xin Chi Ôn… do nhà nghiên cứu Ka Sô Liễng sưu tầm. Điều đặc biệt là vùng núi Sông Hinh, Sơn Hòa ít chịu ảnh hưởng hay tác động văn hóa từ phía Nam là tỉnh Khánh Hòa, nhưng lại có chung nhiều sắc thái văn hóa với đồng bào cư ngụ ở phía Tây và phía Bắc nhiều hơn. Người Ê-đê, Ba-na ở Sông Hình, Phú Yên rất gần gũi với cộng đồng người Ê-đê, Ba-na ở Đăk Lăk và Gia Lai, Kon Tum cũng như vùng núi phía Nam tỉnh Bình Định. Cộng đồng người Chăm H’roi ở Bình Định Phú Yên sống cộng cư và gần với người Ba-na hơn cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận. Văn học dân gian trong đó có truyện thần thoại và truyện cổ tích cũng thể hiện sự cộng hưởng văn hóa đặc biệt này. Hầu hết những tác phẩm thần thoại và truyện cổ tích mà chúng tôi sưu tầm được ở huyện Sông Hinh đều có sự pha trộn, giao thoa giữa đồng bào các tộc người Ê-đê, Chăm H'roi, Ba-na.
Giữa hai thể loại thần thoại và cổ tích cũng có nhiều điểm giao thoa, tương đồng nhất là trong sự lý giải, cắt nghĩa về đặc điểm và sự tồn tại của tự nhiên. Truyện kể dân gian trong đó có thần thoại và truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật, là sản phẩm tinh thần của một vùng đất nên nó mang phong vị, hơi thở, dáng dấp của nơi sinh thành. Vùng núi của huyện Sông Hinh cũng như Tây Nguyên đại ngàn là nơi rừng cây cổ thụ, đất đỏ ba-zan trù phú, sông suối thác nước hùng vĩ nên con người cũng mang khí chất núi rừng. Nếu thần thoại thể hiện tình yêu với sông suối, núi rừng linh thiêng, thì truyện cổ tích dành sự ngợi ca cho những người trẻ khỏe, gánh vác sứ mệnh trừ gian, diệt bạo, bảo vệ cuộc sống bình an cho buôn làng. Họ hướng tới mơ ước công bằng, tốt đẹp là chính, nên phần tạo tình huống, xử lý xung đột, mâu thuẫn đôi khi hơi đơn giản. Thú vị nhất là cũng như trong sử thi, nhân vật trong thần thoại và truyện cổ tích cũng được ngợi ca vẻ đẹp hình thể, sức quyến rũ, gợi cảm nữ tính như da thịt, ngực, đùi, dáng đi… Quan niệm về người phụ nữ đẹp hài hòa giữa hình thể bề ngoài và nhân cách phẩm chất bên trong luôn là một giá trị lớn của đồng bào Ê-đê, Ba-na.
4. Kết luận
Văn học dân gian các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh trong đó có truyện thần thoại, cổ tích là sự minh chứng rõ nét nhất cho sự tồn tại của con người trên một vùng đất xa xôi của tỉnh nhà Phú Yên. Trong lớp văn hóa bản địa hãy còn nhiều trầm tích chưa khai thác hết, truyện kể dân gian đã cùng với sử thi góp phần khẳng định bản sắc văn hóa riêng, độc đáo của người Ê-đê, Ba-na, Chăm H’Roi. Quá trình cộng cư, giao lưu về văn hóa của họ không chỉ ảnh hưởng đến màu sắc pha trộn của sản phẩm văn hóa mà còn thể hiện những quan niệm chung về con người, về phong tục, tập quán.
Và trong sự tiếp nhận, thưởng thức của mọi người, nhất là tầng lớp trẻ tuổi hôm nay, truyện kể dân gian cũng là đặc sản riêng của mỗi vùng miền. Chúng ta cần tìm hiểu, trân trọng trước khi quảng bá, giới thiệu bằng nhiều hình thức khác nhau nhờ sự tiện ích của công nghệ số. Mong rằng khi kể cho nhau nghe, khi đọc hay tiếp cận với những câu chuyện được lưu truyền ở vùng đất Sông Hinh, những người rất trẻ cũng thấy yêu hơn, hiểu hơn vùng đất phía tây của Phú Yên và tâm hồn mộc mạc, lương thiện của những con người ở đây./.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Quốc Lộc, Vũ Thị Việt (1990), Các dân tộc thiểu số ở Phú Yên, Sở
Văn hóa - Thông tin tỉnh Phú Yên xuất bản.
2. Nguyễn Thị Thu Trang chủ biên (2011), Văn học dân gian các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên (sưu tầm & nghiên cứu), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
3. Nguyễn Thị Thu Trang (2015), Hình tượng người phụ nữ trong sử thi Tây Nguyên (chuyên khảo), Nxb. Thông tin - Truyền thông, Hà Nội.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét