Tương tự như Dương lịch (Dl), một năm Âm lịch (Âl) cũng được chia thành bốn mùa (“tứ quý” 四季)[1], mỗi mùa gồm 3 tháng:
- Mùa xuân: từ đầu tháng Giêng (tháng một) đến hết tháng ba;
- Mùa hạ: từ đầu tháng tư đến hết tháng sáu;
- Mùa thu: từ đầu tháng bảy đến hết tháng chín;
- Mùa đông: từ đầu tháng mười đến hết tháng Chạp (tháng mười hai).
Để gọi các tháng trong một mùa, hồi xưa các cụ thường dùng các từ mạnh, trọng, quý:
- Tháng đầu của một mùa gọi là “Mạnh” 孟, ví dụ như “Mạnh xuân” 孟春 là tháng đầu mùa xuân, tức tháng Giêng[2];
- Tháng giữa của một mùa gọi là “Trọng” 仲, ví dụ như “Trọng xuân” 仲春 là tháng giữa mùa xuân, tức tháng hai[3];
- Tháng cuối của một mùa gọi là “Quý” 季, ví dụ như “Quý xuân” 季春 là tháng cuối mùa xuân, tức tháng ba[4].
Đối với năm nhuận[5], tức một năm có 13 tháng, thì có một mùa nào đó có đến 4 tháng. Ví dụ như:
- Năm Quý Mão [2023] là năm nhuận, có 2 tháng hai, thì mùa xuân có đến bốn tháng: tháng Giêng, tháng hai, tháng hai nhuận (cũng gọi là tháng hai dư hoặc tháng hai sau) và tháng ba;
- Năm Ất Tỵ [2025] cũng là năm nhuận, có 2 tháng sáu, thì mùa hạ có đến bốn tháng: tháng tư, tháng năm, tháng sáu và tháng sáu nhuận.
Mùa tính theo “tháng” thì như vậy, còn mùa tính theo “tiết khí” 節氣 thì số ngày trong các mùa chênh lệch nhau chỉ vài ba ngày, tức có thể xem như gần bằng nhau. Mỗi mùa gồm 6 “tiết” 節:
- Mùa xuân bắt đầu từ tiết Lập Xuân [tương ứng ngày 4/2 hoặc 5/2 Dl]. Các tiết tiếp theo là Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân, Thanh Minh[6], Cốc Vũ.
- Mùa hạ bắt đầu từ tiết Lập Hạ [ngày 5/5 hoặc 5/5 Dl]. Các tiết tiếp theo là Tiểu Mãn, Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử.
- Mùa thu bắt đầu từ tiết Lập Thu [ngày 7/8 hoặc 8/8 Dl]. Các tiết tiếp theo là Xử Thử, Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng.
- Mùa đông bắt đầu từ tiết Lập Đông [ngày 7/11 hoặc 8/11 Dl]. Các tiết tiếp theo là Tiểu Tuyết, Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn.
Ngoài 24 tiết nêu trên, trong một năm Âm lịch còn có một số “tiết” 節 mà ta thường gọi là “tết” hoặc “lễ”, ví dụ như: - tiết Nguyên Đán 元旦 (mùng một tháng Giêng); - tiết Nguyên Tiêu 元霄 hay tiết Thượng nguyên/ nguơn 上元 (rằm tháng Giêng); - tiết Phật đản 佛诞 hay tiết Dục Phật 浴沸 (ngày mùng tám tháng tư); - tiết Đoan Ngọ 端午 hay tiết Đoan Ngũ 端五, tiết Đoan Dương 端阳 (mùng năm tháng năm); - tiết Thất tịch 七夕 hay tiết Thất xảo 七巧, tiết Khất xảo 乞巧 (mùng bảy tháng bảy); - tiết Trung Thu 中秋 (rằm tháng tám), v.v...
-------
[1] “Tứ quý” 四季: là bốn mùa. Tranh Tứ quý là bộ tranh bốn mùa gồm 4 bức, mỗi bức vẽ một loài cây hoặc một loài hoa đại diện cho một mùa. Tứ quý cũng có nghĩa quanh năm, ví dụ như “mai tứ quý” (tên khoa học là “Ochna serrulata”) là giống mai trổ bông quanh năm. Bốn mùa cũng gọi là “tứ thời” 四时, ví dụ như “tứ thời bát tiết” 四时八節 (Tứ thời là bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông; Bát tiết là 8 tiết: Lập xuân, Lập hạ, Lập thu, Lập đông, Xuân phân, Thu phân, Hạ chí, và Đông chí. Tứ thời cũng có nghĩa là quanh năm.
[2] Tháng Giêng: tức “Chinh nguyệt” 正月. Ngoài “Mạnh xuân” 孟春, nó còn được gọi là “Sơ xuân” 初春, “Tân xuân” 新春, “Triệu xuân” 肇春, “Dần nguyệt” 寅月, “Đoan nguyệt” 端月, “Liễu nguyệt” 柳月, “Tuế thủy” 岁始, v.v...
[3] Tháng hai: Ngoài “Trọng xuân” 仲春, nó còn được gọi là “Trung xuân” 中春, “Chính xuân” 正春, “Điềm xuân” 甜春, “Trọng dương” 仲阳, “Mão nguyệt” 卯月, “Như nguyệt” 如月, “Hạnh nguyệt” 杏月, “Lệnh nguyệt” 令月, v.v...
[4] Tháng ba: Ngoài “Quý xuân” 季春, nó còn được gọi là “Mộ xuân” 暮春, “Mạt xuân” 末春, “Vãn xuân” 晚春, “Thìn nguyệt” 辰月, “Đào nguyệt” 桃月, “Đồng nguyệt” 桐月, “Tàm nguyệt” 蚕月, v.v...
[5] Nhuận 閏: người miền Nam thường gọi là “nhuần” (dấu huyền): năm nhuần, tháng nhuần. Mối liên hệ giữa thanh 6 (dấu nặng) và thanh 2 (dấu huyền) còn thể hiện trong các cặp: “lệ” (luật lệ) ~ “lề” (đất lề quê thói), “mộ” ~ “mồ (mồ mả), “nại” (khiếu nại) ~ “nài” (kêu nài)... Theo học giả An Chi, thanh 2 (dấu huyền) xưa hơn thanh 6 (dấu nặng).
[6] Tiết Thanh Minh : Kéo dài khoảng 15-16 ngày, khởi đầu từ ngày 4/4 hoặc 5/4 Dl. Nhưng theo âm lịch thì ngày khởi đầu của tiết Thanh Minh có thể rơi vào tháng 2 hoặc tháng 3 Âl, ví dụ như: năm Canh Tý [2020] là ngày 12/3 Âl, năm Tân Sửu [2021] là ngày 22/2 Âl, năm Nhâm Dần [2022] là ngày 5/3 Âl, năm Quý Mẹo [2023] là ngày 15/2 Âl, năm Giáp Thìn [2024] là ngày 26/2 Âl, năm Ất Tỵ [2025] là ngày 7/3 Âl. Từ các thông tin vừa nêu, chúng ta có thể nói rằng, câu Kiều sau đây chỉ có giá trị tương đối: “Thanh minh trong tiết tháng ba” (có bản chép là “Thanh minh giữa tiết tháng ba”).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét