Thứ Năm, 26 tháng 12, 2024

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VĂN HÓA-VĂN NGHỆ DÂN GIAN TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI (NNC Thuận Tình)


Nếu trước đây nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian chủ yếu là nghiên cứu cơ bản, tức sưu tầm, nghiên cứu và giới thiệu các di sản văn hóa truyền thống. Hiện nay, trong xã hội đương đại, với quan điểm phát triển bền vững thì văn hóa, văn nghệ dân gian cần phải chú trọng nghiên cứu đến sự phát triển, đang là yêu cầu cấp bách của cuộc sống. Việc nâng cao chất lượng sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến văn hóa dân gian trong xã hội đương đại cần phải có cách làm mới với những yêu cầu mới, tầm nhìn mới, bởi các bản/ làng, các tộc người không thể tách rời sự phát triển chung của xã hội, các dân tộc thiểu số và đa số, người miền xuôi và người miền ngược, bởi khoảng cách này ngày càng thu hẹp về văn hóa, địa lý, kinh tế-xã hội,... bởi sự giao lưu, hội nhập trong nước và ngoài nước.

Theo tôi, nó cần phát triển như cách tiếp cận của Khoa học tự nhiên, ở hai lãnh vực: Nghiên cứu cơ bản và Nghiên cứu ứng dụng. Chúng ta cần nghiên cứu, nhận diện văn hóa dân gian trong môi trường bảo tồn động. Trong quy luật vận động của di sản văn hóa phi vật thể là tái sáng tạo trên cơ sở gốc. Nếu là các di tích vật thể, như các gươl, nhà sàn, đình làng, chùa… thì việc bảo tồn phải nguyên vẹn yếu tố gốc; còn văn hóa phi vật thể như các điệu múa, hát lý, các tập tục,… lại linh hoạt hơn. Bởi nó đã được sáng tạo, biến đổi, có thể là thụ động hay cưỡng bức từ dạng này sang dạng khác. Chính từ sự thích ứng đó mà xã hội loài người gắn với truyền thống để tồn tại và phát triển. Những thuộc tính này thể hiện trên nhiều bình diện như cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên theo hướng thích ứng và hòa hợp. Cách ứng xử này còn thấy ở ăn, mặc, cư trú, giải trí và quan hệ cộng đồng...

1. Thực trạng

Những nỗ lực của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam trong nhiều năm qua là rất lớn, đã góp phần không nhỏ khơi sáng mạch nguồn văn hóa - văn nghệ dân gian của các dân tộc Việt Nam. Khi mà chúng ta đang ở trong một thế giới chuyển động rất nhanh, do sự phát triển của khoa học-công nghệ, nền kinh tế tri thức và cơ chế thị trường tác động. Nay lại cuộc cách mạng số hóa, cuộc sống con người đã ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống xã hội, khi mà chúng ta - lớp người trong hiện tại, chưa kịp sưu tầm, ghi chép, nghiên cứu thì sự rơi rớt các di sản văn hóa dân gian có giá trị là điều hiển nhiên.

Trong quá trình đi điền dã, tôi thấy có những hiện tượng văn hóa dân gian tưởng đâu rất đơn giản nhưng khi đi vào nghiên cứu thì khó lý giải. Đến nhiều vùng trong cùng một bộ tộc, ví dụ như dân tộc Cơ Tu và các dân tộc thiểu số khác ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Vĩnh Phúc… ta thấy mỗi huyện, mỗi nơi người ta nhận thức một kiểu, ngay các già làng, trưởng bản khi lục lại trí nhớ của mình, mỗi người, mỗi đối tượng, độ tuổi khác nhau kể lại một phách, một phiên bản khác nhau.

Trong một xã hội vừa mới giã từ đời sống nguyên thủy, lại “đụng đầu” ngay với xã hội hiện đại, từ một điểm xuất phát giản đơn, con người của “núi rừng” bỗng chốc phải đối diện với một xã hội hiện đại, với quá nhiều thông tin, nhiều sự lựa chọn, hệ quả không tránh khỏi những “cú sốc” về mặt nhận thức, sự biến đổi về kinh tế, xã hội,… Những “hụt hẫng” về mặt tâm lý, tinh thần, từ sự chông chênh về trình độ nắm bắt thực tế. Khoảng cách ấy, tất yếu sẽ tạo ra những khó khăn trong tiếp nhận cái mới và những thành tựu về khoa học kỹ thuật hiện đại so với nhiều vấn đề đang tồn tại. Từ những ảnh hưởng sâu sắc bao đời của nền kinh tế truyền thống, thiết chế xã hội cổ truyền, phong tục, tập quán, đến đời sống tâm linh và những đặc tính của xã hội truyền thống.

Ngày nay điều kiện hưởng thụ văn hóa của dân chúng được mở rộng, nâng cao, những hoạt động văn hóa - thể thao, giải trí, du lịch đến từ thành phố và được phổ biến từ nhiều nước trên thế giới, mọi thông tin được người dân tiếp nhận trực tiếp qua mạng xã hội đã phủ sóng mọi miền đến điện thoại thông minh (smartphone). Họ thường chạy theo cái mới, cái lạ, tuy có những sự việc đem lại những tác động tích cực nhưng cũng có những sự việc tiêu cực vì chưa kịp suy xét, đánh giá, ít được quan tâm với tư duy phản biện trước khi áp dụng vào cộc sống. Về phía người nghiên cứu, chưa kịp cập nhật, đổi mới phương pháp, cách tiếp cận và sử dụng các công cụ mới để nghiên cứu, nên chất lượng thu hoạch các giá trị văn hóa dân gian còn nhiều hạn chế.

Điều kiện tiếp xúc với thực tế cuộc sống, thông tin hiện đại đã hình thành tâm lý phủ nhận truyền thống trong giới trẻ ngày nay. Với xu hướng là bộc lộ cái tôi - tư hữu, một cách mạnh mẽ dưới nhiều biểu hiện. Các bộ tộc ít người ảnh hưởng của xã hội người miền xuôi - chiếm đa số người, nơi có nhiều điều kiện phát triển và được giao lưu và tiếp nhận nền văn hóa, văn minh của thế giới tạo ra sự đa nguyên về văn hóa. Giới trẻ ngày nay đang dần hướng đến những chuẩn mực và thị hiếu thẩm mỹ thay đổi, như một hình thức biểu lộ quyết tâm từ bỏ sự lạc hậu - đói nghèo, theo cách tiếp thu thụ động. Có thể nói, đó là quá trình tan vỡ những giá trị cổ truyền cũng như sự hiện hữu, khẳng định cái mới chưa có sức thuyết phục mạnh mẽ từ các nhân tố mới, để tạo ra động lực cho sự phát triển bền vững. Đứng trên góc độ bảo tồn văn hóa, sự chuyển biến của xã hội là một tín hiệu cảnh báo về sự hao mòn, mất dần, nghèo đi những tài sản vô giá, có bề dày lịch sử, được xây dựng bởi nhiều thế hệ trong nhiều thế kỷ. Thực trạng chuyển biến trên, phản ánh xu hướng: Cố gắng vượt qua và hợp nhất xã hội hiện đại và hòa tan các “nhóm văn hóa” của các tộc người.

2. Nhận dạng và tiếp cận

Hiện nay chúng ta cũng cần hiểu và xác định, văn hóa dân gian là một thực thể sống, luôn luôn gắn liền với đời sống và có tính kế thừa, nên việc tồn tại, nảy sinh và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần thể cộng đồng bản/ làng hay một xã hội thu nhỏ của dân tộc đó. Từ sưu tầm, ghi chép, đọc tài liệu đến nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa tại địa phương đó. Trong đó, vai trò quan trọng của cộng đồng gia tộc, cộng đồng bản/ làng giữ vị trí chủ yếu. Vì bản sắc của mỗi tộc người, đều được hình thành từ ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng… tại địa phương đó. Chính sự khác biệt này giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc kia hay tuy cùng một tộc người nhưng ở địa phương này cũng có những cái không giống với địa phương khác.

Văn hóa dân gian là sản phẩm sự phát triển của một xã hội nhất định. Do đó, việc sưu tầm, ghi chép và nghiên cứu là cách “Biến di sản quá khứ thành tài sản hôm nay”[1]. Chính vì vậy, những vấn đề đặt ra tại các hội thảo khoa học về Văn hóa-văn nghệ dân gian: “Phát triển lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, để nâng cao chất lượng sưu tầm, phổ biến rộng rãi các giá trị văn hóa dân gian trong xã hội đương đại"[2], là một trong những giải pháp cấp bách đặt ra hiện nay. Bởi văn hóa nói chung và văn nghệ dân gian nói riêng, nếu được phát huy đúng mức, sẽ là “nguồn năng lượng nuôi dưỡng sức mạnh kinh tế và chính trị của mỗi quốc gia", để vượt qua thử thách, chúng ta cần phải khai thác thời cơ mà một thời đã không chú trọng đúng mức.

Văn hóa-văn nghệ dân gian Việt Nam đã xuất hiện trong lịch sử hình thành và phát triển của 54 dân tộc, tuy là một quốc gia độc lập nhưng rất đa dạng và phong phú. Nó là “văn hoá gốc”, “văn hoá mẹ”, tức văn hoá khởi nguồn, sản sinh và nuôi dưỡng các hình thức phát triển sau này, như văn hóa chuyên nghiệp, bác học, cung đình,… Văn hóa-văn nghệ dân gian còn là văn hoá của quần chúng lao động, mang tính bản địa, tính nội sinh cao. Trong xã hội đương đại, ranh giới các bản/ làng, các tộc người không còn đóng khung mà đang tiếp tục phát triển, hội nhập. Nếu không biết “gạn đục, khơi trong” có đôi khi bị hòa tan,… Nó góp phần không nhỏ vào đời sống văn hóa tinh thần chung của dân tộc Việt Nam, có tác động nhất định đến đời sống sinh hoạt xã hội, sự chuyển biến về kinh tế, có triển vọng phát triển về bản thể và lan tỏa hơn khi Nhà nước có chính sách đầu tư thích đáng và bền vững.

Nếu trước đây nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian chủ yếu là nghiên cứu cơ bản, tức sưu tầm, nghiên cứu và giới thiệu các di sản văn hóa truyền thống. Hiện nay, trong xã hội đương đại, với quan điểm phát triển bền vững thì văn hóa, văn nghệ dân gian cần phải chú trọng nghiên cứu đến sự phát triển, đang là yêu cầu cấp bách của cuộc sống. Việc nâng cao chất lượng sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến văn hóa dân gian trong xã hội đương đại cần phải có cách làm mới với những yêu cầu mới, tầm nhìn mới, bởi các bản/ làng, các tộc người không thể tách rời sự phát triển chung của xã hội, các dân tộc thiểu số và đa số, người miền xuôi và người miền ngược, bởi khoảng cách này ngày càng thu hẹp về văn hóa, địa lý, kinh tế-xã hội,... bởi sự giao lưu, hội nhập trong nước và ngoài nước.

Theo tôi, nó cần phát triển như cách tiếp cận của Khoa học tự nhiên, ở hai lãnh vực: Nghiên cứu cơ bản và Nghiên cứu ứng dụng. Chúng ta cần nghiên cứu, nhận diện văn hóa dân gian trong môi trường bảo tồn động. Trong quy luật vận động của di sản văn hóa phi vật thể là tái sáng tạo trên cơ sở gốc. Nếu là các di tích vật thể, như các gươl, nhà sàn, đình làng, chùa… thì việc bảo tồn phải nguyên vẹn yếu tố gốc; còn văn hóa phi vật thể như các điệu múa, hát lý, các tập tục,… lại linh hoạt hơn. Bởi nó đã được sáng tạo, biến đổi, có thể là thụ động hay cưởng bức từ dạng này sang dạng khác. Chính từ sự thích ứng đó mà xã hội loài người gắn với truyền thống để tồn tại và phát triển. Những thuộc tính này thể hiện trên nhiều bình diện như cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên theo hướng thích ứng và hòa hợp. Cách ứng xử này còn thấy ở ăn, mặc, cư trú, giải trí và quan hệ cộng đồng...

Các nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian cũng nên chú ý đến cả hai lĩnh vực nêu trên. Việc nghiên cứu cơ bản, từ lâu, chúng ta đã có những thành tựu cũng rất “cơ bản”, đã trở thành nền nếp. Còn việc nghiên cứu ứng dụng còn hạn chế. Khi các tác giả trên cơ sở nghiên cứu cơ bản về các giá trị văn hóa dân gian, đã chuyển thể thành các thể loại khác như truyện, bút ký, thơ, tùy bút, hò, vè, phim, ảnh, hội họa... Có lúc, có nơi, có thể loại chưa được thừa nhận. Nhưng chính các thể loại mới này lại có khả năng xâm nhập sâu rộng vào đông đảo người dân và nhanh chóng lan tỏa vào cộng đồng xã hội.

Đọc những công trình nghiên cứu cơ bản, thường chỉ dành cho một số đối tượng như các nhà nghiên cứu, các đối tượng quan tâm tìm hiểu để ứng dụng vào công việc. Họ phải có hệ thống kiến thức, nắm được thuật ngữ chuyên môn, có cấu trúc phức tạp, tìm hiểu nguồn gốc để trích dẫn... Trên cơ sở kiến thức nghiên cứu cơ bản, những nghiên cứu ứng dụng, biến hóa qua các loại hình có chức năng giáo dục tính chân-thiện-mỹ, có chức năng giải trí phục vụ cho số đông người… Nó được mở rộng khái niệm, trí tưởng tượng, phạm vi, người viết cũng dễ phóng tác, gửi gắm những cảm xúc, tình cảm của mình vào bài viết... làm người đọc thích thú, tri thức văn nghệ dân gian được phổ biến, dễ dàng lan tỏa, đi vào lòng người đọc để nâng cao kiến thức cộng đồng.

Khi tham dự, tham luận tại các hội thảo về văn hóa-văn nghệ dân gian, tôi giữ quan điểm: “Đừng coi bảo tồn văn hóa cứ như là bảo tàng”, chỉ khư khư cất giữ và trưng bày như cổ vật! Tức, cố giữ cái gốc, có thể dưới góc nhìn và tư liệu cá nhân của nhà nghiên cứu có được, cứ suy nghĩ và cho đó là cái gốc. Nhưng để xác định được đâu là gốc, có từ bao giờ, đây một vấn đề rất nan giải và thường gây ra những tranh cãi không hồi kết. Trong khi thực tế, không có di sản văn hóa vật thể hay phi vật thể nào hiện nay còn nguyên gốc qua quá trình tồn tại rất lâu dài với biết bao sự biến đổi và phát triển của lịch sử. Nó được bảo tồn trong quá trình tiến hóa với sự tiếp nối sáng tạo để tồn tại và phát triển, từ thế hệ này đến thế hệ khác mà hồn cốt vẫn giữ được, nên mới gọi là di sản.

Đất nước Việt Nam chúng ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc lại có nhiều ngành nghề, phong tục, tập quán khác nhau,... dẫn tới phạm vi, đối tượng và vùng lãnh thổ khác nhau, nên phạm trù nghiên cứu cũng nhiều hơn và rộng lớn hơn. Điều đó, khiến công việc của người sưu tầm, nghiên cứu phải đối mặt với nhiều thách thức hơn. Thách thức vì di sản văn hóa phi vật thể đang biến đổi nhanh chóng hơn, bởi ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, nền kinh tế thị trường... đang được xác lập, tốc độ đô thị hóa phát triển nhanh, các khu kinh tế về công nghiệp, dịch vụ và du lịch đã và đang hình thành tận các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và ngay cả góc nhìn sáng tạo của nhà nghiên cứu và quy hoạch, những thay đổi đã đi vào từng ngóc ngách bản/ làng, từng tư duy mỗi bộ tộc người, mỗi cá thể...

Cũng có nguyên nhân quan trọng do con người gây ra, đã được các nhà khoa học cảnh báo là sự xác lập về địa lý các địa giới hành chính bỏ qua các yếu tố văn hóa và lịch sử, sự tàn phá môi trường sống của thiên nhiên trong quy hoạch và xây dựng các dự án đặt trên lợi ích nhóm và không có tầm nhìn lâu dài, đây là cái giá phải trả rất đắt. Vì vậy, công tác quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội bền vững rất quan trọng. Việc đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở, xây dựng các công trình thủy điện thiếu quy hoạch với số lượng lớn, thiếu an toàn ở một số nơi trên cả nước, đã làm cho những cánh rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh, cây cối bị tàn phá khủng khiếp, việc tích và xả nước không đúng quy định, quy trình. Mùa hạ thì các dòng sông cạn kiệt, mùa đông thì gây ra lũ lụt lớn trên diện rộng, núi rừng bị sạt lở nghiêm trọng, hạ tầng xã hội bị hư hỏng nặng; các con sông dòng suối khô cạn, dòng chảy bị ngăn cản khiến nhiều khu vực bị sạt lở nghiêm trọng; khi trời mưa nước không kịp thoát gây lủ lụt ngay trong lòng thành phố, đất sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp của người dân bị mất dần… Các di tích lịch sử, văn hóa dân gian bị cuốn trôi hay bị di dời, có khi bị phá bỏ không thương tiếc vì nằm trong vùng quy hoạch, không có lợi cho nhà đầu tư! Không gian văn hóa dân gian ngày càng bị co cụm.

Bên cạnh đó, sự toàn cầu hóa cũng đã và đang tham dự vào quá trình phát triển xã hội trong nước, nên cái lợi và cái hại có tác động đan xen. Vấn đề là làm sao phải "gạn đục, khơi trong". Sự đa nguyên về văn hóa, giúp các nền văn hóa có cơ hội đến với nhau để giao lưu, tiếp biến và thông qua đó làm tăng thêm nội lực, sức sáng tạo cho mỗi dân tộc, giúp cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật phục vụ cho văn hóa và giúp hoạt động sáng tạo văn hóa-văn nghệ dân gian trở nên hiệu quả hơn. Hình thành đội ngũ hoạt động chuyên nghiệp, thu được chất lượng cao hơn. Chính thành quả đó phục vụ đời sống loài người có nền văn hóa, văn minh, tiến bộ một cách bền vững.

Từ thực trạng ở ba thôn Phú Túc, Tà Lang, Giàn Bí ở thành phố Đà Nẵng và các huyện miền núi như Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Trà My, Phước Sơn, Tiên Phước tỉnh Quảng Nam, huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi và nhiều nơi khác trên cả nước, chúng tôi đã có nhiều đợt đi điền dã để khảo sát, sưu tầm và nghiên cứu, cho thấy quá trình tiếp nhận và biến đổi các giá trị văn hóa thường không đồng đều: người trẻ biến đổi mạnh và nhanh hơn người già; nam giới dễ biến đổi hơn nữ giới, do sự đè nặng của tập quán, nhận thức giới tính…

Cái được và mất của quá trình này, chính bản thân người Cơ Tu và các tộc người thiểu số khác không thể cân đong đo đếm rõ ràng. Bởi sự thay đổi theo chiều hướng tích cực của đời sống vật chất có thể được biểu thị bằng các con số cụ thể, bằng biểu đồ, nhưng sự biến đổi về mặt văn hóa, tinh thần lại chậm hơn, không rõ ràng và khó nắm bắt ngay tức thì. Chính vì thế mà trong một số lĩnh vực, không hẳn những chuyển biến về mặt văn hóa luôn tỉ lệ thuận theo chiều tăng trưởng của những chỉ số kinh tế, của điều kiện vật chất hay cơ sở hạ tầng...

Quá trình này vừa mang tính chất “tự nguyện”, vừa là sự “ép buộc” từ phía chính quyền (chủ trương, chính sách) và người dân. Hai xu hướng này đều thiếu sự phản biện xã hội. Các nhà nghiên cứu cũng không thể “cầm đèn chạy trước ô tô” và người dân bản địa chỉ có nghĩa vụ chấp hành. Nếu có sự tác động hữu cơ giữa chính sách Nhà nước và sự tiếp nhận có chọn lọc và tự nguyện của người dân thì kết quả sẽ tốt hơn nhiều.

Hiện nay, khác với trước đây vì sự đè nặng của phong tục, tập quán, khiến họ hầu như không có nhiều sự lựa chọn. Có vùng, nhiều bộ tộc dù không đủ khả năng kinh tế cũng phải tích cóp nhiều năm hoặc vay mượn để thực hiện mục tiêu mới của họ. Sự thay đổi đã đưa lại cho họ nhiều sự lựa chọn: Hoặc thực hiện theo người miền xuôi để hòa nhập (thường rơi vào những người không có đủ điều kiện), hoặc theo truyền thống, tập tục (thường rơi vào những gia đình khá giả). Ví dụ như khi mua sắm trang phục cổ truyền thì đắt đỏ hơn trang phục may sẵn của người miền xuôi, trang sức để thể hiện đẳng cấp cũng khác, phương tiện đi lại cũng phải sánh ngang bằng với người miền xuôi,...

Qua những thay đổi trên bình diện cả nước, có thể được xác định kết quả do hai tác nhân chính: Sự tác động của nhà nước qua hệ thống chính sách, qua các dự án về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đã tạo nên môi trường sống mới như cơ sở hạ tầng, điều kiện vật chất, giao lưu, cư trú xen cài, nguồn vốn đầu tư sản xuất, sự thay đổi giá trị cuộc sống, sự tiếp nhận cái mới… và tâm lý mong muốn, nhu cầu về sự đổi thay cuộc sống của chính bản thân người dân trong sự lựa chọn và tiếp nhận các giá trị mới (khoa học kỹ thuật, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, hoạt động văn hóa…).

Những suy nghĩ hay phản ứng của họ về sự đổi thay, cho thấy sự thắng thế của chiều hướng tiếp nhận những yếu tố mới so với bảo lưu giá trị truyền thống (sẵn sàng mua sắm tivi, xe máy, điện thoại thông minh, trang sức, tập tục cưới xin, ma chay, thờ cúng,... nhưng lưỡng lự khi mua một bộ chiêng trống, nhạc cụ hay trang sức, trang phục truyền thống của dân tộc mình,...). Đó là thách thức bởi sức ép hòa nhập; nền văn hóa, văn nghệ dân gian rất dễ bị tổn thương, dễ bị xóa nhòa, có khi không biết gìn giữ, cái tốt cũng bị triệt tiêu, có thể bị coi rẻ.

Vậy làm sao vẫn giữ bản sắc riêng biệt của các dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam? Để trả lời cho câu hỏi khó này, chúng ta đã có nhiều bài học quý giá từ ông cha ta để lại. Vào thế kỷ XVII, vùng đất Hội An đã phát triển thành một thương cảng quốc tế. Văn hóa Việt Nam không những không mất đi mà còn được bảo tồn, các nền văn hóa khác được Việt hóa để hội nhập, phát triển và làm phong phú thêm văn hóa bản địa. Không khó để nhận diện và đánh giá những thay đổi trong tăng trưởng kinh tế và điều kiện sống, nhưng điều đó lại không dễ trong đời sống văn hóa, đời sống tinh thần cũng như những giá trị bản sắc của các tộc người.

Việc giải quyết hai vấn đề này trong mối quan hệ vừa tương hỗ, vừa tương nghịch là không đơn giản. Văn hóa-văn nghệ dân gian gắn liền với đời sống của đồng bào bản địa, nên việc nâng cao ý thức tộc người là điều nên làm, vì chính họ là người thụ hưởng và quyết định sự bảo tồn bền vững những giá trị bản sắc đó. Hơn nữa, trong tất cả những đặc trưng của tộc người, tính ý thức là đặc trưng quan trọng trong sự phân biệt, nhận dạng các tộc người.

3. Kết luận

Các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp với các ngành kinh tế - kỹ thuật, các doanh nghiệp để xã hội hóa các tài nguyên văn hóa - nghệ thuật dân gian. Chú trọng công tác phát triển, bồi dưỡng đội ngũ nhà nghiên cứu, đặc biệt là người dân tộc bản địa và các sinh viên chuyên ngành ở các trường đại học... Phục dựng những lễ hội truyền thống có giá trị đã mai một. Phong tặng các danh hiệu cho các nghệ nhân, bởi họ là những người quan trọng nắm giữ và phát triển di sản đó. Việc tôn vinh phải đi đôi với sự quan tâm đến nhu cầu của các nghệ nhân, tạo điều kiện vật chất và tinh thần, để họ có được môi trường thực hành, sáng tạo và truyền dạy.

Văn hóa văn nghệ dân gian là những lớp trầm tích chưa được khai quật hết, cái khai thác được không thể đắp chiếu để đó hay chỉ đưa vào bảo tàng mà phải nghiên cứu ứng dụng phát tán, lan tỏa dưới nhiều hình thức, trở thành tài sản để phát triển bền vững trong cộng đồng, làm cơ sở cho các hoạt động du lịch. Nhà nước cần tạo điều kiện, khuyến khích các tổ chức xã hội, người dân làm ra những sản phẩm văn hóa, nghệ thuật dân gian (múa hát dân gian, sử dụng các nhạc cụ dân tộc cổ truyền, phát triển các ngành nghề mỹ nghệ, các hoạt động lễ hội có tính dân tộc…). Chú trọng công tác bảo tồn và phổ biến các giá trị di sản vật thể và phi vật thể văn hóa truyền thống đa dạng của 54 dân tộc Viêt Nam.

Chú trọng nghiên cứu ứng dụng để phổ biến rộng rãi các giá trị văn hóa truyền thống dân gian bằng các loại hình phù hợp theo từng tộc người, từng vùng-miền-văn-hóa, bảo tồn sự đặc sắc văn hóa của các dân tộc, từng bước tiếp nhận sự phát triển văn hóa dân gian của các dân tộc trên thế giới dể làm phong phú, đa dạng thêm cho nền văn hóa Việt Nam.

Điều tâm huyết tôi xin chia sẻ, trao đổi với những người nghiên cứu, nhất là những người đang bắt đầu sự nghiệp. Các đề tài nghiên cứu ngày càng đi vào chiều sâu, đòi hỏi sự hiểu biết “từ khi còn nằm trong bụng mẹ đến tuổi trưởng thành”, nắm bắt về mọi mặt càng cụ thể càng tốt cho nghiên cứu khoa học. Theo tôi, nên tập trung nghiên cứu những đề tài gần gũi nơi quê hương mình. Bởi đó là mảnh đất rất quen thuộc, nên chúng ta càng tự tin vì có nhiều thuận lợi, để khai thác tốt nguồn tài nguyên vốn có. Dẫu đó là một vùng đất giàu trữ lượng văn hóa đặc sắc hay không thì cũng có nhiều điều cần nghiên cứu để xác định, bởi việc quan sát, lắng nghe, tìm hiểu... cũng thuận lợi hơn. Đó chính là những lợi thế, may mắn, là “gia tài của mẹ” mà người nghiên cứu được thừa hưởng từ nơi chôn rau cắt rốn và nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành, nhiều khi như viết hồi ký của bản thân khi tác giả đã lớn tuổi. Từ những thành công và kinh nghiệm của nhiều người nghiên cứu đi trước đã khẳng định điều này.


[1] Nguyễn Khoa Điềm (2005), “Xây dựng một chiến lược quốc gia về văn hoá dân gian trong thời kì công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 2.


[2] Trích trong tập sách Những làng nghề truyền thống nổi tiếng Hội An của Huỳnh Viết Tư.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...