Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2024

Tiếp nhận di sản triết học, văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi giai đoạn trước 1945 (PGS. TS. Nguyễn Hữu Sơn)

Tóm tắt: Giới thiệu khái lược Nguyễn Đình Thi (1924- 2003) là nhà hoạt động xã hội, nhà văn hóa, văn sĩ, thi sĩ, kịch sĩ, nhà phê bình văn học và nhạc sĩ nổi tiếng. Tập trung tìm hiểu những đóng góp về triết học, văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi giai đoạn trước Cánh mạng tháng Tám 1945, có ý đặt định hướng cho cuộc đời hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật của ông sau này. Xác định nội dung các sách triết học phổ thông thời trẻ của Nguyễn Đình Thi như Triết học nhập môn, Triết học Kant, Triết học Nietzsche (1942), Triết học Einstein, Triết học Descastes, Siêu hình học (1943) và một số bài báo, sách viết chung thời kỳ Cách mạng mùa thu 1945. 

Phân tích một số nhận định của Nguyễn Đình Thi về các khái niệm “tư duy” (penser), “bản thể luận” (ontologie), “vũ trụ luận” (cosmologie), “trực giác pháp” (intuitionnisme), “vấn đề bình luận” (problème criuque) và mở rộng các nội dung nhân sinh, con người xã hội, tầng lớp, dân tộc, nhân loại và lịch sử tiến hóa. Nhấn mạnh vị trí các công trình nghiên cứu triết học phương Tây và văn hóa, văn nghệ Việt Nam của Nguyễn Đình Thi (đặc biệt với nguồn ca dao, cổ tích, thơ lục bát) đã góp phần kiến tạo nên bảng giá trị tinh thần dân tộc trong bối cảnh đêm trước Cách mạng tháng Tám 1945…

Từ khóa: Nguyễn Đình Thi, triết học, văn hóa, văn học, nghệ thuật
***
Nhiều danh hiệu trong một danh nhân tài năng Nguyễn Đình Thi (1924- 2003): nhà hoạt động xã hội, nhà văn hóa, văn sĩ, thi sĩ, kịch sĩ, nhà phê bình văn học và nhạc sĩ nổi tiếng. Nguyễn Đình Thi sớm thể hiện tinh thần yêu nước, từ 1943 tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc, được tin tưởng giao phụ trách báo Độc lập (?) và tạp chí Tiên phong (1945)[1]. Bài viết này tập trung tìm hiểu những đóng góp về nền tảng triết học, văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi giai đoạn trước Cánh mạng tháng Tám 1945, có ý nghĩa nhập cuộc, đặt nền móng, định hướng cho cuộc đời hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật của ông sau này.

Nguyễn Đình Thi sớm nổi tiếng thông minh, học giỏi, đặc biệt tiếng Pháp và triết học. Khi đang học Luật, ông đã soạn các sách phổ thông triết học như Triết học nhập môn, Triết học Kant, Triết học Nietzsche (1942), Triết học Einstein, Triết học Descastes, Siêu hình học (1943) và một số bài báo, sách viết chung vào giữa năm giao thời Cách mạng mùa thu 1945. Ông vừa viết sách triết học, vừa nghiên cứu, trao đổi, tranh luận về văn nghệ dân gian, về văn học truyền thống dân tộc (xa gần bàn rộng đến các tác giả Nguyễn Dữ, Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan cùng những Xuân Diệu, Huỳnh Mai, Kiều Thanh Quế, Sơn Trà, Thượng Tân…) và hướng đến xây dựng nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam hiện đại.

Trên nền tảng các công trình nhập môn triết học nói trên, tên tuổi Nguyễn Đình Thi sớm được học giới ghi nhận và đánh giá cao. Sau gần hai năm ra đời, các nhà biên tập kỳ cựu thời danh của Tri tân tạp chí (1941-1945) khi lần đầu nhận đăng bài của cây bút Nguyễn Đình Thi 19 tuổi đã hoan hỷ biểu dương trong Lời Tòa soạn: “Ông Nguyễn Đình Thi, một trang thanh niên anh tuấn, đã từng viết những sách như Triết học Nietzsche, Triết học Kant và Triết học Einstein. Nay ông, vì yêu Tri tân, vui lòng cộng tác với chúng tôi về bài vở”[2]… 

Tiếp đó, trong bài viết có tính chất khái lược, Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh nhiệm vụ của triết học không chỉ suy tư, diễn giải, nêu vấn đề mà còn cần thực hiện bình luận, trao đổi, tranh luận, đấu tranh, ứng dụng vào nhận thức “sự biến đổi” đời sống xã hội: “Trải qua các thời đại, người ta cãi nhau đã nhiều về bản thể, về nguyên nhân và mục đích của sự vật, mà vẫn chưa tìm được một nhời giải chắc chắn. Đến thế kỷ thứ 19, một triết nhân Đức, ông Kant, bỗng đặt thêm một câu hỏi mới: “Những vấn đề mà huyền học tìm cách giải quyết ấy có phải là những vấn đề mà trí óc loài người có thể giải quyết nổi không?”, hay nói một cách khác: Trí óc người ta có thể biết được bản thể, nguyên nhân tối sơ, mục đích cuối cùng của sự vật không?... Câu hỏi đó nay có lẽ là câu hỏi quan trọng nhất của huyền học. Та nên nhận rằng trả lời câu hỏi của Kant là “phê bình” cái biết của trí óc chúng ta, là tìm xem trí óc chúng ta “đáng giá bao nhiêu”, là nói truyện “triết”; bởi vậy vấn đề đó người ta còn gọi là vấn đề bình luận (problème criuque), mà ngay cả trong phạm vi của huyền học, triết lý cũng bỏ phần “lý” mà chỉ giữ lại phần “triết”[3]…

Bàn thuần túy về triết học, Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh mối quan hệ vật chất và tinh thần: “Đến thế kỷ thứ 4 trước Thiên Chúa, Aristote mới kết liễu được cuộc tranh luận đó (động và tĩnh trong bản thể - NHS thêm) bằng cái bản thể của ông. Và khi đó thì vấn đề chính của triết học là tìm biết bản thể của vũ trụ. Triết học trước hết là một “bản thể luận” (ontologie). Bản thể luận đó chia làm hai phần: 1) Phần thứ nhất nghiên cứu về vũ trụ, nghĩa là về tất cả những gì ở bên ngoài chúng ta: đó là vũ trụ luận (cosmologie). Câu hỏi chính của vũ trụ luận là: vũ trụ do vật chất hay tinh thần tạo nên? 2) Phần thứ hai nghiên cứu về chúng ta, nghĩa là về con người. Người ta do vật chất hay tỉnh thần mà có? Linh hồn với thân thể có những dây liên lạc nào?”[4]…

Nguyễn Đình Thi tập trung xác định tính đồng nhất, nhân quả, luận lý hình thức: “Nói về phép luận là nói đến phần cốt yếu của triết học Tây phương. Thực vậy, các triết gia Âu châu đều chú ý đặc biệt đến phần phương pháp là phần mà người Á Đông ta hay nhãng bỏ. Bởi vậy, muốn nhìn thấy rõ những cuộc chuyển biến trong triết học Tây phương, không gì bằng phác qua cuộc tiến hoá của phép luận”[5]… Điều này có nghĩa Nguyễn Đình Thi đi từ phân tích bản chất triết học đến nhận diện nhiệm vụ tranh luận và lý giải cách thức “luận”, cũng tức là bàn về phương pháp tiếp cận, trong đó có tiếp cận văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh sự phát triển của nhận thức chính là trên cơ sở quan sát và tổng kết tri thức về sinh học, động vật và quy luật tiến hóa: “Sau Kant, Bergson người Pháp, bèn tìm một phép luận mới. Ông nói: vũ trụ lúc nào cũng thay đổi, mà lý trí thì lại đóng chặt sự vật lại. Vì vậy nên ta mới chỉ biết được bề ngoài trời đất, vì vậy ta mới không vào được tận bên trong thực thể. Nhưng nếu nay ta đổi cách nhìn vũ trụ đi, nếu ta khòng đứng bên ngoài sự vật để rình chộp lấy sự thay đổi chứa đựng trong đó nữa mà để một trực giác, nghĩa là một cách biết ở ngoài trí thông minh, một thứ cảm tình đặc biệt lôi cuốn ta, đặt ta vào trong lòng sự vật, thì ta có thể biết được những cuộc thay đổi của bản thể đó. Phép đó tức là trực giác pháp (intuitionnisme) mà ta thường nghe thấy nói đến luôn vậy”[6].

Mở đầu vấn đề “luận về tư duy” vốn liên quan chặt chẽ tới hoạt động sáng tạo nghệ thuật và bình điểm các giá trị văn hóa, văn nghệ, Nguyễn Đình Thi chứng dẫn: “Ngày nay, chúng ta đã quen nghe những chuyện tư tưởng. Cùng với những nhà thi sĩ, chúng ta dễ dàng để “Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Xuân Diệu)… Chúng ta dùng đến trí khôn trong mỗi phút, mỗi giây của đời sống. Người dân cầy ngoài đồng, người thợ máy trong xưởng, người học trò bên giấy bút, không lúc nào không nghĩ ngợi, - hay nói theo các học giả, không lúc nào không tư duy - , vì biết rằng trời xanh, lúa vàng, hay chăm chú gò ghép những tấm sắt nặng, hay tìm ý để làm bài đều là tư duy (penser) cả”[7]… 

Từ đây Nguyễn Đình Thi mở rộng các nội dung “hợp quần” nhân sinh, con người xã hội, tầng lớp, dân tộc, nhân loại và lịch sử tiến hóa: “Muốn chống với cầm, thú, với đói rét, người xưa nhận thấy có hai cách: một là ở với nhau cho đông, hai là chế tạo nên những đồ dùng… «Hợp quần thành sức mạnh», câu cách ngôn quen thuộc đó, được áp dụng mỗi ngày một thêm triệt để. Những gia đình họp thành những thị tộc, những thị tộc họp thành những bộ lạc nhỏ hay lớn. Cuộc sống chung đụng được thêm dễ dàng. Nhưng nói đến sống chung đụng là nói đến giao thiệp, và nói đến giao thiệp là nói đến băn khoăn, chọn lọc, nghĩa là nói đến tư duy. Vậy tư duy phát sinh trong xã hội. Mục đích của tư duy ấy là chế tạo những đồ dùng. Từ hòn đá, cành cây, những chiếc cuốc đá, cung gỗ, người ta đi đến mũi tên bịt đồng, lưỡi dao bằng sắt: những đồ dùng càng tốt, tư duy càng phát triển và tư duy càng mở mang, những đồ dùng càng thêm nhiều, sự hoạt động càng thêm dễ dàng, đời sống càng thêm sung túc”[8].

Đương khi Nguyễn Đình thi đã và đang say sưa đăng đàn các vấn đề triết học, nhân học và văn hóa, xã hội thì đọc được bài viết của học giả Đinh Gia Trinh (1915-1980). Trên thực tế, Đinh Gia Trinh tương đối khách quan trong cách nhận diện, phân tích, đánh giá tình hình, thực trạng tri thức triết, sách triết học và nêu vấn đề: “Một điều đáng chú ý là triết học hiện nay hình như cũng được dân chúng trìu mến lắm. Cách đây ít lâu, hỏi các hàng sách Hà Nội đã thấy bán hầu hết những quyển sách triết học của “Tủ sách triết học Tân Việt”. Nào Kant, nào Nietzsche, nào Bergson, độc giả yêu sách đã vơ cả rồi. Tôi phải ngạc nhiên vì điều những triết học, phải suy nghĩ nhiều mới lĩnh hội được và thuộc vào một thống hệ tư tưởng khác biệt với tư tưởng Á Đông mà sao độc giả đọc sách quốc văn bỗng lại hoan nghênh nhiệt thành như thế”; đồng thời ông bình luận, nhấn mạnh các khả năng tiếp cận, phiên dịch, quảng bá và giảng dạy triết học: “Những sách về triết học ấy bảo rằng ích lợi, không ai cãi, vì nó truyền bá một cái gì đó, và sự truyền bá chân lý nào chả đáng khuyến khích. Nhưng ta không khỏi nhận thấy rằng sự truyền bá ấy không có thống hệ và trật tự gì cả. Tôi nhớ ở Pháp có những nhà xuất bản, trong đó có nhà Mellose in bán những cuốn sách khảo riêng về một triết gia (như Platon, Malebranche, Descartes...) nhưng ở Pháp giáo dục về triết học đã tiến bộ hơn ở nước ta, và độc giả trước khi đọc những cuốn sách đó thường đã hiểu qua loa cái địa vị, nơi chốn của nhà triết học. Ở xứ ta chưa hề có một giáo dục triết học nào ngoài học đường, hay nói cho đúng, ngoài ban triết học ở các trường trung học. Về triết học Đông và Tây, công chúng đều mờ mịt cả, hoặc biết thiếu thốn, lộn xộn, mập mờ. Những vấn đề triết lý lại thường cần phải suy nghĩ lâu và cẩn thận mới mong thấu triệt được, nên nếu lười suy nghĩ, người ta thường bỏ qua đi, vì nó thường cũng không quan thiết gì trực tiếp với cuộc sống hàng ngày ở xã hội ta”[9] …

Trong phần tiếp theo, Đinh Gia Trinh tập trung bình luận, bổ khuyết, góp ý về trường hợp Nguyễn Đình Thi: “Trong một tình trạng tinh thần như thế mà xuất bản những quyển Triết học Kant, Triết học Bergson, Triết học Einstein (Chính ở những nước tân tiến ở Âu châu, đã mấy ai thấu triệt được những thuyết của Einstein? Những quyển sách phổ thông học thuyết của Einstein ấy khó tránh được lỗi phản bội tư tưởng của nhà toán học kỳ tài), nếu đó là một sự phổ thông thì thực là phổ thông thiếu phương pháp và hấp tấp vô chừng. Muốn phổ thông có thống hệ, sao lại không đi từ căn bản, rồi đạt dần lên những kiến trúc lớn? Trước khi muốn người ta hiểu Einstein, sao không dạy trước người ta chút toán học, vật lý học, luân lý học và siêu hình học? Và trước khi dạy siêu hình học, sao không dạy tâm lý học đã? Trong học thuyết của một triết gia có những phần dễ và những phần khó. 

Có những phần học thuyết của Descartes mà một học sinh bậc thường ở lớp triết học hiểu được, nhưng lại có những lý thuyết khác cần phải có suy nghĩ khó khăn hơn và một kiến thức cao hơn mới thấu được, cũng như trong học thuyết Einstein có những phần mà một học sinh đỗ Tú tài toán pháp hiểu được, lại có những phần mà y không hiểu được. Đọc để hiểu tất cả học thuyết của một triết gia, cần phải là một người đã có một kiến thức đại cương về triết học không thấp lắm, điều kiện rất hiếm thấy ở những độc giả chỉ biết đọc quốc văn”; đồng thời nêu ước nguyện về một định hướng đúng đắn, tươi sáng nhưng không dễ và hầu như không thể thực hiện: “Như trên kia ta đã nói, xưa kia những sản phẩm về trí thức của ta đã quá thiên về văn chương, có khi về một thứ văn chương chỉ là hình thức kiều diễm. Ngày nay những tác phẩm về tư tưởng, những thiên khảo cứu dần dần nhiều lên và được độc giả ưa đọc, ấy thực là một ảnh hưởng tốt của Tây phương và một triệu chứng hay. Ta chỉ mong sự làm việc của các nhà trí thức có phương pháp trật tự và các công trình tạo tác được các nhà trí thức trìu mến thận trọng hơn lên”[10]…

Trong bài trả lời khá mạnh mẽ, quyết đoán, thiên về bình phẩm thái độ, Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh đặc điểm thực tại xã hội, vai trò giới trí thức trong hoạt động mở đường, dẫn đường, phổ biến tri thức triết học: “Người viết sách biên khảo ở xứ ta hiện thời có lẽ cầm bút một cách nặng nhọc và đau đớn hơn cả. Đau đớn vì không ai biết đến cho. Một số bình giả xứ này thường hay khinh suất. Một ví dụ: Có người chê loại sách khảo cứu là một loại sách không có một tỉnh thần gì riêng biệt. Theo nhà bình giả ấy, chỉ cần xem sách đúng hay sai mà thôi. Nhưng mà trời ơi, cái khó là làm sao mà biết đúng hay sai chớ. Tác phẩm Descartes có ba bốn quyển mà người ta cãi nhau ba bốn trăm năm nay còn chưa xong”; từ đó xác định tương quan với đời sống văn chương đương thời: “Phong trào sách biên dịch trong văn chương Việt Nam ngày nay còn hỗn độn. Điều đó ai cũng biết. Nhưng sự hỗn độn đó không phải dấu hiệu đáng lo, mà chỉ là lẽ tự nhiên. Nó biểu dương cho cái sức sống mạnh mẽ của tinh thần và văn chương Việt Nam vậy… Trong lúc còn chưa phân biệt phận sự nhà cầm bút, thứ nhất phận sự nhà phê bình là cần rộng lượng và thận trọng. Thận trọng mới biết phân biệt, rộng lượng mới biết nâng đỡ. Cũng có khi cần ác nghiệt, nhưng ác nghiệt cho đúng đường… Vả lại chỉ những nhà phê bình chân chính mới có ảnh hưởng đến kẻ cầm bút. Một nhời phê bình sai lầm, hay non nớt, chỉ làm hại cho nhà phê bình”[11].

Khi đã tiếp nhận quan điểm văn nghệ Macxit và Đề cương về văn hóa (1943), dường như Nguyễn Đình Thi nhận diện các vấn đề văn hóa, văn nghệ trở nên cụ thể, sắc nét hơn, nhấn mạnh nhiều hơn tới tính chiến đấu, tinh thần lạc quan và sức mạnh quần chúng nhân dân. Ông lên tiếng phê phán trực diện, mạnh mẽ sự “nhận lầm”, cho đặc tính văn chương Việt Nam là “buồn”, thực là “điều lầm”, “tai hại” và “chỉ là đồ nhập cảng muộn của ngoại quốc”. Ông ý thức trở lại sức mạnh tinh thần truyền thống dân tộc, tìm về nguồn sáng dân gian, đặt cược vào truyền thống văn hóa làng quê, làng xã đời thường, bình dân, bình dị: “Nền văn hóa nước ta xưa là công trình của lớp người nông tang. Vì vậy, muốn hiểu tỉnh thần Việt Nam, không thể đem riêng cái văn chương thượng lưu của một số ít nhà nho chịu khuôn khổ của Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo ra mà xét được. Làm môn đồ của Thích Ca và Lão Đam, họ chán đời là lẽ tự nhiên. Vâng theo tam cương ngũ thường của Nho gia, họ “luận lý”, họ tôn tin, họ phục tòng cũng không có gì lạ!”; nhấn mạnh vai trò văn chương đại chúng: “Muốn biết tinh thần Việt Nam chân chính, muốn hiểu rõ cái nguồn sống chảy trong mạch máu dân tộc chúng ta, phải tìm đến văn chương của dân chúng, tuy bình dị, nhưng thực biểu lộ được ý nghĩ, tình cảm và hành động của mọi người. Nền văn chương đại chúng đó, khi đã thành hình là ca dao, khi chưa thành hình là cổ tích vậy”; qua đó mở rộng so sánh và đối sánh thơ lục bát trường thiên kiệt tác Truyện Kiều với những áng đỉnh cao thơ Nôm Đường luật như Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan và đi đến xác định: “Dùng một hình ảnh hơi táo bạo, ta có thể ví những lối thơ phỏng Trung Hoa như một chiếc bình pha lê dễ tô điểm, dễ đẹp nhưng không sao chứa nổi một tâm hồn rộng rãi, không sao đủ cho sức lôi cuốn của cả một dòng sông. Thơ lục bát, trái lại, hợp với tiếng nói nước ta hơn nên có thể dùng được những nguồn cảm hứng tràn lan nhất mà không phải tự phủ nhận, tự hủy bỏ một chút gì”[12]...

Cho đến đoạn kết, Nguyễn Đình Thi thêm một lần nhấn mạnh đặc tính ca dao, truyện cổ tích như một thành phần nòng cốt của dòng cháy văn hóa, văn nghệ dân tộc: “Tình thần Việt Nam, biểu lộ trong ca dao và cổ tích, không phải một tinh thần buồn bã, yếu hèn, sợ sống, sợ tranh đấu. Trái lại, tinh thần Việt Nam thuần túy là một tinh thần vui vẻ, lạc quan, ham sống, ham vật lộn, biết tin tưởng ở ngoại vật và tin tưởng ở người cùng nòi… Tinh thần ấy, mỗi khi bị nén xuống là cố tìm mọi đường thoát dậy, mỗi khi gặp một sự thật đau đớn bi đát là cố tìm mọi cách chữa lại cho kỳ được. Nó biết yêu khỏe khoắn, buồn trung hậu, chứ không đắm đuổi, chịu đựng, ủy mị. Nó khác hẳn những tư tưởng chán đời thoát tục, nhập cảng của ngoại quốc”; từ đó khơi dậy sức sống, niềm tin, ý chí, nghị lực tầng lớp thanh niên trước hiện tình đất nước: “Trong tình trạng xã hội ta, tình trạng thanh niên ta hiện thời, làm cho tỉnh thần đó sống dậy là một điều cần thiết vô cùng. Người tuổi trẻ xứ ta phải nhớ rằng xưa nay bao giờ người dân Việt cũng ở gần cuộc sống, và ham sống xứng đáng… Không lánh xa đoàn thể, không lãng mạn đắm mình trong quá khứ, trong một tình yêu tội lỗi, yếu mềm, không say sưa đau đớn vì định mệnh, cao dao và cổ tích Việt Nam khuyên người thanh niên phải biết can đảm, nhìn thẳng vào cuộc sống, nhận cho rõ những vấn đề cần giải quyết trong đó rồi lăn vào đời, đem tấm lòng trung hậu, sức mạnh dồi dào, thẳng thắn của mình mà hòa hợp với người chung quanh, với đoàn thể, để nâng cao sinh hoạt, để giữ vững lửa sống truyền tự bao nhiêu đời khỏi bị dập tắt, và nguồn sống của dân tộc lưu thông thế hệ nọ sang thế hệ kia khỏi bị khô cạn, để làm cho những mối đau thương mỗi ngày một ít hơn và cuộc sống trong non sông gấm vóc chúng ta mỗi ngày một đáng sống hơn”[13]...

Có thể nói bài nói chuyện Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích của Nguyễn Đình Thi đã có tiếng vang lớn, được lấy làm tiêu đề và in lại trong chuyên đề Sức sống của dân Việt Nam[14] của ba tác giả (cùng Đặng Ngọc Tốt và Dương Đức Hiền). Ngay sau đó sách được giới thiệu, quảng bá trên Tri tân Tạp chí[15] và sau này tiếp tục được Nguyễn Đình Thi tuyển in mở đầu cho tập tiểu luận, phê bình cá nhân (trước những Nguyễn Huy Tưởng, Trần Đăng, Nam Cao, Tố Hữu)[16]…
*
Chớm sang tuổi 20, Nguyễn Đình Thi bước vào làng văn hóa, văn nghệ với các công trình nghiên cứu triết học phương Tây và văn hóa, văn nghệ Việt Nam trong bối cảnh đêm trước của Cách mạng tháng Tám 1945. Các công trình phiên dịch, giới thiệu nhập môn triết học phương Tây và khảo cứu, liên hệ, so sánh với truyền thống văn hóa, văn nghệ (đặc biệt với nguồn ca dao, cổ tích, thơ lục bát) đã kiến tạo nên bảng giá trị tinh thần dân tộc. Với Nguyễn Đình Thi, nguồn di sản văn hóa, văn nghệ ấy chính là sức sống, sức mạnh và phải được cụ thể hóa, hiện thực hóa trong đại chúng, trong đoàn thể và công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đến ngày nay, những trang viết về triết học và văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi lại đã trở thành di sản tinh thần của dân tộc, ghi dấu ấn bi hùng của lịch sử đất nước thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945.

CHÚ THÍCH

[1] Xin xem Hà Minh Đức (Giới thiệu, tuyển chọn) (2000), Nguyễn Đình Thi - Về tác gia và tác phẩm. Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.1-396.

[2] L.T.S (1943): “Nói chuyện triết lý” (Nguyễn Đình Thi). Tri tân Tạp chí, số 88, ra ngày 25-3, tr.10.

[3] Nguyễn Đình Thi (1943): “Triết lý trải qua các thời đại”. Tri tân Tạp chí, số 89, ra ngày 1-4, tr.15.

[4] Nguyễn Đình Thi (1943): “Vấn đề bình luận”. Tri tân Tạp chí, số 90, ra ngày 29-4, tr.2.

[5] Nguyễn Đình Thi (1943): “Nói về phép luận”. Tri tân Tạp chí, số 91, ra ngày 15-4, tr.16.

[6] Nguyễn Đình Thi (1943): “Nói về phép luận”. Tri tân Tạp chí, số 93, ra ngày 9-4, tr.15.

[7] Nguyễn Đình Thi (1943): “Triết học phương Tây: Luận về tư duy (Pensée)”. Tri tân Tạp chí, số 106, ra ngày 5-8, tr.12.

[8] Nguyễn Đình Thi (1943): “Triết học phương Tây: Luận về tư duy (Pensée)”. Tri tân Tạp chí, số 107, ra ngày 12-8, tr.13.

[9] Đinh Gia Trinh (1944), “Nay và Mai - Ý kiến và cảm tưởng về những hoạt động tinh thần Việt Nam”. Thanh nghị, số 51-54, Giáp Thân, tháng 1, tr.8-9.

[10] Đinh Gia Trinh (1944), “Nay và Mai - Ý kiến và cảm tưởng về những hoạt động tinh thần Việt Nam”. Tlđd, tr.10-12.

[11] Nguyễn Đình Thi (1944): “Nhân trả lời ông Đinh Gia Trinh: Sách biên dịch triết học”. Tri tân Tạp chí, số 132, ra ngày 2-5, tr.14-16.

[12] Nguyễn Đình Thi (1944): “Nói tại Nhà Hát Lớn Hà Nội: Sức sống dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích”. Tri tân Tạp chí, số 147, ra ngày 22-6, tr.6-7+18-19.

[13] Nguyễn Đình Thi (1944): “Nói tại Nhà Hát Lớn Hà Nội: Sức sống dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích”. Tri tân Tạp chí, số 148, ra ngày 29-6, tr.10-11+14-16.

[14] Nguyễn Đình Thi (1944): “Sức sống dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích”. Sức sống của dân Việt Nam. Pháp - Việt tân văn, số 1-2, Lửa hồng Xb, Hà Nội, ngày 10-25, tr.46-67.

[15] TTTC (1944), “Giới thiệu… 1) Sức sống của dân Việt Nam của Đặng Ngọc Tốt, Dương Đức Hiền và Nguyễn Đình Thi. Lửa Hồng xuất bản. Giá: 4$50”. Tri tân Tạp chí, số 154, 10-8, tr.23.

[16] Nguyễn Đình Thi (1956): “Sức sống dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích”. Mấy vấn đề văn học. Nxb. Văn nghệ, Hà Nội, tr.5-24.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...