Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2024

DÂN CA VÀ NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CƠTU (Nhà nghiên cứu Văn Thu Bích)

Tóm tắt: Dân ca và nhạc cụ truyền thống tộc người Cơ Tu vùng cao xứ Quảng. Dân ca Cơ Tu chia làm 2 thể loại: Dân ca sinh hoạt và dân ca nghi lễ. Dân ca sinh hoạt gồm các điệu hát giao duyên - đối đáp, hát lý - nói lý và hát ru, Hát giao duyên, đối đáp gồm Điệu Babooch và Cr’lới, Chchăp và Babooch, Banooch, Pr’ ma (Hát lý - nói lý), Hát ru con, Dân ca nghi lễ: Người Cơ Tu có hai điệu hát nghi lễ: Điệu hát tế trâu và Điệu hát trong lễ tang.

- Nhạc cụ truyền thống của người Cơ Tu khá đa dạng, gồm bộ gõ, bộ hơi, bộ dây, với khoảng gần 20 loại. Ngoài chiêng trống, người Cơ Tu có nhiều sáng tạo trong việc chế tác ra các loại nhạc cụ truyền thống khác nhau như: đàn, sáo, kèn, khèn gồm có: kèn sừng trâu với 2 loại là tù và Tơghêi, asăng và kèn Cơr’zool, đàn Abel, đàn Hroa, Đàn Ânjưl, đàn Tơm rech, Tapeh Alui, kèn Kooc, sáo A lươt, sáo Cr’toot, sáo Tơret, sáo Rahel, L’hel, ống tiêu Cr’ toot, trống lớn Cathu và trống con Ch’gơr.

Mỗi loại nhạc cụ Cơ Tu gắn liền với một chức năng và cách trình tấu khác nhau, tuỳ thuộc vào việc làng hay trong dòng tộc, gia đình, sử dụng trong các lễ hội hoặc trong sinh hoạt hằng ngày, các buổi biểu diễn dân ca, múa.

Từ khóa: Dân ca, nhạc cụ truyền thống, người Cơtu, Quảng Nam - Đà Nẵng.



Trong đời sống văn hoá tinh thần của người Cơtu ở miền núi Quảng Nam - Đà Nẵng nói chung, ở hai xã Hòa Bắc và Hòa Phú, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng nói riêng, dân ca và nhạc cụ truyền thống là hai loại hình văn hoá nghệ thuật đậm đà bản sắc dân gian.

1. Dân ca Cơtu

Lời của những bài dân ca Cơtu thường được hình thành từ ca dao, tục ngữ, câu đố; cứ mỗi loại có hàng chục chủ đề khác nhau, chủ đề được đề cập nhiều nhất là cuộc sống lao động sản xuất, tình yêu đôi lứa, thiên nhiên, trời đất, con người và xã hội. Dù là ca dao, tục ngữ hay câu đố đều được thể hiện có vần điệu, lời ca lại ngắn gon nên dễ nhớ dễ thuộc. Có nhiều bài dân ca phần giai điệu và tiết tấu gần tương tự nhau. Có thể từ một làn điệu dựa trên một trục âm chủ đạo, được biến thể đôi nét hình thành dị bản đơn giản để phù hợp với từng không gian, từng chủ đề. Đồng thời, làm phong phú thêm kho tàng dân ca Cơtu.

Dân ca Cơtu chia làm 2 thể loại: Dân ca sinh hoạt và dân ca nghi lễ. Phần lớn những điệu dân ca Cơtu ra đời ngay trong các sinh hoạt đời thường, nó tồn tại phát triển được chủ yếu vẫn bằng phương thức truyền miệng và bao giờ cũng gắn liền với đời sống xã hội.

1.1. Dân ca sinh hoạt: Gồm các điệu hát giao duyên - đối đáp, hát lý - nói lý và hát ru

1.1.1. Hát giao duyên, đối đáp

+ Điệu Babooch và Cr’lới: là hai điệu dân ca thường được nam nữ Cơtu hát khi tham gia hát đối đáp, hát lý trong những buổi sinh hoạt hội hè, bàn bạc tập thể, ở những lễ kết giao giữa làng này với làng nọ. Điệu Babooch và Crơlới được hát theo ngẫu hứng với những âm điệu linh hoạt, trong sáng, mượt mà.

- Điệu Babooch: thường do nam giới hát lên khi nhớ người yêu đi xa, than thân trách phận hoặc để tỏ tình.

Bài dân ca Ơi Ch’ roonh (Người yêu ơi) còn gọi là Lướt Ch’roonh lời cổ theo điệu Babooch:

“Ơ... ch’tur ơi lơ blô, acu lây amay liêm đhơ kê, H’cơnh ơ bơ acu choom bơơn

pénh. Ơ... X’ménh ơi lơ blô acu lây amay liêm đhơ kê, H’cơnh ơ bơ acu choom bơơn

coop. Ơ... bơ kê la ơ bơ la, ơ bơ kê la ơ bơ la.”

Dịch nghĩa: Ơi ngôi sao Hôm nhấp nháy kia, anh thấy em đẹp quá, anh muốn lấy được. Ơi ngôi sao Mai nhấp nháy kia, anh thấy em đẹp quá, anh muốn bắt đem về.

(Sưu tầm và dịch nghĩa: Vũ Huy Hoàng)

Khi nghe câu hát này thì cô gái phải hiểu là chàng trai muốn cưới cô gái làm vợ, xin hỏi cô có đồng ý không? Đây là câu hát mang tính ví von, từ nghĩa đen phải hiểu theo nghĩa bóng sâu xa, thể hiện mong muốn của chàng trai. Chàng trai mượn hình ảnh ngôi sao Hôm, sao Mai để tỏ tình, thay cho lời hỏi trực tiếp cô gái.

+ Điệu Babooch cũng được các chàng trai Cơtu hát lên khi bày tỏ tình cảm với người yêu bằng những âm điệu trữ tình qua lời ca mộc mạc, đằm thắm có nội dung đi tìm người thương. Làn điệu này được thể hiện với cây đàn gỗ Abel hai dây đơn sơ nhưng tạo được âm sắc khá độc đáo kết hợp với lời ca:

“Đôi chân em đẹp như ngà voi, ngực em đẹp như mặt trăng. Anh thấy tóc em như sợi mây dài trên núi. Cái bụng anh thương em, cái đầu anh nhớ em”.

Phổ biến hơn cả là làn điệu giao duyên Chchăp và Babooch dành cho cả nam và nữ. Lúc lên nương rẫy, khi xuống suối sông, những đôi bạn tình đã hát cho nhau nghe khúc ca lãng mạn ấy, giai điệu được lặp đi lặp lại theo chu kỳ gồm những nốt liền bậc ổn định với lời ca giản dị, chân thật:

“Ơi em! Dù em có đậu trên ngọn cây cao anh cố sẽ bay lên bắt cho bằng được. Ơi anh! Nếu anh cõng em qua sông em sẽ tặng cái vòng bằng vàng, còn anh chờ đợi đưa em qua suối, em sẽ tặng cái vòng bằng bạc”.

Trong các lễ hội hay sinh hoạt vui chơi, thanh niên nam nữ Cơtu còn hát đối đáp nhau bằng làn điệu Babooch:

Liêm Boop ađhi, đhiêp mơ Pôtơbang, Ang Cơr’niêng ađhi, đhiếp mơ Pô đhlôm. Acoon a vưch dei, đoh bóh tu chơtang. Acoon avang dei, đoh boh tu cơđông…

Dịch nghĩa: Miệng em xinh đẹp như hoa Pôtơbang, răng em trắng xinh như đóa hoa Pô đhlôm, con chim a vưch nó đậu trên ngọn cây dang, con chim a vang nó đậu trên ngọn cây lồ ô. Ý nói phong cảnh rất xinh tươi như cô gái vậy.

+ Điệu Chchắp: Hát vui trong đám cưới, hát khuyên nhủ con cháu của người già, tính chất làn điệu nhẹ nhàng, ý nghĩa thâm thúy, đậm tính giáo huấn.

Bài dân ca lời cổ K’nọo xâng theo điệu Baboooch (Hãy nghe và nghĩ).

“Clang chôc đôc, c’lang căh u lêt, Tuc đha’nuc đha’nu, đhị loom apêê tr’lin, Clang chôc đôc, c’lang căh u lế t, Tuc đha’nuc đha’nu, đhị loom apêê tr’vêy, Tahung li heep, Tahung cắh u lết, Tuc đha’nuc đha’nu, đhị loom apêê tr’tăc. Tahung li heep, Tahung cắh u lết, Tuc đha’nuc đha’nu, đhị loom apêê tr’lêệng”.

Dịch nghĩa: Cái máng nước chảy, cái máng nước không có lỗi, mọi người tự trong lòng muốn cãi nhau. Cái máng nước chảy, cái máng nước không có lỗi, mọi người tự trong lòng muốn đánh nhau. Cái khe suối hẹp, khe suối chẳng có lỗi, mọi người tự trong lòng muốn đâm nhau. Cái khe suối hẹp, khe suối chẳng có lỗi, mọi người tự trong lòng muốn giết nhau.

(Sưu tầm và dịch nghĩa: Vũ Huy Hoàng)

Bài này cũng là một dạng hát lý, có nội dung khuyên mọi người biết ứng xử, không nên cãi nhau vì những việc nhỏ nhặt, đừng đổ lỗi cho ai mà phải biết nhường nhịn nhau, không từ chuyện nhỏ mà biến thành chuyện lớn.

+ Điệu Rajooc: là điệu hát mừng lúa mới với tiết tấu tươi vui, nhộn nhịp

Bài Déh hơnh haroo t'mêê (Mừng lúa mới)

- Zâp k’coong da ding bhui har haroo đâm đương tr’bang tay m’nứih, zâp bhươl vel chô xoót haroo, zâp chr'hoong bhui har pra k’chăng.

- Haroo t’mêê kbhêê cha đéng haroo tơc bing zơng bing đông đơc ha zi k’bhố k’van, đơc hazi t’mông c’rêê liêm. Ơ... ơ... ơ...zâp ngai đhị bhươl. đớơh t’bêch ra dih đông xang. Zâp ngai tung tung da dá, pr’hát ơng hơnh haroo t’mêê...

- Haroo t’mêê kbhêê cha đéng, haroo tơc bing zơng bing đông, đơc ha zi k’bhố k’van , đơc hazi t’mông c’rêê liêm.

- Haroo t’mêê kbhêê cha đêng haroo tơc bing zơng bing đông đơc ha zi k’bhố k’van, đơc hazi t’mông c’rêê liêm.

Dịch nghĩa:

Khắp núi rừng ngập tràn niềm vui, lúa chín vàng chờ bàn tay người, khắp thôn làng vào mùa gặt mới, cả quê hương rộn vang tiếng cười.

Hỡi lúa mới đừng hao đi, lúa hãy đến đầy nhà đầy kho, cho chúng tôi cuộc sống ấm no, cho chúng tôi cuộc sống sum vầy.

Hỡi buôn làng trẻ già trai gái, nhanh nhanh dọn dẹp cửa nhà, sắp vòng tân tung da dá, hát mừng đón hạt lúa vàng.

Hỡi lúa mới đừng hao đi, lúa hãy đến đầy nhà đầy kho, cho chúng tôi cuộc sống ấm no, cho chúng tôi cuộc sống sum vầy.

(Sưu tầm và dịch nghĩa: Bhriu Liếc - Vũ Huy Hoàng)

1.1.2. Điệu hát Banooch, Pr’ ma (Hát lý - nói lý)

Điệu hát này các già làng và người cao tuổi thường hát khi đón mừng khách, mừng làng mới, mừng nhà gươl, nhà mới, hát xin dâu, hát đáp lễ.

Bài Chim sẻ chim sâu (Achim a’ih lơng) theo điệu hát lý

Achim a’ih liêm, a’ih xưl pr’hay, Ađoo cha haroo, pa hư hơn noo haroo.

Ađoo păr chô, pa zêng ma nứih pa lúh.

Ađoo păr ch’ngai, căh ngai k’noo rơơm.

Achim chơr lit, Ađoo đhanui đha na. Ađoo cha abhô zup zooi ahêê chóh chướt.

Ađoo păr chô ahêê kiêng tbh’ lơng, Ađoo păr chô ahêê kiêng tbh’lơng,

Ađoo păr ch’ngai, zêng ngai k’noo rơơm.

Dịch nghĩa: Con chim sẻ đẹp, hót hay, nó ăn lúa phá hoại mùa màng. Nó bay về mọi người xua đuổi, nó đi rồi chẳng ai nhớ nó. Con chim sâu hiền lành, nó bắt sâu giúp ta trồng cây. Nó bay về mọi người mừng rỡ, nó bay đi xa mọi người nhớ mong.

(Sưu tầm và dịch nghĩa: Vũ Huy Hoàng)

Nội dung bài hát lý này nhằm nhắc nhở mọi người nên hiểu rằng cần giúp đỡ, gần gũi dân làng ví như con chim sâu hiền lành chăm chỉ, đừng như con chim sẻ đẹp mã hót hay mà chẳng giúp gì cho ai.

1.1.3. Hát ru con

Trong các bài dân ca còn có bài hát ru “Bhadơơng cacoon được phát hiện ở một buôn làng Cơtu xa xôi trên đỉnh Trường Sơn. Mặc dù đây là bài hát ru con dân gian thuần khiết nhưng trong cấu trúc của nó đã thấp thoáng bóng dáng của ca khúc. Lời hát vang lên nhẹ nhàng trong âm điệu êm ái:

- Bếch ơi coon ơi... bếch ơi, Amóo ơi. Bếch ơi coon ơi… bếch ơi... ơi.

Prơ hêi A Pê Ama Rơ dăng lêi Anhăng Amóo ơi kaê Anhăng Amóo ơi. Achớc ơi...ơi... bếch ơi, Amóo ơi, bếch ơi… Achớc ơi...ơi… Đoong Amế vói bơơn ơi pơ Cơtu hoorơ lăng bếch ơi, Amóo ơi. Bếch ơi, Đhêi coon ơi....Amế vói bơơn ơi pơ.

coon ơi... bếch ơi...ơi. Ru ru coon ru, bếch ru. Ru ru móo ru. Đhêi ơi... coon ơi... bếch ơi... móo ơi....ơi. Prơ blêc ơi, xơ tu. Prơ blêc ơi, xơ menh. Bếch ơi… chớc ơi...

Toom ơ… Đhêi Amóo ơi... Đhêi ơi... Achớc ơi... Bếch ơi... Amóo ơi. Amế vói Cơtu. Đơơng cho dếi mêi tul bếch ơi. Amế vói pa pua rơ. Đơơng cho dếi mêi hoo rơ Achớc ơi… Đhêi ơi... coon ơi... bếch ơi... ơi. Crêi ơi, Anhăng Amóo ơi, Prơ hêi ơi, Amóo ơi, chớc ơi, coon ơi, bếch ơi, móo ơi, bếch ơi ơi, bếch ơi… bếch ơi, móo ơi,

bếch ơi, coon ơi. bếch ơi, móo ơi. Đhêi ơi... coon ơi… bếch ơi...ơi.

Nội dung: “Đây chị, đây em, đây mẹ đây cha sẽ ngủ cùng con. Con xinh con đẹp, con ngủ cho ngoan để mẹ lên rẫy, lên nương. Trong mơ con ngủ, con đẹp con xinh, ngủ đi con ơi...”.

(Người hát: A Lăng Đinh - Sưu tầm: Văn Thu Bích)

1.2. Dân ca nghi lễ

Người Cơtu có hai điệu hát nghi lễ: Điệu hát tế trâu và Điệu hát trong lễ tang.

1.2.1. Điệu hát tế trâu Nơơi tơrí (Khóc trâu)

Là một trong những điệu hát tế lễ của các tộc người miền núi sống trên dải đất miền Trung và Tây Nguyên, người Cơtu còn gọi là khóc tế trâu, tiếng khóc trong nghệ thuật có ý nghĩa như vỗ về, gửi gắm tâm tư, nghe vừa huyền bí bi ai vừa sinh động. Đó là những câu hát chân chất, thể hiện theo điệu Cơlâu và Cr’lới có dàn cồng chiêng phụ hoạ.

- Đoạn 1. Hát theo làn điệu Cơlâu - ch’lêêng (chậm): Cho achâu chêê ve chêê ve bhơ achâu chêê ve za bang chêê ve. Cho achâu chêê ve chêê ve chêê ve. Ngai ajong amay cho mêi bhớ a hêê ve. Cho achâu chêê ve chêê ve Cho achâu ma chêê ve chêê ve rơ clức coh xa ch’bức meei châu. A dóch a jong ma ch’bức đha. Cho achâu za chêê

Nội dung: “Ơi trâu! Trâu thương, ơi trâu! Trâu quý, trâu của ta từng ăn cỏ trên đồi cao, dưới nắng mặt tròi. Ơi trâu, trâu của ta...”.

Đoạn 2. Hát theo làn điệu Cr’lới (nhanh):

Lời hát đang mộc mạc trầm buồn, gợi cho người nghe niềm tiếc thương vô hạn, thì bỗng nhiên giọng hát vút lên với tiếng hú gọi vang vọng hòa lẫn niềm vui trong lễ hội:

- Abang bhớ bang bhớ bhớ bhớ bhớ bhớ. Abang bhớ dô pơrhay bhớ. Abang abố nui. A đooong bhong đóch vếy hang à. A giong bhớ ô đhơơng noom ơ nui a đha’ na bhớ coh haanh Dang a loom dang đóch A lơng ơi, coh tu jong lơng aling.

Nội dung: “Ơ ơ ơ già làng! hỡi làng buôn hãy đến đây, rựa trong tay, giáo trong ta, ta dâng trâu này cho hội làng vui hôm nay”.

(Người hát: A Tùng Vẽ - Sưu tầm: Văn Thu Bích)

1.2.2. Điệu hát trong lễ tang gọi là hát khóc Cơ lâu - Ch’lêêng

Có thể là thiếu sót khi nói đến dân ca nghi lễ của tộc người Cơtu mà không kể tới điệu hát khóc Cơlâu có tiếng trống nhịp theo, dùng cho cả nam lẫn nữ hát khóc than người thân mới qua đời trong lễ tang, bài hát có nội dung ca ngợi thành tích và thương tiếc, miêu tả niềm vui và nỗi buồn lúc sinh thời của người quá cố, tưởng nhớ người đã khuất với tiếng hát bi ai đầy thương cảm, tiếc nuối. Riêng điệu Cơ liêng trong đám tang chỉ dành cho đàn ông hát hòa theo tiếng trống, không có chiêng, thanh la. Trong tang lễ, người Cơtu khóc bằng tiếng Cơtu và cũng kể lể giống như người Kinh.

Nhìn chung các bài dân ca đề cập tới những nội dung trong đời sống thường ngày như: ru con, hẹn hò giao duyên, đám cưới hoặc sinh hoạt cộng đồng theo mùa như: lễ hội truyền thống, hát trong tế lễ như tế trâu, đám tang. Trong đó có một số bài hát theo dạng ngẫu hứng nên phần mở đầu thường có các âm ô, ê, i… ngân dài tự do, có bài lại xuất hiện nhiều âm ngân vang khắc họa tiếng hú gọi, tiếng vọng đáp do ảnh hưởng địa hình có nhiều rẻo cao, vách núi, đại ngàn trùng điệp, thung lũng chập chùng.

Một nét khác biệt dễ nhận biết là những điệu hát trong lễ hội chủ yếu phô diễn phần tiết tấu mạnh mẽ với dàn cồng chiêng quy mô nên giai điệu bị mờ nhạt, hơn nữa lại có âm vực rộng vì hát ngoài trời, không gian rộng lớn với tiếng nhạc cồng chiêng vang xa. Ngược lại có những bài hát mang tính cá nhân riêng lẽ như ru con, giao duyên, đối đáp... thì tầm âm hẹp diễn tả tình cảm thầm kín trong một không gian thu nhỏ hơn.

Đáng lưu ý, có một vài làn điệu dân ca Cơtu có phảng phất âm điệu dân ca Chăm, điều này chứng tỏ hệ quả tất yếu của quá trình giao lưu - tiếp biến văn hoá giữa người Cơtu và người Chăm theo lịch sử đã ghi nhận: trước thế kỷ XV, miền núi Quảng Nam - Đà Nẵng còn là một bộ phận của vương quốc Champa… Cùng với gần 20 làn điệu dân ca và khoảng gần 20 loại nhạc cụ dân gian Cơtu phần nào đã phản ánh cuộc sống tinh thần phong phú của tộc người Cơtu, và chúng ta luôn xem đó là di sản quý giá trong nền văn nghệ dân gian nước Việt cần được giữ gìn và kế thừa.

Hiện nay tại thôn Giàn Bí, xã Hòa Bắc chỉ có nghệ nhân A lăng Xơi còn nhớ và hát được điệu hát tế trâu vì trước đây bà thường được Già làng chọn hát làn điệu này trong ngày hội đâm trâu. Bây giờ lễ đâm trâu bỏ đi nghi thức đâm trâu thật vì bị cho là phản cảm. Dân làng chỉ làm trâu bằng gỗ rồi đội múa cồng chiêng vây quanh cột đâm trâu, làm động tác giả đâm vào trâu gỗ. Theo các già làng việc bỏ đâm trâu làm giảm bớt tính thiêng của lễ thức quan trọng nhất trong năm này nên dân làng rất tiếc nuối. Sau buổi lễ tổ chức giết trâu nơi khác rồi nấu nướng mời những người dân có tham gia buổi lễ cùng ăn mừng. Những năm gần đây, do điều kiện kinh tế khó khăn nên 2 năm một lần mới tổ chức lễ đâm trâu ở xã Hòa Phú hoặc Hòa Bắc, huyện Hòa Vang.

2. Nhạc cụ truyền thống của người Cơtu

Ngoài chiêng trống, người Cơtu có nhiều sáng tạo trong việc chế tác ra các loại nhạc cụ truyền thống khác nhau như: đàn, sáo, kèn, khèn gồm có: kèn sừng trâu với 2 loại là tù và Tơghêi, asăng và kèn Cơr’zool, đàn Abel, đàn Hroa, Đàn Ânjưl, đàn Tơm rech, Tapeh Alui, kèn Kooc, sáo A lươt, sáo Cr’toot, sáo Tơret, sáo Rahel, L’hel, ống tiêu Cr’ toot, trống lớn Cathu và trống con Ch’gơr...

Mỗi loại nhạc cụ Cơtu gắn liền với một chức năng và cách trình tấu khác nhau, tuỳ thuộc vào việc làng hay trong dòng tộc, gia đình, sử dụng trong các lễ hội hoặc trong sinh hoạt hằng ngày, các buổi biểu diễn dân ca, múa.

Hệ thống nhạc cụ Cơtu khá đa dạng, gồm bộ gõ, bộ hơi, bộ dây, với khoảng gần 20 loại. Có thể tạm phân loại các nhạc cụ tiêu biểu như sau:

2.1. Bộ gõ gồm các loại trống, chiêng như

- Cathu (trống cái): có mặt hầu hết trong các lễ, hội; nhạc cụ này đóng vai trò rất quan trọng khi kết hợp cùng với chiêng tạo nên không khí linh thiêng cho lễ hội.

- Ch’gơr (trống con): cùng hòa nhịp với trống cái hoặc vài chiếc phối hợp với nhau cùng hòa tấu lên tạo nên âm vang tưng bừng rộn rã cho lễ hội.

- Chiêng (Chiing) có núm và không có núm, to nhỏ khác nhau gồm 3 loại: Cohr, Cơbhâr và Đhóoh.

2.2. Bộ dây gồm các loại đàn như

- Đàn Ânjưl: là loại đàn khá phổ biến của người Cơtu, có nhiều dân làng biết diễn tấu nhạc cụ này, đặc biệt là trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng dòng tộc, gia đình, làng buôn. Đàn Ânjưl đệm cho người hát các làn điệu babooch, hát ru, giao duyên, cơlâu - ch’ lêêng.

- Đàn Tơm rech: sử dụng trong các buổi biểu diễn văn nghệ của cộng đồng. Loại đàn này thay trống chiêng, giữ nhịp cho toàn bộ dàn nhạc.

- Đàn Abel: Cây đàn này thường các chàng trai thể hiện với điệu hát giao duyên, nhân ngãi với âm điệu quyến rũ nên rất phù hợp để tỏ tình cùng người yêu, thổ lộ tình cảm với bạn gái của mình khi không thể trao gửi bằng lời nói trong những buổi hẹn hò. Cũng nhờ cây đàn này mà nhiều lứa đôi Cơtu đã nên duyên chồng vợ. Theo nhà nghiên cứu Giang Nam: “Trong các loại nhạc cụ như kèn Cabluôc, kèn Kooc, sáo Rahêm, đàn Tapêh... thì đàn Abel (cách gọi của người Cơtu vùng cao) hay còn gọi là đàn H’roa hoặc H’ra - tên phiên âm (cách gọi của người Cơtu vùng thấp) là loại đàn rất độc đáo và gắn liền với truyền thống văn hóa bao đời của đồng bào tộc người Cơtu”.

2.3. Bộ hơi gồm các loại kèn, khèn, sáo, tiêu như

- Khèn bè: có trong các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của làng xã hoặc trong lễ hội truyền thống.

- Tơghêi asăng: là loại tù và làm bằng sừng trâu, âm trầm, vang vọng khắp núi rừng đại ngàn, dùng để hú gọi, mời thần linh về dự lễ nên luôn mở đầu buổi lễ.

- Kèn Cơr’zool: làm bằng sừng dê rừng (sơn dương), âm vang cao, sáng, có âm lượng nhỏ hơn tù và Tơghêi asăng.

- Các loại sáo a’ hen, l’hen gồm sáo một lỗ, sáo ba lỗ, sáo sáu lỗ, thường ngân vang cao vút trong sinh hoạt hội hè, kết giao, tỏ tình trên nương rẫy.

- Ống tiêu Cr’ toot: được chế tác bằng ống nứa ngắn khoảng 20cm. Thường vang lên thanh âm trong trẻo, sắc nét khắc họa tiếng chim hót ríu rít khi lên nương hoặc biểu diễn văn nghệ.

Các loại kèn, sáo, đàn, trống… không thể thiếu được trong các lễ hội truyền thống, trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Cơtu.

2.4. Cồng chiêng của người Cơtu

Cùng với hệ thống nhạc cụ truyền thống thì cồng chiêng của người Cơtu là loại hình nghệ thuật âm nhạc dân gian đặc sắc, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Cơtu.

Hầu như ở 54 tộc người thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt, từ xa xưa cồng chiêng là những nhạc cụ thiêng, chỉ được diễn tấu trong các nghi lễ, tiếng chiêng là ngôn ngữ được con người sử dụng để thông quan với thế giới siêu nhiên của thần linh, vì thế không được đánh chiêng tự do trong các sinh hoạt vui chơi. Tuy nhiên, ngày nay thì cồng chiêng không chỉ hiện diện trong các sinh hoạt lễ hội dân gian mà còn có mặt trong các lễ thức đơn giản hoặc trong một số lễ hội đương đại với sự tham gia tích cực của các dạng thức hoạt động văn hóa sinh động. Trong đời sống tinh thần của các tộc người thiểu số, cồng chiêng đi theo suốt vòng đời của con người, từ lễ thổi tai khi mới chào đời vài tháng tuổi đến lễ trưởng thành khi đã bước qua tuổi dậy thì, từ lễ cưới cho đến khi nằm xuống trở về với cát bụi đều có tiếng chiêng tiễn đưa đến nhà mồ, rồi tiếng chiêng lại ngân nga trong lễ Bỏ mã dẫn dắt linh hồn về với ông bà tổ tiên.

Tiếng cồng chiêng chỉ trổi lên trong những thời khắc linh thiêng, quan trọng của đời người, tiếng chiêng thúc giục bao trai làng mạnh mẽ chiến đấu chống quân thù hoặc đệm theo điệu múa dân gian tung tung - da dá trong các lễ hội đâm trâu mừng chiến thắng, mừng lúa mới và có lúc lại trầm lắng hòa cùng giọng kể khan của già làng khắc họa những câu chuyện đậm tính huyền thoại từ kho tàng sử thi quý báu.

Như vậy, cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ đơn thuần trong hệ thống nhạc cụ truyền thống của các tộc người thiểu số mà chính là biểu tượng, là linh hồn và sức mạnh của mỗi dân tộc dù trong thời bình hay thời chiến.

Cồng chiêng của tộc người Cơtu có nhiều loại, mỗi loại có một kích thước, một cách sử dụng khác nhau.

- Loại chiêng có núm ở giữa, đường kính 45cm gọi là goong (cồng). Loại chiêng không có núm ở giữa còn gọi là ching (chiêng hoặc chiêng bằng), có các loại chiêng nhỏ còn gọi là thanh la như sau:

+ Cohr (còn gọi là Prnăh hay Grờm), đường kính 40 - 45cm, hơi lớn. Âm vang trầm.

+ Cơbhâr đường kính 30 - 35cm, nhỏ hơn có tầm âm cao hơn, âm thanh bay bỗng hơn.

+ Đhóoh đường kính 20cm, to bằng bàn tay, có âm thanh trong và cao nhất trong ba loại thanh la.

Ba loại chiêng nhỏ này phối hợp với nhau, thường hòa nhịp với chiêng lớn tạo nên các bè trầm bổng khác nhau, khắc họa đậm nét không gian đa thanh, đa sắc cho lễ hội. Mỗi loại chiêng có một cách sử dụng khác nhau, cồng đánh bằng dùi mây, đánh điểm âm từng tiếng một, được sử dụng trong các lễ hội đâm trâu. Chiêng lớn và Cơbhâr diễn tấu thành một cặp, cùng với trống đệm theo điệu múa tung tung- da dá trong các lễ hội ăn mừng.

Cohr chỉ dùng riêng một chiếc trong gia đình, âm thanh trầm lắng, tạo không khí ấm cúng, Cohr còn được sử dụng trong lễ tang

Trong các lễ hội, chiêng được đánh lên với những nhịp điệu khác nhau, tùy thuộc vào nội dung sinh hoạt của lễ hội, chủ yếu tập trung vào các điệu Đhương thường, Đhương Brêch, Pr’lư, Đhâp, Aóh, Đhập glêch, T’rưng, Tứ, Hra Roong... Hầu như các điệu này có mặt hầu hết trong các lễ hội Cơtu.

Chỉ riêng tại vùng cao Hoà Vang nằm ở phía Tây dải Trường Sơn, trong thời gian chưa chia tách tỉnh, hằng năm đã tổ chức thường xuyên lễ hội các tộc người thiểu số miền núi. Vào dịp này, dàn cồng chiêng của tộc người Cơtu đã trình diễn nhiều điệu cồng chiêng và múa dân gian truyền thống đặc sắc, tuy không gian văn hóa cồng chiêng vùng đất này không quy mô như không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, song nó vẫn có bản sắc riêng cần được quan tâm nghiên cứu.

Tiếng cồng, tiếng chiêng gắn bó với cả đời người, là niềm kiêu hãnh về sự giàu có của một gia đình, đồng thời cũng là sức mạnh của cả một làng buôn.

Cồng chiêng không thể vắng bóng ở tất cả các lễ hội của người Cơtu: Từ lễ hội đâm trâu, lễ ăn cơm mới, lễ cầu thần linh ban phát điềm lành, lễ chọn đất, dựng nhà lập làng đến lễ tỉa lúa, lễ cưới, lễ đón khách, lễ dồn mồ bỏ mã... và tiếng cồng chiêng còn vang lên trong những giờ phút chia ly, đưa tiễn người thân, thổ lộ tâm tình, cổ vũ người đi chiến đấu, đón mừng ngày vui chiến thắng, lễ ăn thề kết nghĩa anh em, giải hòa mối hận thù, xung đột...

Trong mỗi lễ hội, tiếng cồng chiêng được tấu lên theo quy định truyền thống và các loại chiêng bằng, chiêng núm, chiêng to, chiêng nhỏ được người sử dụng tạo thành những tiết tấu riêng biệt, thường là đánh vào bụng chiêng, nếu muốn nhấn âm thì đánh vào lưng chiêng. Có nhiều điệu chiêng được diễn tấu trong những trường hợp khác nhau.

- Điệu chiêng Đh’ hương

Trong lễ hội đâm trâu - mừng lúa mới, mở đầu cho năm mới, đồng bào Cơtu tiến hành nghi thức tạ ơn Giàng và thần linh đã đem lại no ấm cho dân làng. Trong lễ hội này, người Cơ tu sử dụng điệu chiêng Đh’ hương vui nhộn sôi nổi. Điệu Đh’ hương có tiết tấu nhanh, linh hoạt thể hiện niềm hân hoan trong lễ hội. Kèm theo nhạc chiêng trong lễ hội này là điệu múa truyền thống Tung tung - dá dá đặc sắc và tiêu biểu nhất trong hệ thống múa dân gian Cơtu. Tiếng cồng chiêng luôn ngân vang trong suốt thời gian tiến hành lễ hội, Trước đây, trong những lễ hội quan trọng như lễ mừng được mùa, dựng làng, dựng nhà gươl (nơi sinh hoạt chung cả làng), lễ cưới, lễ cúng Giàng cầu mưa, người Cơtu đều tổ chức lễ đâm trâu và trong những dịp này, dàn cồng chiêng lại trổi lên điệu Đh’ hương với 6 chiếc chiêng to nhỏ khác nhau gồm 2 loại chiêng bằng và chiêng núm.

- Điệu chiêng Cr’lới

Cũng có những bài nhạc chiêng được vang lên vào những dịp sinh hoạt cộng đồng mang tính xã hội, gia đình như bài chiêng Cr’lới. Điệu Cr’lới được sử dụng trong buổi kết nghĩa, ăn thề giữa làng này với làng nọ, ở những cuộc họp bàn làm ăn, cưới gã, giải quyết bất hòa. Tiếng chiêng Crơlới vang lên để kéo con người xích lại gần nhau, thông hiểu cùng nhau, tiết tấu vì thế thể hiện khá nhanh, linh hoạt, đầy chất lạc quan, sôi nổi.

- Điệu chiêng Pr’ lư

Ngoài ra nhạc chiêng khóc tế trâu cũng khá điển hình trong nhạc chiêng Cơtu, đó là bài chiêng Pr’lư, tiếng chiêng như kể lể về cái chết của con trâu. Pr’lư được tấu lên vào thời điểm con trâu vừa mới chết, còn nằm ngay bên cột hiến tế X’nur. Điệu Pr’lư do người chủ của con trâu tấu lên, nếu trâu của làng thì chủ làng đánh điệu Pr’lư, qua tiếng chiêng để tâm sự với con trâu, như thông điệp báo cho con trâu biết đã hoàn thành sứ mệnh trong cuộc hiến tế này. Vì vậy, tiết tấu Pr’lư nhanh, nhộn nhịp, ngắt âm liên tục, do người sử dụng dùng bàn tay bịt lên mặt chiêng.

- Điệu chiêng Pr’ lư Đhập - Ách

Nếu trong lễ đâm trâu có giết thêm heo thì chiêng được đánh lên bằng điệu Đhập - Ách, tiết tấu giống như điệu Pr’ lư nhưng linh hoạt hơn, cường độ mạnh hơn thể hiện niềm vui dâng cao của lễ hội.

- Điệu chiêng Brếch

Ở những sinh hoạt cộng đồng mừng săn được thú lớn, trong cuộc đi săn các chàng trai thiện xạ đã mang về cho làng nhiều thú rừng, thịt được xẻ ra chia đều cho dân làng và sau đó dân làng lại mở hội ăn mừng, ở lễ hội này dàn chiêng lại trổi lên điệu Brếch, Trong làng có nhiều chàng trai biết chơi điệu Brếch và những cuộc đi săn hầu như diễn ra thường xuyên trong thắng lợi. Tiết điệu Brếch giồng điệu Đh’ hương nhưng thể hiện tự do hơn, hoang dã hơn.

- Điệu chiêng Ton mút

Được trổi lên trong nhịp điệu chậm trầm u uất, nhằm báo hiệu trong làng có người vừa mới qua đời, làng sắp có đám tang.

Từ xa xưa cuộc sống của người Cơtu, giữa một vùng rừng núi xứ Quảng huyền bí, hiểm trở khắc nghiệt nên tình người trong cộng đồng, tình thâm cốt nhục luôn đầy ắp trong lòng họ. Những lúc phải xa lìa người thân, từ biệt người thương tất phải đau lòng đoạn ruột. Để nói lên nỗi lòng mình, vừa như tâm sự với người thân, vừa để giải tỏa bớt nỗi đau khổ, dằn vặt của mình, tiếng chiêng buồn thảm vang lên trong khung cảnh hoàng hôn, lúc màn đêm buông xuống, tiết tấu chậm buồn, âm điệu ngân nga tràn đầy thương tiếc.

Vốn mến khách, người Cơtu rất mong khách quý của mình khi đến thăm phải ăn uống no say, khi đi về phải vui và no bụng, ở những lúc này tiếng chiêng, tiếng cồng không thể thiếu vắng được, nhạc chiêng đón khách chào bạn theo điệu Đh’ hương và Đhập như là tín hiệu riêng gửi tới các vị khách quý, bạn bè láng giềng của dân làng, của gia đình. Và cuối cùng, người Cơtu cũng như những người anh em khác, luôn mong muốn mọi người, công việc, mọi ý định đều được thắng lợi mỹ mãn. Trước đây, trong cuộc chiến đấu với thiên nhiên, với kẻ thù để sinh tồn, người Cơtu đã phải đánh đổi bằng máu để làm nên những thắng lợi, trong giờ phút chiến thắng ấy, tiếng chiêng lại hòa vào niềm vui của dân làng. Tiếng chiêng rộn ràng đi kèm với vũ điệu tung tung - da dá, những chàng trai, cô gái sặc sỡ trong trang phục truyền thống đã hòa cùng nhạc điệu cồng chiêng hùng tráng Đhập - Brếch nhảy múa tưng bừng chào mừng ngày hội.

Hỡi làng buôn, hỡi núi rừng hùng vĩ

Hãy trỗi lên giai điệu của cồng chiêng

Cùng ngợi ca sự no ấm lành yên

Của mảnh đất thần linh từng che chở.

Tộc người Cơtu xứ Quảng tập trung chủ yếu ở huyện Hiên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trước đây, nay là huyện Đông Giang và Tây Giang thuộc tỉnh Quảng Nam. Có một bộ phận nhỏ sống tại vùng cao Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, qua quá trình khảo sát và thu thập tư liệu từ các thôn Phú Túc - xã Hòa Phú và Tà Lang - Giàn Bí, xã Hòa Bắc để nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy một số đặc điểm qua các dạng thức diễn tấu như sau:

* Diễn tấu Cồng chiêng riêng lẻ một chiếc:

Chỉ ở người Cơtu mới có trường hợp cồng chiêng do một người hát kể tự đánh lên những thanh âm trầm lắng, đậm tính tự sự nhằm bày tỏ tâm tư, nỗi lòng của mình với mong muốn được sẻ chia.

* Diễn tấu Cồng chiêng đối đáp và hòa tấu trong dàn chiêng:

Với cách đánh nhịp một và nhịp đôi đan xen nhau, tiết tấu sôi nổi, cả chiêng và trống Ch’gơr cùng ngân vang khi cùng phách, khi lại nghịch phách, khắc họa tiếng kêu gọi và đối đáp nhau thật sinh động... Những thanh âm này nhằm thông báo rằng làng buôn đang diễn ra lễ hội lớn, trong lễ hội có đâm trâu để hiến tế.

Còn ngược lại, nếu trong dàn cồng chiêng không có sự tham gia của cồng lớn đi bè trầm mà chỉ có cồng nhỏ đi bè cao hòa cùng với tiếng chiêng thì lễ hội này có quy mô nhỏ hơn, trong lễ hội chỉ đâm heo để hiến tế.

Trong trường hợp, trong dàn chiêng có đủ chiêng, cồng, trống lớn nhỏ, trong nền nhạc thi thoảng có điểm xuyết điệu chiêng Ton mút theo tiết tấu chậm rãi, u ám rồi nối tiếp là tiếng chiêng luân phiên gọi nhau theo một chu kỳ đều đặn, những âm thanh hòa quyện với tiết tấu mỗi lúc một nhanh dần... thì điệu chiêng đó lại thông báo là trong buôn làng có người qua đời và sắp diễn ra đám tang, mọi người hãy chuẩn bị đến chia buồn cùng gia đình người đã khuất.

Nhìn chung, mỗi loại cồng chiêng đều có một âm điệu đặc trưng, tiêu biểu, khi thì được đánh riêng lẻ, khi thì hòa tấu cùng dàn chiêng, ngoài ra dù chỉ với một dàn chiêng nhưng khi diễn tấu lên trong một biên chế có số lượng chiêng cồng khác nhau, tiết tấu khác nhau và những bài chiêng với giai điệu không tương tự nhau thì điều ấy cũng khắc họa tính chất của từng buổi lễ có nội dung không giống nhau. Nếu nhịp chiêng vui nhộn, náo nức thì đó là lễ hội mừng, còn ngược lại nét nhạc chiêng chậm rãi, u buồn thì đó là nghi lễ tang ma.

* Giá trị vật chất và giá trị tinh thần của cồng chiêng trong đời sống của tộc người Cơtu:

Về mặt vật chất, cũng như ở những tộc người khác, trong cộng đồng người Cơtu, Cồng chiêng chính là của cải, biểu hiện sự giàu có của bản thân, của gia đình, sự phồn vinh của tộc họ và ngay cả của cộng đồng. Cồng chiêng là thứ tài sản quý giá được sánh với vòng vàng, mã não, nhà cửa, đất đai, chum ché...

Bên cạnh giá trị vật chất thì giá trị tinh thần của cồng chiêng cũng luôn được đề cao. Trong dân ca Cơtu có bài hát đối đáp theo điệu Cr’lới được nam nữ hát lên nhằm miêu tả về mối quan hệ giữa cồng và chiêng, nội dung được nhạc sĩ Thái Nghĩa dịch sang lời Kinh. Cả nam và nữ Cơtu ở vùng cao Hòa Vang trước đây, thường hát giao duyên - đối đáp như sau:

Nam: Nhà trai chúng tôi có nhiều cồng, nhiều chiêng

Có nồi to, nồi nhỏ

Chiêng kêu rất rõ

Cồng kêu rất vang...

Nữ: Tùng tùng tùng

Trống vang qua mười núi

Cồng vang qua mười sông

Buôn làng vang tiếng hát

Cho hai sừng trâu cong vút đều nhau.

Qua lời hát chúng ta thấy cồng chiêng không chỉ là tài sản quý báu mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống tinh thần của người Cơtu.

Về mặt hòa âm thì cồng chiêng của người Cơtu được diễn tấu trong phạm vi một trục âm cố định, tuy nhiên phong cách diễn tấu tự do tùy theo cảm hứng đã tạo cho âm vang cồng chiêng Cơtu có thêm những biến tấu thật linh hoạt, phóng khoáng, thiên về phần tiết tấu hơn giai điệu, khắc họa đậm nét không gian của núi rừng đại ngàn hùng vĩ.

Cồng chiêng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Cơtu, nhất là trong các lễ hội, trong mỗi lễ tiết, trong từng nghi thức cúng bái đều có sự tham gia của cồng chiêng và song hành với nó là điệu múa Tân tung - Dá dá truyền thống. Cồng chiêng mang tính thiêng liêng nên chỉ vang ngân trong các dịp lễ hội, đặc biệt có loại tiết tấu chậm rãi, giai điệu trầm buồn đặc trưng của cồng chiêng chỉ ngân vang trong lễ tang thì tuyệt đối không được vang lên ở bất cứ nơi đâu ngoài địa điểm có đám tang, vì lo sợ thần linh quở phạt.

Thực trạng bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian người Cơtu hiện nay tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Trong bối cảnh hiện nay, do mật độ dân cư ít ỏi hơn tỉnh Quảng Nam, quá trình đô thị hóa lại diễn ra nhanh chóng, đồng thời số lượng người dân Cơtu ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng biết hát múa rất ít và biết sử dụng nhạc cụ truyền thống chỉ đếm trên đầu ngón tay với độ tuổi đã trên 65. Do đó, trong nhiều đợt điền dã sưu tầm cũng chỉ gặp số ít nghệ nhân. Các sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như thưa thớt dần, mỗi lần lên vùng cao này lại vắng đi nhiều nghệ nhân, lớp trẻ hát dân ca Cơtu cũng đi làm ăn xa, lãng quên câu ca xưa vì mãi đắm chìm theo việc mưu sinh...

Chúng tôi đã gặp và khai thác rất hiếm hoi một vài làn điệu dân ca mà khi các cụ hát lên thì câu được, câu mất. Thật dễ dàng nhận biết khi các bài hát này chúng tôi đã sưu tầm trong các đợt điền dã tại hai huyện Hiên và Giằng tỉnh Quảng Nam hàng chục năm trước đây. Đến thôn Giàn Bí, xã Hòa Bắc, khi được mời hát thì cụ bà Bly, 81 tuổi, vóc dáng nhỏ bé, tuổi già sức yếu nên chỉ hát đôi câu trong điệu ru con Bhadơơng cacoon với ánh mắt xa xăm, rồi cụ bà Bnhôm, 79 tuổi cũng lắng lòng trong phút giây lùi về hồi ức tuổi xuân, chỉ cất lên vài thanh âm chắp nối của điệu chchăp. Đó là đôi câu dân ca Cơtu còn rơi rớt lại trong quãng đời xế chiều của hai cụ. Nhớ lại trong đợt điền dã vào tháng 5 năm 2018, cũng những làn điệu này mà lại do cô gái trẻ Cơtu Bùi Thị Hạnh, 30 tuổi - Trưởng thôn Giàn Bí hát với lời mới theo làn điệu hát giao duyên chchăp, câu ca nguyên gốc chỉ còn trong tiềm thức các bậc cao niên, thi thoảng mới ngân vang khi các cụ già làng trầm ngâm hoài niệm về quá khứ. Còn đối với lớp trẻ thì vẫn thích hát dân ca được đặt lời mới hơn là lời cổ nguyên gốc. Đáng buồn là trong các liên hoan - hội diễn hay các dịp lễ hội, cưới hỏi, nam nữ thanh niên Cơtu lại thích hát các ca khúc mới. Hỏi vì sao không hát dân ca Cơtu, họ trả lời rằng: “Hát nhạc mới thì thể hiện được đẳng cấp, phù hợp trào lưu hiện đại không bị coi là quê mùa, thiếu thức thời”. Thật đáng buồn cho suy nghĩ nông cạn của lớp trẻ người Cơtu ở thành phố Đà Nẵng hiện nay!

Ở thôn Phú Túc, xã Hoà Phú, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng hơn 10 năm trước đây, có một số bậc cao niên diễn tấu được các loại đàn truyền thống của đồng bào dân tộc Cơtu như: già Lương, già Cảnh, già Bùi… Tuy nhiên, già làng Alăng Cần là người chế tác, sử dụng các loại nhac cụ này rất thuần thục và điêu luyện. Theo Già làng Alăng Cần, ông có thể diễn tấu nhiều nhạc cụ như: đàn Tapeh, kèn Cabluôc, sáo Rahêm, đàn Hroa... Đó là các loại nhạc cụ rất độc đáo, gắn liền với truyền thống văn hoá lâu đời của đồng bào tộc người Cơtu…

Trong đợt diền dã sưu tầm cùng đoàn nghiên cứu Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng vào tháng 4 năm 2008, chúng tôi đã gặp Già làng Alăng Cần ở thôn Phú Túc - xã Hòa Phú. Ông không chỉ là một người am hiểu văn nghệ dân gian Cơtu, mà còn là nghệ nhân hát lý Cơtu rất hay trong lớp các cụ già còn lại như già Lương, già Bùi, già Rời… Theo già Alăng Cần, thì: “Người biết chơi các loại nhạc cụ và hát lý hiện nay rất hiếm, lớp trẻ bây giờ không chịu học, âm nhạc truyền thống dân tộc Cơtu ở đây có nguy cơ thất truyền”. Trong đợt điền dã, sưu tầm mới đây vào hai năm 2018 - 2019 theo kế hoạch công tác của Hội Văn nghệ dân gian Đà Nẵng, được Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng hỗ trợ, chúng tôi lại đến thôn Phú Túc, xã Hòa Phú và thôn Tà Lang, Giàn Bí xã Hòa Bắc tìm gặp các nghệ nhân, thì đáng buồn là hiện nay tại thôn Tà Lang chỉ có đôi ba nghệ nhân già yếu còn cất lên giọng hát dân ca rời rạc. Duy nhất nghệ nhân A Lăng Mỹ còn lưu giữ một vài nhạc cụ, do ông tự chế tác và biểu diễn thành thạo. Ông cùng nghệ nhân A Lăng Cần đã nhiều lần tham gia biểu diễn và đạt được huy chương vàng trong các Liên hoan nghệ thuật quần chúng toàn huyện Hòa Vang và thành phố Đà Nẵng. Điều chúng tôi mong mỏi là gặp được đội ngũ những người Cơtu trẻ để sưu tầm thì hầu như quá trống vắng! Những thanh niên Cơtu từng hát cho chúng tôi nghe một vài làn điệu dân ca quen thuộc vào giữa năm 2018 thì đến đầu năm 2019 đã xa xứ, rời làng buôn đi làm ăn tận nơi khác. Đó là một thực trạng đáng báo động trong tiến trình bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc dân gian Cơtu trong giai đoạn hiện nay.

Khi đến thôn Tà Lang, may mắn là chúng tôi gặp được vợ chồng nghệ nhân Bùi Văn Tám - A lăng Nhiếp cùng 65 tuổi, họ cùng hát lên làn điệu Chachăp, lời cổ thật hòa quyện, trân trọng, tạo được không khí vui tươi, đầy ân tình nơi núi rừng miền cao Hòa Bắc. Ngoài ra còn gặp lại Ông Aăng Mỹ, 63 tuổi, trẻ nhất trong số các nghệ nhân ở huyện Hòa Vang. Ông đã từng chế tác các loại nhạc cụ, các vật dụng làm nương rẫy. Vậy mà hiện nay trong nhà chỉ còn cây đàn Abel cũ kỹ cùng một vài chiếc gùi, cái nia cất làm kỷ niệm vì đã lâu không sử dụng, khi mà càng ngày rừng càng lui dần, sông suối càng cạn kiệt trong quá trình đô thị hóa.

Trước tình cảnh này thật đáng báo động, chẳng bao lâu văn hóa dân gian của tộc người Cơtu sẽ phai nhạt dần rồi biến mất hẳn. Sự biến đổi theo chiều hướng tích cực quá yếu ớt bởi lớp trẻ Cơtu không mặn mà với việc kế thừa. Trai tráng thanh niên vì mưu sinh phải đi làm ăn xa, chỉ còn lại người già và con trẻ nên việc trao truyền cũng vô cùng khó khăn. Nếu các cơ quan chức năng tạo được công việc làm tại hai xã Hòa Bắc và Hòa Phú, huyện Hòa Vang nhằm nâng cao đời sống, tăng thu nhập cho dân làng thì mới mong gìn giữ lại vốn quý văn hóa dân gian Cơtu tại thành phố Đà Nẵng tránh được nguy cơ biến mất.

Theo các già làng ở vùng cao Hòa Vang thì khoảng hơn một thập niên trước đây, nhiều sinh hoạt âm nhạc trong lễ hội truyền thống của đồng bào Cơtu được lưu giữ. Tuy nhiên, những năm về sau do tác động từ nhiều yếu tố nên các lễ hội ngày càng mai một. Việc phục dựng các lễ hội này không chỉ góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Cơtu mà còn tạo điều kiện cho thế hệ trẻ tìm hiểu, sưu tầm, nghiên cứu để làm phong phú thêm giá trị truyền thống của dân tộc mình. Huyện Hòa Vang đang xây dựng Đề án phát triển du lịch cộng đồng kết hợp với bảo tồn văn hóa truyền thống người Cơtu tại hai thôn Tà Lang và Giàn Bí (xã Hòa Bắc). Huyện sẽ tiếp tục xây dựng kế hoạch lưu giữ, phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể như nói lý, hát lý, diễn tấu cồng chiêng, múa tân tung dá dá, đan lát mây tre... của dân tộc Cơtu để phục vụ du lịch.

Vậy định hướng của Hòa Vang nhằm khai thác yếu tố văn hóa truyền thống phục vụ phát triển du lịch là gì? Theo Ông Đỗ Thanh Tân - Trưởng phòng VHTT huyện Hòa Vang thì: “Hiện nay Hòa Vang đang trong giai đoạn hội nhập đô thị hóa mạnh mẽ. Những yếu tố giữa truyền thống và hiện đại, cái cũ và cái mới, nông thôn và thành thị, các yếu tố nội sinh lẫn ngoại sinh đang tạo ra những đan xen, cọ xát nền văn hóa truyền thống ở xã Hòa Bắc và Hòa Phú nói riêng, huyện Hòa Vang nói chung đang không ngừng tiếp biến, loại trừ, bổ sung, tiếp nhận và tự tìm hướng phát triển. Tuy không sôi nổi, ồn ào như lĩnh vực kinh tế, quy hoạch đô thị, nhưng cùng với đó, văn hóa và truyền thống ở Hòa Vang đã và đang có sự biến đổi to lớn. Cần nhìn thấy trước điều này và tìm cho nó những trợ lực phù hợp để phát triển”.

Giữa những lo âu, trăn trở ấy thì xuất hiện tín hiệu đáng mừng là phong trào nông thôn mới ở huyện Hòa Vang tuy là bước đầu song đang có chiều hướng phát triển mạnh mẽ với sự vào cuộc có trách nhiệm của các cơ quan thẩm quyền. Mới đây, trong tháng 5 năm 2019, Liên hiệp hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng đã phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang tổ chức đợt sáng tác về Hòa Vang, thu hút khá nhiều hội viên nhiệt tình hưởng ứng.

Đáng chú ý, thời gian gần đây, nằm trong chuỗi hoạt động khởi động cho kế hoạch bảo tồn - phát huy văn hóa Cơtu tại thành phố Đà Nẵng, vào giữa tháng 4 năm 2019, Trại sáng tác điêu khắc tượng gỗ người Cơtu do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang tổ chức tại khu du lịch sinh thái Suối Hoa (thôn Phú Túc, xã Hòa Phú), với sự tham gia của 15 nghệ nhân là người Cơtu ở các thôn Tà Lang, Giàn Bí (xã Hòa Bắc), thôn Phú Túc (xã Hòa Phú) và các huyện Tây Giang, Nam Giang, Đông Giang (tỉnh Quảng Nam). Kết quả có 45 tác phẩm điêu khắc gỗ được hoàn thành đáp ứng mong đợi của người dân Cơtu từ bấy lâu.

Cũng trong nỗ lực của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Hòa Vang nhằm đưa hoạt động âm nhạc truyền thống của vùng cao Hòa Vang đến với du khách và công chúng Đà Nẵng, trong ba năm qua, đội múa cồng chiêng Cơtu của thôn Giàn Bí, xã Hòa Bắc vẫn thường xuyên được mời biểu diễn trong các khách sạn, resort tại Đà Nẵng, được khách du lịch gần xa hoan nghênh đón nhận. Mỗi chúng ta đều có thể chung tay để giữ gìn văn hóa truyền thống của người Cơtu thông qua những việc làm cụ thể. Chúng ta đang nỗ lực bảo tồn, lưu giữ văn hóa truyền thống cha ông mình để lại. Song, bảo tồn, gìn giữ để phát huy tốt các giá trị văn hóa mới là mục đích hướng tới./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...