Thứ Tư, 11 tháng 12, 2024

KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG MIỀN TÂY PHÚ YÊN - NNC Nguyễn Văn Hưng

Tóm tắt: Âm nhạc và cồng chiêng là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống cộng đồng của các tộc người thiểu số bản địa Phú Yên. Tiếng cồng chiêng vọng vang cùng núi rừng xanh thẳm, đã quyện vào thác vực, sông nguồn... Như thể có một sức mạnh diệu kỳ, lắng hồn sâu thẳm theo từng nhịp đập con tim, hay bước dồn theo từng nhịp gõ ầm vang trong không gian văn hóa Cồng chiêng kỳ vĩ. Các thể loại âm nhạc và nhạc cụ dân tộc nói chung, thì cồng chiêng là loại được sử dụng phổ biến nhất và quí nhất.

Nội dung bài viết này, không chủ ý giới thiệu tất cả các loại nhạc cụ mà đồng bào các tộc người thiểu số Phú Yên sáng tạo, sử dụng và cũng không chuyên sâu về nhạc học. Chúng tôi chỉ phác thảo một số nét đặc trưng cơ bản về loại nhạc cụ cồng chiêng độc đáo này. Đồng thời xin phép được sẻ chia sự thẩm nhận về giá trị nghệ thuật trong không gian văn hóa cồng chiêng của tộc người bản địa Phú Yên.

Từ khóa: Không gian văn hóa cồng chiêng, bản sắc cộng đồng, tộc người thiểu số, tính bản địa, miền tây Phú Yên.

"... Tiếng chiêng ở vùng Trường Sơn có một sức mạnh kỳ diệu, một vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống cộng đồng của đồng bào các dân tộc. Tiếng chiêng loan báo tin vui, chiêng của người săn được thú, của năm được mùa... Tiếng chiêng trong buổi uống rượu cần, chuốc cho mọi người uống đến no say. Tiếng chiêng xung trận, thôi thúc, quyết thắng kẻ thù, động viên mọi người ra trận, sửa soạn giáo mác, cung tên. Tiếng chiêng tang tóc, buồn thương của đám ma, tang lễ. Tiếng chiêng đón người thân trở về, tiễn người thân đi xa... tiếng chiêng mừng bạn bè, tiếng chiêng loan báo tin vui ngày hội..." (GS. Vũ Quốc Lộc, TS. Vũ Thị Hội (1990), Các dân tộc thiểu số ở Phú Yên, Sở VH - TT Phú Yên).

1. Địa lý và con người

Phú Yên là tỉnh duyên hải miền Trung Nam Bộ, thấp dần từ tây sang đông với 189km đường bờ biển. Hai ngách núi Trường Sơn là dãy Cù Mông phía bắc và dãy Đại Lĩnh phía nam vươn dài ra tận Biển Đông, tạo thành nhiều đầm vịnh, vũng, tấn phá, bãi cát, gành rạn, bán đảo và đảo hòn.

Hệ thống sông suối, ao hồ, bàu biền phân bố khá đều với nguồn nước mặt và nước ngầm khá phong phú. Phía bắc, sông Tam Giang (28km) chảy ra Vịnh Xuân Đài. Sông Hà Đang (Xuân Lãnh), sông Cô (Đa Lộc) hợp lưu với sông Kỳ Lộ - sông Cái (Ngân Sơn - Bình Bá - Hà Yến) chảy ra cửa Tiên Châu và Phú Sơn - Lễ Thịnh (Tuy An). Phía nam có sông Bàn Thạch (25km) đổ ra cửa Đà Nông.

Sông Ba là con sông lớn nhất miền Trung (380km) phát nguyên từ đỉnh Ngọc Lĩnh tỉnh Kon Tum, chảy vào địa phận Phú Yên (90km) có tên là sông Đà Rằng (30km) được tiếp nước bởi nhiều sông suối, đổ ra cửa Đà Diễn. Đây là con sông có lưu vực rất rộng đã tạo thành cánh đồng lúa hai vụ trù phú rộng lớn, và được cấp nước bởi công trình thủy nông Đồng Cam (năm 1924), còn là tuyến giao thông đường thủy nối đại ngàn với duyên hải và đại dương trong giao thoa văn hóa - thương mại từ lâu đời.

Các tộc người Êđê, Bahnar, Chăm Hroi bản địa miền cao Phú Yên đều sinh hoạt theo chu kỳ vòng đời cây trồng, suốt cả mùa lúa, rẫy (từ tháng Ba cho đến hết tháng Chạp hằng năm) có nhiều nghi lễ được tổ chức như: lễ tìm đất, phát rẫy, gieo hạt, trước khi cấy hái, mừng được mùa, cúng bến nước,... kể cả các sự kiện trong vòng đời con người và mọi sinh hoạt cộng đồng đều gắn bó mật thiết với văn hóa trường ca - sử thi và cồng chiêng trong hoạt động văn hóa dân gian qua các lễ hội gắn bó cá thể, gia đình và cộng đồng thông qua tiếng chiêng, họ gửi gắm tâm hồn, ước nguyện của mình đến với các đấng thần linh, tổ tiên, cũng như bày tỏ mong muốn, khát vọng của mình với mùa màng, sức khỏe, hạnh phúc đời người.

2. Cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng trong cộng đồng tộc người

Có lẽ, thịnh thời của cồng chiêng vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX. Các tộc người Tây Nguyên cũng như Phú Yên đều coi cồng chiêng là vật thiêng, nên âm thanh cồng chiêng cũng mang tính linh thiêng và được sử dụng như một ngôn ngữ, đấy còn là sự giao cảm với tổ tiên và thần linh. Do đó, chức năng chủ yếu của cồng chiêng là chức năng nghi lễ. Trong các nghi lễ, mỗi dân tộc đều dùng các loại dàn chiêng riêng và nhiều bài nhạc chiêng riêng. Ví dụ, nhóm Kpạ của dân tộc Êđê trong các nghi lễ cầu mùa, cầu sức khỏe cho con người, lễ trưởng thành, lễ cưới, tang ma..., cồng chiêng là một thành tố gắn bó mật thiết với tất cả mọi sự kiện diễn ra trong gia đình, dòng tộc và cộng đồng cư dân đó trên từng mục đích của nghi thức lễ hội diễn ra. Dân tộc Bahnar (trừ bộ chiêng so - bộ chiêng cổ, gồm ba chiếc chiêng trầm dùng trong lễ đâm trâu) chỉ có một bộ chiêng cho các lễ thức, nhưng cũng còn nhiều bản chiêng cho các nghi lễ khác nhau: bài Atâu chỉ sử dụng trong những nghi lễ liên quan đến tang ma. Bên cạnh đó, họ cũng có những bài chiêng có tính đa dụng, được sử dụng nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn bài Tơnơl là bài chiêng của lễ đâm trâu tạ thần cầu an, cũng đồng thời là bài chiêng trong lễ cúng đất cho cộng đồng làng, lễ cưới; Tơđrăng là bài mừng chiến thắng... Do vậy, cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng luôn mang đậm bản sắc văn hóa của từng tộc người và cũng có tính đa dạng trong quá trình cộng cư.

Cồng chiêng là vật có giá trị vật chất rất lớn, và có chức năng là biểu tượng cho uy quyền và quyền lực. Người sở hữu nhiều cồng chiêng không chỉ là người giàu của cải, mà còn là người có sức mạnh giao cảm linh thiêng lớn hơn nhiều người khác trong cộng đồng. Dân tộc Êđê có đủ loại chiêng có kích thước to nhỏ khác nhau, cái bé nhất có đường kính khoảng 30 - 35cm, cái to nhất khoảng 60 - 75cm. Với dân tộc Bahnar, dàn chiêng thường gặp gồm 13 chiếc, trong đó có 5 chiêng (chơgu, chiel, dết, petdur, petier) và 8 chinh (kon djoong, moong, kon pglẽh, kon moông, pglẽh, djoong, sau djoong, sau moông). Ngoài ra, còn có dàn chiêng lên tới 14, 15 chiếc; dàn 8,9 chiếc. Chưa thấy trường hợp nào nhiều hơn, và cũng tiệt nhiên không gặp nhóm ít hơn (trừ bộ chiêng so - bộ chiêng cổ gồm ba chiêng trầm, dùng trong lễ đâm trâu). Bộ chiêng Aráp được chế tác bằng đồng thau, có pha gang, chì và một số kim loại khác, có loại được pha vàng, bạc ở phần núm chiêng (phần đệm gồm ba chiếc cồng có núm). Chiêng lao, kur của người Êđê, Bahnar được đúc bằng đồng pha gang và tỉ lệ vàng bạc hoặc đồng đen ở phần núm khá cao. Để thử âm thanh, đòi hỏi người nghệ nhân phải có tai nghe lão luyện, thông hiểu thang âm từng vùng miền, từng dân tộc. Việc đào tạo cách đánh cồng chiêng là cách chỉ dẫn với phong cách đào tạo dân gian, một sự truyền thụ không cần bài bản hay trường lớp. Ngay từ khi mới ra đời, khi còn địu trên lưng mỗi con người đã được nuôi dưỡng và thẩm nhận trong không gian văn hóa nghệ thuật và âm nhạc cồng chiêng trong đời sống hằng ngày.

Mỗi tộc người đều có riêng một cách trình diễn cồng chiêng bài bản gắn chặt với các hệ thống nghi lễ vòng đời người, chu kỳ vòng đời cây trồng và các nghi lễ văn hóa tín ngưỡng, tâm linh. Mỗi tộc người cũng chọn cho mình một phong cách âm nhạc, có thể là nhạc nhịp điệu, hòa điệu, chủ điệu hay dị điệu... Tuy vậy, cũng có thể thấy một thị hiếu âm nhạc rất chung nào đó của các tộc người. Chẳng hạn như, người Bahnar, Chăm Hroi, Giarai thì nghiêng về chủ điệu và dị điệu; còn người Êđê, Mnông lại nghiêng về nhạc nhịp điệu và hòa điệu,...

3. Nghệ thuật vũ đạo và trang phục

Âm nhạc cồng chiêng luôn đi liền với nhảy múa nghi lễ. Thông thường vũ điệu do phụ nữ đảm trách; đôi khi trong một số lễ thức nào đó, đàn ông cũng tham gia đội hình nhảy múa, hay cũng không phân biệt rõ rệt vai trò thực hiện nhảy múa là nam hay nữ. Ví dụ như trong các lễ hiến cúng, cúng tế thần linh của người Bahnar vùng hạ lưu sông Ba, công việc nhảy múa là lĩnh vực dành riêng cho nữ; nhưng khi thực hiện các nghi thức trang nghiêm những nghệ nhân cồng chiêng cũng thực hiện các bước nhảy nhịp nhàng và thành thục bên cạnh các thiếu nữ.

Mỗi dân tộc, mỗi plei, bon, cộng đồng cư dân có những điệu múa riêng mà những cư dân nơi khác không dễ tham gia. Thường thì các vũ điệu truyền thống của từng plei, bon được thực hiện kế tiếp theo nhau, trên nền của cùng một bài nhạc chiêng, hoặc của đôi bài nhạc cùng tính chất.

Trang phục của nghệ nhân trình diễn chiêng và những vũ đạo dân gian mặc bộ sắc phục đẹp nhất đối với nam, nữ người Bahnar. Nam thì mặc áo ló (một kiểu áo không tay, có trang trí những đường viền đỏ quanh cổ, vai, gấu áo), mang khố hoa có trang trí họa tiết ở hai đầu và những hạt cườm, đầu tóc được buộc bằng những sợi mây chẻ nhỏ tết lại thành hình quả trám hoặc con rít, và cắm thêm vào sau gáy những lông chim trĩ hoặc lông đuôi gà sao, gà rừng đực, rồi đeo thêm những vòng cườm quanh cổ, những vòng bạc, đồng trên tay hoặc quanh thắt lưng, đôi khi họ còn đeo cả những lục lạc hay chuông đồng nhỏ quanh cổ chân khiến cho những bước di chuyển của nghệ nhân luôn có tiếng vang sinh động và hấp dẫn ở đôi chân. Y phục của phái nữ cầu kỳ và cuốn hút hơn nhiều. Ở người phụ nữ Bahnar, áo bó sát thân, hai tay áo có thể mặc luồn tay hay chỉ thả lỏng hờ bên ngoài như hai tua áo sinh động, mặc chiếc váy truyền thống được trang trí nhiều họa tiết ở vùng mông và nhiều đường viền chạy quanh (váy là tấm vải được dệt vừa với khổ người phụ nữ, để quấn quanh thân và khép váy lại ở phía trước), khi thực hiện các bước ngang, xòe hoặc quay thì cũng khéo léo để lộ đôi chân trần của những nghệ nhân nữ đó. Tính đặc trưng của trang phục lễ hội dùng trong nhảy múa và đánh chiêng của các tộc người cũng có nhiều nét tương đồng, và khác hẳn với y phục sử dụng trong sinh hoạt thường ngày. Cũng từ đó, nó tạo thành bản sắc riêng để phân luận những nét khác biệt độc đáo của mỗi tộc người trên cùng một địa vực, một cộng đồng văn hóa.

4. Những giá trị cơ bản nổi bật của không gian văn hóa cồng chiêng, đậm tính bản địa Phú Yên

"... Đánh lên! Cho tiếng chiêng lan ra khắp xứ.

Đánh lên! Cho tiếng chiêng lan qua sàn nhà, xuống tận đất đen.

Đánh lên! Cho tiếng chiêng vượt lên mái nhà, vang lên tận trời xanh.

Đánh lên! Cho khỉ quên ôm chặt vào cành cây, cho ma quỉ cũng quên làm hại người.

Đánh cho chuột, sóc quên đào lỗ, cho rắn nằm quay đơ.

Cho thỏ phải giật mình,

Cho huơu nai, đứng nghe quên ăn cỏ...".

(Trích: Trường ca người Êđê)

Cồng chiêng, từ lâu đã trở thành sức mạnh tinh thần, là nét văn hóa truyền thống, là biểu tượng của cộng đồng trong cảm thức và thế ứng xử với thiên nhiên, xã hội; cũng đồng thời là nhân tố tiếp nối chặt chẽ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của cộng đồng tộc người. Không gian văn hóa và nghệ thuật biểu diễn âm nhạc cồng chiêng vừa là kết quả sáng tạo, vừa là sở hữu chung của các cộng đồng tộc người. Nó luôn tồn tại với cuộc sống và tinh thần của mỗi con người, đã xuyên suốt từng giai đoạn lịch sử phát triển của cộng đồng, như một thành tố không thể thiếu.

Cho đến nay, từ những sự kiện tín ngưỡng linh thiêng, trọng đại, loan báo tin vui, tin buồn... từng buôn làng đều trầm bổng tiếng chiêng. Rộn rã tiếng chiêng từ buôn này đến plei khác, lúc nhịp nhàng khoan thai, khi sôi nổi, giục giã đại ngàn, khi dìu dặt lắng đọng hòa quyện thâm trầm cùng rừng xanh núi thẳm... Không gian văn hóa luôn xao động lòng người.

Để đáp ứng những yêu cầu thể hiện âm nhạc khác nhau thuộc bộ gõ thuộc nhóm nhạc cụ tự thân vang. Các dân tộc thiểu số Phú Yên đã lựa chọn và biên chế thành nhiều dàn cồng chiêng có tên gọi khác nhau, cũng đồng thời có phương pháp chế tác (khi mua về) và chỉnh sửa (thẩm âm), những nghệ nhân thường sử dụng phương pháp: Gõ, gò để lắng nghe từng thang âm riêng và hòa chung với bộ chiêng, gò theo hình vảy tê tê, gò theo hình lượn sóng để điều chỉnh âm thanh, tiết tấu cho từng chiếc trong một bộ chiêng. Tuy nhiên, những nghệ nhân chỉnh sửa đã mai một đi rất nhiều, hiện còn một vài người nhưng cũng đã quá già nua, lỗ tai không còn nhạy cảm với trường độ của âm thanh, cái tay đã quên những đường chạm, gò dứt khoát để chỉnh sửa âm thanh.

Để đáp ứng những yêu cầu thể hiện âm nhạc khác nhau, các dân tộc thiểu số Phú Yên cũng lựa chọn, biên chế các dàn chiêng cồng khác nhau. Là nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc chiêng cồng phải đáp ứng cho yêu cầu lễ thức và gắn kết với thành tố lễ thức đó. Như vậy, mỗi nghi lễ và trong mỗi công đoạn phải có ít nhất là một bài nhạc chiêng riêng. Chẳng hạn, từ lâu bộ chiêng ngành Aráp (bộ chiêng này nguyên là của người Giarai) nhưng từ lâu người Êđê, Chăm Hroi và Bahnar ở Phú Yên đều rất yêu thích và đã sử dụng rộng rãi, nhất là giới thanh niên hiện nay.

Chiêng Aráp được xem là bộ chiêng quý nhất, để dùng trong nhiều nghi lễ và đặc biệt là hội hè khác nhau. Có hàng chục bộ chiêng Aráp nhiều làng đến cùng tham dự. Trai gái của mỗi làng đều ra sức trổ tài đánh thật giỏi, múa thật hay gắn bó với chiêng làng mình.

- Chiêng Aráp có nhiều chiếc với cao độ khác nhau, và được biên chế hỗn hợp các cồng núm và chiêng bằng. Nguyên tắc chung là sự kết hợp của một dàn ba cồng núm "xưa", và một bộ phận gồm 8, 9 chiếc chiêng bằng. Có nhiều trường hợp, dàn ba cồng núm được tăng cường thêm bằng các cồng núm có cùng cao độ hay có cao độ cách một quãng tám so với ba cồng chính. Các cồng núm làm nhiệm vụ giữ nhịp, đặc biệt là nhịp trì tục. Các chiêng bằng làm chức năng thể hiện giai điệu và hòa âm. Bộ đầy đủ có đến 18 - 20 chiếc, gồm 1 cồng núm Ania, riêng cồng núm Chiêl, Pốt mỗi loại có thể tăng 3 - 4 chiếc, và bốn loại chiêng bằng (trừ chiếc Dinh hay Dob trầm nhất), ba loại còn lại có thể tăng 2 - 3 chiếc, bộ đầy đủ có thể lên tới 18 - 20 chiếc.

Bộ chiêng Aráp bình thường có ba chiếc cồng và tám chiêng bằng.

- Chiêng Trum cũng thường dùng trong lễ đâm trâu, bỏ mả... trai gái cùng múa theo nhịp chiêng hòa với tiết tấu của trống pah hgor. Bộ chiêng có ba chiếc chiêng núm, cái trầm nhất chiêng Ania, đến chiêng Krak, và chiêng Moong.

- Chiêng Mnhum được sử dụng rộng rãi trong các ngày hội mừng được mùa, hội ăn cơm mới, hội chúc sức khỏe... khi các bông hoa rừng nở rộ, chim Prơtôk hót ca, làng nổi lên hồi chiêng Mnhum mời các Yàng về chung vui suốt đêm. Bộ chiêng Mnhum có ba bộ phận: gồm có 1 - 2 cái trống lớn để giữ nhịp; thứ hai gồm ba chiêng núm làm nhiệm vụ đánh đệm tiết tấu; thứ ba gồm sáu chiêng bằng đi giai điệu.

Người Êđê, Chăm Hroi, Bahnar ở Phú Yên luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau trong giao thoa văn hóa giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng tộc người Việt Nam. Âm nhạc nói chung, núi rừng vang động tiếng cồng chiêng theo vòng đời người, đời cây trên núi rừng cao nguyên Trường Sơn là một nhu cầu sinh hoạt văn hóa cộng đồng không thể thiếu vắng. Đây là nét văn hóa chủ đạo đậm đà bản sắc dân tộc được bắt rễ từ truyền thống lịch sử văn hóa của các cộng đồng dân tộc có liên quan. Điều ghi nhận quan trọng nhất là cồng chiêng (và tất cả những nhạc cụ), trường ca, sử thi vẫn được tiếp tục sử dụng và tồn tại đến hôm nay, đây là thành tố hữu cơ của âm nhạc các dân tộc Việt Nam trên suốt dặm dài đất nước. Văn hóa và âm nhạc cồng chiêng của Phú Yên nói riêng, Tây Nguyên nói chung đều tồn tại dưới dạng văn hóa dân gian, nó là sở hữu của cộng đồng và là năng lực cũng như chuẩn văn hóa cho các thành viên cộng đồng dân tộc.

5. Vai trò cồng chiêng là phương tiện khẳng định bản sắc văn hóa cộng đồng của các dân tộc thiểu số Phú Yên

Di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số Phú Yên - Tây Nguyên gồm có kho tàng văn hóa ăn ở, trang phục, ngôn ngữ riêng từng tộc người, văn học dân gian, nghệ thuật điêu khắc và tri thức dân gian, nhưng nổi trội nhất vẫn là trường ca và cồng chiêng. Để ứng xử với thiên nhiên, thần linh, tổ tiên, tín ngưỡng, phong tục tập quán họ đều dùng cồng chiêng để hiệp thương, khẩn thỉnh giãi bày mọi sự; và để đối thoại với cộng đồng, tất cả sinh hoạt cộng đồng, gia đình và ngay với chính mình họ cũng dùng cồng chiêng và còn biểu hiện qua sử thi, trường ca. Rất ít loại nhạc cụ có được vai trò quan trọng như vậy, điều đó còn được thể hiện từ việc điều chỉnh âm thanh, tạo ra những thang âm khác lạ, độc đáo để thành một bộ phận chủ đạo của dàn chiêng, lựa chọn các biên chế dàn chiêng, tư thế diễn tấu, sắc phục, dùng tay hay dùi, dùi bọc và các kỹ xảo ngắt tiếng, ngoài ra họ còn sáng tác nhiều bản nhạc chiêng cho những công dụng khác nhau. Sự điêu luyện trong quá trình sử dụng những kỹ thuật và kỹ năng sáng tạo trong môi trường diễn tấu. Cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là một bằng chứng hết sức thuyết phục về bản sắc văn hóa cộng đồng của các dân tộc thiểu số Phú Yên và Tây Nguyên. Vai trò cồng chiêng là phương tiện đã và luôn khẳng định đặc tính và bản sắc văn hóa của cộng đồng tộc người.

6. Những nguy cơ mai một văn hóa cồng chiêng hiện nay

Không gian văn hóa và âm nhạc cồng chiêng các dân tộc thiểu số Phú Yên tồn tại dưới dạng văn hóa và âm nhạc dân gian. Nó là sở hữu cộng đồng và là năng lực sáng tạo của từng thành viên, được thẩm nhận từ không gian văn hóa cồng chiêng. Cũng như các bài nhạc của mỗi tộc người sáng tác cho dàn cồng chiêng để phục vụ từng hoạt động văn hóa, hội hè, nghi lễ. Nó tạo thành một kho vốn văn hóa dân gian phong phú và đa sắc màu, phản ánh tư duy, tình cảm của con người với thiên nhiên, cộng đồng xã hội.

6.1. Tuy nhiên, sự thay đổi quá nhanh về kinh tế - văn hóa - xã hội, lối sống, quan hệ giữa các cộng đồng, giao lưu, tiếp biến văn hóa trong môi trường toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

6.2. Xu hướng đô thị hóa ngày càng nhanh, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phương thức sản xuất thay đổi, những đòi hỏi cấp thiết nhằm phục vụ đời sống và sinh hoạt hiện đại đã làm thay đổi nhận thức về tính linh thiêng và mất dần tính cộng đồng của không gian văn hóa cồng chiêng.

6.3. Các hình thức văn hóa và âm nhạc từ nước ngoài được dàn dựng công phu, hiện đại thể hiện trên cổng thông tin đại chúng, trực tiếp trên điện thoại thông minh, đã làm cho lớp trẻ, người trung niên ngày càng có thái độ hờ hững, quên lãng dần văn hóa dân tộc.

6.4. Sự suy giảm về số lượng các dàn cồng chiêng tại các buôn làng là điều lo ngại thật sự. Các bài nhạc chiêng cũng dần bị lãng quên, bởi do nhiều tác động (thời gian, tuổi tác, thay đổi môi trường làm việc, phương thức sản xuất).

6.5. Mặt khác, nhiều nghệ nhân có khả năng chế tác, chỉnh sửa chiêng và những nghệ nhân chính của đội cồng chiêng già nua hoặc qua đời, họ mang theo cả kho tàng di sản văn hóa cồng chiêng, tạo ra sự đứt gãy, khó tạo dựng và khôi phục lại được.

6.6. Cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng có nguy cơ thay đổi theo chiều hướng mai một, nếu không có sự quan tâm sâu sắc và quyết liệt của các ngành chức năng.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...