Tóm tắt: Dân tộc Raglai sinh sống ở miền núi tỉnh Ninh Thuận, năm 2019 có 70.366 người. Tham luận này khảo sát hiện trạng du lịch tỉnh Ninh Thuận những năm qua cho thấy văn hóa dân gian Raglai chưa được phát huy đúng mức trong hoạt động du lịch ở tỉnh. Từ đó đặt vấn đề phân tích và nêu giải pháp đưa văn hóa dân gian Raglai trở thành một phần chủ thể cùng tham gia du lịch để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, cũng có nghĩa từ đó làm nguồn lực bảo tồn văn hóa dân gian dân tộc Raglai.
Từ khóa: Dân tộc Raglai, Ninh Thuận, đàn chapi, mả la.
1. Dẫn nhập
Dân tộc Raglai sinh sống chủ yếu ở miền núi thuộc ba tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Theo Tổng điều tra dân số năm 2019, dân tộc Raglai cả nước có 146.613 người, trong đó Ninh Thuận có 70.366 người.
Dân tộc Raglai chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi. Ngày xưa họ chuyên du canh đốt rừng làm rẫy trên các mé núi, ngày nay đã định cư định canh ở các vùng đất bằng, thung lũng. Về văn hóa - xã hội, hiện nay họ quần tụ thành những làng/ palei, duy trì chế độ mẫu hệ, chưa hình thành tôn giáo. Dân tộc Raglai có những tập quán, lễ hội đặc trưng riêng như lễ ăn mừng đầu lúa mới, lễ bỏ mả, văn nghệ dân gian phong phú và độc đáo như: diễn tấu cồng chiêng/ mả la, khèn bầu, đàn chapi, hát múa dân gian, hát đối đáp, truyện cổ, tục ngữ, ca dao, có nơi nghệ nhân hát kể sử thi, truyện thơ bên bếp lửa bập bùng, cũng đã phát hiện họ chế tác “đàn đá” để đuổi thú giữ rẫy...
Nhìn chung mức sống dân tộc Raglai hiện nay vẫn còn thấp, một số nơi còn thiếu thốn, mặc dù Nhà nước thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội riêng cho dân tộc thiểu số ở miền núi nói chung, trong đó có dân tộc Raglai.
Tham luận này đặt ra vấn đề là văn hóa dân gian dân tộc Raglai đặc sắc, lại sinh sống địa bàn vùng núi rừng có nhiều thắng cảnh thiên nhiên, hệ sinh thái, được xem là tài nguyên để phát triển du lịch trong thời gian tới; cũng hiểu như là một hình thức tương tác nuôi dưỡng và bảo tồn văn hóa.
2. Hiện trạng du lịch tại các vùng cư trú của dân tộc Raglai
2.1. Xã Phước Bình và Vườn Quốc gia Phước Bình
Từ Phan Rang ngược hướng Tây 70km theo quốc lộ 27 là đến xã Phước Bình thuộc huyện Bác Ái, Ninh Thuận, trong xã có khoảng 4.000 người Raglai và Churu sinh sống và khoảng 500 người Kinh. Địa bàn xã Phước Bình có Vườn Quốc gia Phước Bình.
Vườn Quốc gia Phước Bình được thành lập năm 2006 với tổng diện tích 19.814ha rừng tự nhiên trong hệ sinh thái rừng nguyên sinh vùng núi cao đang được bảo vệ nghiêm ngặt để bảo tồn đa dạng sinh học hệ rừng ở vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, đồng thời có nhiệm vụ nâng cao năng lực phòng hộ đầu nguồn nước cho hệ thống sông Cái của tỉnh Ninh Thuận.
Theo ghi nhận, Vườn Quốc gia Phước Bình có 1.322 loài thực vật: rừng hỗn giao cây gỗ cẩm lai, gõ mật, bằng lăng, sao, dầu, các loài lan rừng xen lẫn tre nứa, dây leo, cây thuốc Nam và 327 loài động vật hoang dã: 4 loài đặc hữu Đông Dương gồm chà vá chân đen, vượn má hung, mang lớn, cầy vằn bắc và các loài chim, bò sát, côn trùng… đặc biệt bò tót rừng hoang dã đang được bảo tồn, lai giống, nuôi dưỡng trong mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học.
Từ tài nguyên thiên nhiên đa dạng phân bố vùng núi ở độ cao từ 300m lên dần đến 2.000m, khí hậu mát mẻ, nên mấy năm qua Vườn Quốc gia Phước Bình đã phát triển thêm lĩnh vực du lịch tham quan, trải nghiệm rừng, sinh thái và dã ngoại thắng cảnh thác, suối.
Cụ thể tại Vườn Quốc gia Phước Bình mở các tour du lịch sinh thái, leo núi mạo hiểm, dã ngoại cắm trại nghỉ dưỡng. Tại trung tâm Vườn có đầu tư xây dựng nhà nghỉ đêm phục vụ du khách.
Trong các hình thức du lịch, đáng kể là tuyến tham quan xuyên rừng theo suối Gia Nhông - thác Đá Bàn - thác Đá Đen phục vụ du khách di chuyển vào cung đường rừng, dọc suối dài khoảng 11km để tham quan thắng cảnh thiên nhiên, trải nghiệm, khám phá các loại rừng nguyên sinh, rừng hỗn giao, quan sát các loài động vật hoang dã, dựng trại nghỉ ngơi. Ban đêm tổ chức sinh hoạt ca hát tập thể, ngày hôm sau quay trở về. Về ăn uống tự túc mang theo.
Mặt khác đến Vườn Quốc gia du khách còn có thể tham quan Di tích lịch sử Bẫy đá Pinăng Tắc, vào các thôn dân tộc Raglai, Churu trong xã Phước Bình du khảo văn hóa dân tộc.
Nhìn chung các tour này chủ yếu về du lịch leo núi, khám phá rừng, thác, suối, chỉ nghiêng về sinh thái rừng, thác suối, quan sát động vật hoang dã... Về tham quan Bẫy đá Pinăng Tắc, du khảo văn hóa hiện mang tính chất tự phát, chưa tổ chức bài bản.
2.2. Xã Vĩnh Hải và Vườn Quốc gia Núi Chúa
Từ Phan Rang theo đường ven biển tuyệt đẹp ra hướng Đông Bắc, qua các làng biển Mỹ Tân, vườn nho Thái An... khoảng 32km là đến xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, trong xã có 2 thôn Đá Hang và Cầu Gãy là dân tộc Raglai sinh sống (Đá Hang 347 người, Cầu Gãy 357 người). Trong địa phận xã có Vườn Quốc gia Núi Chúa.
Vườn Quốc gia Núi Chúa thành lập năm 2003. Năm 2021 tổ chức UNESCO công nhận Khu Dự trữ sinh quyển Núi Chúa với tổng diện tích tự nhiên 106.646ha là Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới. Khu sinh quyển này là mẫu chuẩn duy nhất về hệ sinh thái rừng bán hoang mạc đặc trưng và độc đáo của Việt Nam và Đông Nam Á, thuộc hai huyện Ninh Hải và Thuận Bắc, trong đó Vườn Quốc gia Núi Chúa là vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển, có diện tích 29.865ha.
Vườn Quốc gia Núi Chúa có 1.511 loài thực vật đặc hữu quý hiếm và 765 loài động vật hoang dã, đặc biệt voọc chà vá chân đen quý hiếm, có tên trong sách đỏ Việt Nam. Ngoài ra vùng biển Núi Chúa có rạn san hô phong phú với khoảng 350 loài và là nơi hiếm hoi hằng năm có rùa biển lên đất liền đẻ trứng, hiện đang được khoanh vùng bảo tồn rùa biển và được bảo vệ nghiêm ngặt.
Vườn Quốc gia Núi Chúa là điểm du lịch nổi tiếng ở Ninh Thuận về loại hình nghỉ dưỡng, môi trường sinh thái, leo núi mạo hiểm. Ở đây du khách có thể khám phá nhiều địa điểm thú vị:
- Bãi Hỏm - Hang Rái: đường đi khoảng 3km, du khách chứng kiến loại rừng khô hạn hiếm thấy, cảnh quan ven biển Bãi Hỏm, tìm hiểu công việc bảo tồn rạn san hô biển, bảo tồn khu vực rùa biển lên đẻ trứng theo chu kỳ hằng năm.
Khi đến Hang Rái, hiển hiện trước mắt du khách là mặt san hô hàng triệu năm đã hóa thạch loang lỗ, có người ví như “bề mặt mặt trăng”, mỗi khi sóng trào lên tràn trắng xóa bề mặt tạo thác nước trên biển. Du khách còn có thể men theo triền đá để chụp cho mình những bức hình đẹp. Sau đó tham quan khu vực cứu hộ sinh vật biển, nghe truyền thông về bảo vệ rùa biển.
- Công viên Đá: trên tuyến đường đi này du khách ngang qua khu vực triền núi của Vườn Quốc gia sẽ chứng kiến kiểu rừng sa thảo khô hạn điển hình gồm các loài cây rừng chịu hạn, thấp, có hình dáng những cây bonsai, tưởng như có bàn tay uốn nắn của nghệ nhân cây cảnh lành nghề, xen kẽ là vô số tảng đá, khối đá tự nhiên xếp chồng lên nhau tạo ra những hình tượng có dáng hình kỳ lạ, quần tụ như một công viên đá do bàn tay của Tạo hóa sắp đặt.
- Tuyến biển: du khách đi tàu dạng đáy kính để tham quan trải nghiệm biển khơi, từ đáy kính của tàu xem các loài san hô biển đa dạng, muôn màu sắc dưới đại dương và sinh vật biển, nhiều nơi san hô hiển hiện trước du khách như là thủy cung nguy nga, lung linh sắc màu.
- Chinh phục đỉnh Núi Chúa: tuyến này cần du khách leo núi có thể lực tốt, tinh thần dũng cảm, phiêu lưu, thích chinh phục điểm cao... Muốn đạt mục tiêu leo núi mạo hiểm, du khách sẽ đi theo lộ trình xuyên các rừng cây bụi, cây gai đặc trưng khô hạn, xuyên qua thôn Đá Hang, một thôn dân tộc Raglai, sau đó tiếp tục leo núi. Càng lên độ cao khí hậu mát mẻ dần, rừng bắt đầu có màu xanh nguyên sinh, du khách dựng trại, tắm suối, ăn tối, ngủ lại để trải nghiệm một đêm lạnh giữa núi rừng. Sáng hôm sau du khách tiếp tục hành trình leo núi đến trưa là đã chinh phục đỉnh Núi Chúa ở độ cao 1.039m so mực nước biển, đây là đỉnh núi cao nhất trong quần thể Khu Dự trữ sinh quyển Núi Chúa.
- Tham quan thác Năm Tầng: trên lộ trình khoảng 5km, ban đầu du khách đến thôn Đá Hang, sau đó xuyên qua rừng cây khô hạn nhiệt đới để leo núi lên đến vị trí thác Năm Tầng cắm trại, nghỉ ngơi, tham quan thác nước...
- Chinh phục đỉnh Đá Đỏ: trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm Pháp và Mỹ, dân quân du kích dùng đỉnh đá này làm đài quan sát tình hình ở đồng bằng. Đỉnh Đá Đỏ gồm cụm những tảng đá lớn chồng lên nhau tạo thành hốc đá rộng, thông nhau như một vọng gác nhìn được nhiều hướng chung quanh, nhất là hướng thôn Cầu Gãy, một thôn dân tộc Raglai sinh sống. Chinh phục đỉnh Đá Đỏ cũng mang tính chất leo núi mạo hiểm, trải nghiệm sinh thái.
3. Kích cầu du lịch bằng phương thức đưa văn hóa dân gian Raglai vào hoạt động du lịch
3.1. Lý do của vấn đề
- Nhiều thập niên qua, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách ưu tiên phát triển dân tộc và miền núi song kinh tế văn hóa xã hội vùng dân tộc Raglai ở miền núi tỉnh Ninh Thuận có phát triển nhưng chưa đáng kể. Nhìn chung vẫn còn nghèo, nhiều nơi còn thiếu thốn.
- Về văn hóa, văn nghệ dân gian dân tộc Raglai được đánh giá là đa dạng, có bản sắc riêng, song cũng đã xuất hiện hiện tượng mai một, phai mờ trong lớp tuổi trẻ. Một bộ phận thanh niên Raglai khi phỏng vấn, trao đổi về văn hóa truyền thống, họ chỉ hiểu biết sơ khởi như diễn tấu cồng chiêng/ mả la, thái độ thì không quan tâm, nhất là dân ca, múa dân gian. Đây cũng là xu hướng chung của lớp tuổi trẻ các dân tộc nói chung. Hiện nay văn hóa truyền thống dân tộc Raglai chỉ được các nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm tìm hiểu; một số cán bộ các cấp thực thi nhiệm vụ có liên quan trực tiếp với vùng dân tộc Raglai như chính quyền, dân vận, văn hóa... chỉ chú ý những phần liên quan như đời sống, tổ chức văn hóa truyền thống theo dạng Hội thi, Hội diễn, Ngày hội Văn hóa dân tộc... Nội bộ dân tộc Raglai thì chỉ có một số ít trong lớp người cao tuổi hiểu biết tường tận và vẫn âm thầm lưu giữ trong người, như khả năng hát múa, diễn tấu cồng chiêng/ mả la, thực hành lễ nghi, kỹ năng đan lát thủ công, chế tác nhạc cụ, hát ru... Vì vậy mỗi khi có chủ trương của tỉnh, huyện về tổ chức Ngày hội Văn hóa, Liên hoan Văn nghệ truyền thống thì các thôn, xã cơ sở mới bắt đầu tìm kiếm nghệ nhân, tập hợp, tập dợt, xây dựng chương trình... Nhìn chung mang tính thời vụ, chưa bền vững.
- Như khảo tả những hoạt động du lịch ở hai Vườn Quốc gia nêu trên, có thể nhận xét rằng: dù có nỗ lực, có thu hút một lượng khách du lịch nhưng còn quá ít, hoạt động hiện nay thì chưa có sự gắn kết dân tộc Raglai cùng làm du lịch, từ du lịch, lấy du lịch làm phương tiện bảo tồn văn hóa dân gian Raglai... Nghĩa là hai Vườn Quốc gia (và một số điểm du lịch cộng đồng nhỏ khác ở trong tỉnh) chỉ làm du lịch nghiêng về trải nghiệm sinh thái, thám hiểm leo núi, dã ngoại, chưa đưa yếu tố văn hóa vào du lịch nên chưa phong phú về nội dung và hình thức từ đó sức thu hút du khách không cao, cũng chưa hiện thực hóa Chiến lược phát triển Du lịch của tỉnh ở tầm vĩ mô, một trụ cột kinh tế, tác động tích cực đến đời sống kinh tế và xã hội dân tộc Raglai bản địa nên chưa tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống, nâng cao dân trí.
3.2. Giải pháp đưa dân tộc Raglai trở thành một phần chủ thể cùng tham gia du lịch
Đây là giải pháp nhằm kiến tạo liên kết giữa các đơn vị du lịch với dân tộc Raglai trước hết trong khu vực 2 Vườn Quốc gia nêu trên.
Nội dung đầu tiên là công tác bồi dưỡng đào tạo nhân lực du lịch được tuyển chọn trong dân tộc Raglai tại chỗ, tập huấn kỹ năng căn bản về giao tiếp du lịch, thuyết trình văn hóa, lịch sử, kỹ năng chế biến ẩm thực dân tộc...
Giữa các đơn vị du lịch và đại diện các thôn, các nhóm dân tộc Raglai hợp tác tại các điểm, tour, có thể ký kết thỏa ước thực hiện:
- Ẩm thực: dịch vụ chế biến và phục vụ các món ăn đặc trưng rừng: cơm lam, gà nướng, rượu cần, rượu chuối hột mồ côi... theo lộ trình và thời điểm đoàn du khách ăn trưa, ăn tối của từng tuyến tham quan, hình thức đặt hàng trước và vận chuyển phục vụ tại chỗ.
- Quày sản phẩm du lịch của dân tộc Raglai: ở những địa điểm cuối lộ trình các tour trước khi du khách ra về, mở quày bán sản phẩm lưu niệm du lịch thủ công như đan gùi, làm cung nỏ, chuỗi hạt, móc khóa từ nguyên liệu gỗ rừng, dạng sản phẩm lưu niệm, làm nghề đặc biệt: chế tác đàn chapi, kèn bầu, sản phẩm thuốc Nam: chuối hột mồ côi, sa nhân... Hiện nay nhân dân sở tại các thôn Bố Lang, Bặc Rây, Hành Rạc trong xã Phước Bình và thôn Cầu Gãy xã Vĩnh Hải có bán sản phẩm một cách rải rác.
Những hình thức này tạo công ăn việc làm đáng kể cho người dân Raglai các thôn sở tại khi tham gia dịch vụ ẩm thực, ngành nghề thủ công đan lát, chế tác nhạc cụ, cung nỏ... cũng phát triển một bước. Mặt khác, khi nhu cầu tiêu thụ sản phẩm du lịch ổn định và lớn hơn sẽ thúc đẩy đông đảo lao động nhiều vùng dân tộc Raglai khác tham gia chế tác, sản xuất, cung cấp. Hiệu quả kép: làm phong phú tuyến du lịch, hấp dẫn du khách.
- Văn hóa dân gian: các thôn lập đội diễn viên văn nghệ dân gian, các đội văn nghệ này cơ hữu tổ chức trình diễn nhạc cụ: cồng chiêng/ mả la, đàn chapi, kèn bầu, ca múa dân gian, xem nghệ nhân chế tác sản phẩm thủ công... Ở các đầu mối trung tâm truyền thông đơn vị du lịch tổ chức giới thiệu văn hóa Raglai, biểu diễn âm nhạc Raglai, biểu diễn thêm đàn đá, dân ca, nghệ nhân hát kể sử thi, phục dựng lễ hội truyền thống. Đương nhiên chi phí tăng lên phù hợp trong giá vé du lịch.
- Lịch sử: tại Vườn Quốc gia Phước Bình mở thêm tuyến tham quan Di tích lịch sử Bẫy đá Pinăng Tắc có người thuyết minh đã tập huấn ngành Bảo tàng, có mô hình tại địa điểm Di tích Bẫy đá.
[Di tích lịch sử Bẫy đá Pinăng Tắc: vào năm 1961 tại triền núi xã Phước Bình dân quân du kích do Pinăng Tắc chỉ huy dựng hệ thống bẫy đá thô sơ đã đánh bại quân đội Sài Gòn đi càn. Sau trận đánh này ông được phong Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Năm 1992, Bẫy đá được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia].
- Dịch vụ cắm lều trại cho du khách: các đoàn khách thường có nhu cầu ở lại trưa, ban đêm, trong các tuyến đường leo núi nhưng ngại mang vác dụng cụ cắm trại, vì vậy cần mở dịch vụ cắm lều trại cho du khách. Hình thức đặt hàng trước và vận chuyển phục vụ tại chỗ.
- Ứng dụng công nghệ thông tin: tất cả những hình thức tham gia này sẽ diễn ra ở địa hình miền núi, vùng dân tộc Raglai, các tuyến, tour đi lại đều là đường rừng leo núi hiểm trở nên tất cả các dịch vụ tham quan, ẩm thực, quày bán sản phẩm, diễn văn nghệ dân gian... sẽ không thuận lợi như ở đồng bằng, đô thị, vì vậy các đơn vị du lịch và các thôn dân tộc Raglai phối hợp đặt hàng trước, lên lịch bằng các hình thức công nghệ thông tin để kết nối nhịp nhàng, khoa học, chính xác, nhanh chóng.
Ngoài ra, tiềm năng du lịch vùng dân tộc Raglai còn nhiều điểm nổi bật đang chờ đón sự đầu tư của ngành Du lịch như tour du khảo trong huyện Bác Ái: hồ thủy lợi Sông Sắt, Nhà Truyền thống Bác Ái, cụm Di tích lịch sử đồn Tà Lú, Ma Ty, điểm dừng chân nghỉ dưỡng cuối tour là thác Chapơr, xã Phước Tân, huyện Bác Ái. Đây là hình thức du lịch sinh thái, dã ngoại, du khảo lịch sử, văn hóa.
[Thác Chapơr là một thắng cảnh rất đẹp, có đầy đủ yếu tố phát triển thành điểm du lịch lớn của tỉnh Ninh Thuận. Kinh nghiệm từ mô hình Khu Du lịch Yang Bay huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa là một thành công. Khu Du lịch Yang Bay từ một địa điểm thác suối, núi rừng, đơn vị du lịch đã mở nhiều hoạt động phong phú, lạ lẫm, thu hút du khách, trong đó có đưa văn hóa truyền thông dân tộc Raglai vào một mảng hoạt động quan trọng. Khu Du lịch Yang Bay đã trở thành điểm du lịch rất nổi tiếng của tỉnh Khánh Hòa hiện nay].
4. Miền đất và con người Raglai ở tỉnh Ninh Thuận khi được thực hiện những ý tưởng, giải pháp phù hợp sẽ đánh thức tiềm năng văn hóa Raglai tham gia vào hoạt động du lịch, biến vùng dân tộc Raglai phát triển hơn, phá thế tĩnh lặng, tiếp thu giao lưu văn hóa, văn minh hiện đại, phát triển kinh tế, nâng cao dân trí. Những giải pháp này cũng có nghĩa là lấy du lịch làm nguồn lực góp phần nuôi dưỡng bảo tồn văn hóa dân gian dân tộc Raglai, nâng cao ý thức quý trọng văn hóa dân tộc mình.
Đây là những ý tưởng, đề xuất trong xu thế phát triển du lịch, du khảo lịch sử, văn hóa từ phát huy tiềm năng của dân tộc Raglai ở Ninh Thuận./.
Tài liệu tham khảo
1. Cổng thông tin điện tử tỉnh Ninh Thuận.
2. UBND tỉnh Ninh Thuận (2023), Ninh Thuận tiềm năng và cơ hội đầu tư, xuất bản 2023.
3. Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh Ninh Thuận (2022), Du lịch Ninh Thuận, xuất bản tháng 9/2022.
4. Sở VHTT tỉnh Ninh Thuận (2007), Ninh Thuận tiềm ẩn những sắc màu, xuất bản.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét