Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2024

Nhận diện và thực hiện giá trị nhân văn từ nghĩa khí Lục Vân Tiên - nền tảng của sự phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ (TS. Phạm Văn Luân)

Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu sinh ra ở Gia Định thuộc vùng Đông Nam Bộ, Ông là người Nam Bộ duy nhất cho đến nay được UNESCO vinh danh. Sự kiện Nguyễn Đình Chiểu được suy tôn là Danh nhân văn hóa thế giới đã tạo nên những hiệu ứng tích cực từ những giá trị nhân văn lan tỏa qua tác phẩm thơ văn nổi tiếng của Ông: Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp… 

Trong đó, truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên là một trong những tác phẩm lớn và danh tiếng nhất, có sức sống kỳ lạ, vượt qua cả rào cản ngôn ngữ trường tồn với không gian và thời gian. Nghĩa khí Lục Vân Tiên đã hằn sâu, làm sâu sắc và phong phú hệ giá trị văn hóa đặc trưng của người miền Đông gian lao mà anh dũng, được tiếp biến sáng tạo qua nghĩa khí: Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa. Vượt ra khỏi phạm vi khu vực, nghĩa khí Lục Vân Tiên đã trở thành một “từ khóa” khi nói đến cốt cách, tư chất văn hóa của người dân vùng Đông Nam Bộ hiện nay. Theo chúng tôi, đây chính là những nội dung bao trùm đặc điểm, vai trò của các giá trị nhân văn – một trong những trụ cột của sự phát triển bền vững Đông Nam Bộ.

Từ khóa: Đông Nam Bộ; Giá trị nhân văn; Nghĩa khí Lục Vân Tiên; Nguyễn Đình Chiểu; Phát triển bền vững.



1. “Giá trị nhân văn” góc nhìn từ khu vực Đông Nam Bộ

Bàn về “Giá trị”, giá trị ở cách hiểu phổ quát nhất chính là những cái gì được xác định có giá trị, có ý nghĩa khi đối sánh với những cái khác, hiện tượng khác. Theo nhà xã hội học người Mỹ J.H.Fichter: Tất cả những gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm người đều có một giá trị [1].

Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam có cách giải thích cụ thể hơn và cho rằng: giá trị phản ánh sự đánh giá của con người đối với các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo chiều hướng tích cực, bao gồm những cái được xem là cần thiết, quan trọng, là đúng, phải, hay, là đẹp... tự trung lại là những gì được xem là chân, thiện, mỹ, là những gì giúp khẳng định một cách đích thực bản chất của con người. “Một khi những nhận thức giá trị ấy đã hình thành và định hình thì nó chi phối cách suy nghĩ, niềm tin, hành vi, tình cảm của con người” [2].

Từ cách hiểu về “Giá trị” như trên, chúng tôi tiếp cận “Giá trị nhân văn” trong bài tham luận này với hàm nghĩa: Giá trị nhân văn tập hợp các giá trị cao quí, thể hiện bản chất con người thông qua 3 giá trị phổ quát Chân, Thiện, Mỹ. Giá trị nhân văn phản ánh mặt tiến bộ trong quan hệ xã hội, đề cao nhân cách tốt đẹp của con người, từ đó tác động tới tính cách và hành vi con người trong cộng đồng. Giá trị nhân văn có ba chức năng cơ bản: Định hướng; Đánh giá và Điều chỉnh các mối quan hệ của con người trong xã hội. Ngày nay, các nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu, xác định các giá trị nhân văn dựa trên niềm tin, khát vọng của người dân, phản ánh đặc trưng và bản sắc văn hóa. Ở Nhật Bản, nước này xác định giá trị nhân văn gồm: 1- Đoàn kết; 2- Kỷ luật; 3- Nhẫn nại; 4- Trung thành; 5- Trách nhiệm; 6- Lịch sự; 7- Tự chủ và 8- Tránh làm phiền người khác. Đồng thời Nhật Bản còn xác định 5 giá trị cốt lõi khi hội nhập quốc tế: 1- Chung sống; 2- Điều khiển bản thân; 3- Tư duy độc lập; 4- Sáng tạo; và 5 Tôn trọng sự khác biệt.

Khi xác định “Giá trị nhân văn” là một trụ cột của sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ theo chúng tôi, “Giá trị nhân văn” chính là rường cột của sự phát triển bền vững vùng. “Giá trị mhân văn” vùng Đông Nam Bộ là thành quả của cả một tiến trình phát trển của lịch sử, được cố kết, xây đắp, điểm tô và trao truyền qua nhiều thế hệ, có vai trò to lớn định hướng mục tiêu, cách thức tiếp cận, nhân sinh quan và hành động, cách ứng xử của con người nên có tác động to lớn như một kênh điều tiết cục diện đời sống xã hội. Giá trị mhân văn vùng Đông Nam Bộ với hệ thống các giá trị văn hóa thể hiện trong từng suy nghĩ và hành vi mỗi người dân cũng như trong cách tiếp cận, lối tư duy, cung cách ứng xử và hành động của cả cộng động, xã hội của Đông Nam Bộ.

Đông Nam Bộ là vùng đất mới, được hình thành trên hành trình Nam tiến của các bậc tiền nhân nhưng có những điểm nhấn của một giá trị nhân văn đặc trưng pha trộn bởi các nền văn hóa của người Việt xưa, người Trung Quốc, Ấn Độ, và các tộc người Chăm, Khmer... được hình thành bởi sự hội tụ của các thành tố quan trọng. Trong đó có các thành tố nền tảng về văn hóa, lịch sử đặc biệt của những dòng lưu dân từ “miền ngoài” vào vùng đất mới. Trải qua tiến trình lịch sử, Đông Nam Bộ ngày nay vẫn giữ gìn được nét đẹp của nền văn hóa thống nhất trong đa dạng với những đặc trưng được thể hiện rõ nét tư chất của người dân nơi đây về sau được kết tinh thành nghĩa khí Lục Vân Tiên trong truyện thơ Nôm nổi tiếng của một người con vùng Đông Nam Bộ - Nguyễn Đình Chiểu.

Thực tiễn triển khai thực hiện đường lối, chủ trương phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước ta ở vùng Đông Nam Bộ cho thấy: Các giá trị nhân văn chưa đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế còn nhiều hạn chế. Trước thực trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân, công cuộc xây dựng, bảo tồn và phát huy các giá trị nhân văn hóa ở Đông Nam Bộ vẫn chưa tạo được chuyển biến đủ tạo ra những tác động tích cực tới cộng đồng xã hội. Đã đến lúc cần phải nhận diện một cách đích thực những nội dung, đặc điểm, vai trò của đặc điểm cốt lõi trong các giá trị nhân văn hiện nay được thể hiện ở vùng Đông Nam Bộ.

Có nhiều cách tiếp cận để nhận diện một vấn đề có tính hệ trọng như giá trị nhân văn của vùng Đông Nam Bộ, với cách tiếp cận lịch đại, chúng tôi muốn lý giải vấn đề ở một câu chuyện có tính căn cốt của tính cách, đạo lý người Nam Bộ - Nghĩa khí Lục Vân Tiên – một biểu tượng đặc sắc thể hiện văn hóa của người Nam Bộ từ bao đời nay cần được khơi sáng trong các giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ.

2. Nghĩa khí Lục Vân Tiên – đỉnh cao giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), được người dân Nam Bộ gọi là Đồ Chiểu khi là thầy dạy chữ Nho, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, quê phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh. Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu được sáng tác bằng chữ Nôm, một ngôn ngữ nghệ thuật bình dân, giàu sức biểu cảm tạo hiệu ứng cho các tác phẩm của ông có sức hút mạnh mẽ bởi lan tỏa nhiều giá trị nhân văn. Hình tượng nhân vật trong văn thơ ông mang đậm tính cách Nam Bộ. Đó là những nông dân dung dị trong đời thường, nhưng trong thời buổi loạn lạc đứng lên kháng Pháp đã hóa thân thành những anh hùng, trượng nghĩa, hiêng ngang đầy nghĩa khí. Thông qua ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu, đạo lý và chính nghĩa luôn được tôn vinh, công bằng xã hội luôn được đề cao. Lục Vân Tiên dưới nhãn quan của Nguyễn Đình Chiểu chính là biểu tượng của nghĩa khí người Nam Bộ mà ngày nay, theo chúng tôi là đỉnh cao giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ.

Khảo cứu từ Lục Vân Tiên chúng tôi rút ra nhận định: cuộc đời, con người, quan niệm sáng tác và đặc điểm thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là di sản kế thừa tư tưởng nhân nghĩa của cha ông. Từ ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu, thơ văn đã trở thành vũ khí chiến đấu mà Lục Vân Tiên chính là thành quả to lớn do Nguyễn Đình Chiểu sáng tạo nên. Lục Vân Tiên tiêu biểu cho nghĩa khí của người quân tử, xông vào chốn hiểm nguy cứu người không chút do dự. Hành động nhổ cây ven đường đánh tan bọn cướp, tiêu diệt tướng cướp Phong Lai chính là lý tưởng là khát vọng về một xã hội công bằng và chan chưa lòng yêu thương con người. Hình tượng Lục Vân Tiên qua ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu đặc tả lý tưởng của người anh hùng giữa đời thường thông qua hình thức truyện thơ Nôm mà ngày nay được trưng bày ở bảo tàng chữ viết thế giới[3].

Sự kết hợp độc đáo giữa câu chuyện dân gian và tự truyện của Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp biến sáng tạo qua Lục vân Tiên cho ra đời một tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Lục Vân Tiên không chỉ tạo nên sức hấp dẫn bạn đọc Việt Nam mà còn hấp dẫn bạn đọc nước ngoài cốt cách văn hóa, con người Nam Bộ. Abel des Michels người đã dịch Lục Vân Tiên sang tiếng Pháp với tên gọi Lục Vân Tiên cổ tích truyện (Histoire de Luc Van Tien) năm 1899 trước khi có bản Lục Vân Tiên chữ quốc ngữ ngày nay. Cuộc đời gian truân của Nguyễn Đình Chiểu khắc họa qua nhân vật Lục Vân Tiên thể hiện khát vọng đầy nghĩa khí hành đạo cứu đời bằng những phẩm chất đẹp đẽ như một biểu tượng của giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ. Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga đã tượng trưng cho tài năng, trí tuệ, nhân phẩm của con người. Đó là những con người học rộng, tài cao. Tuy mỗi người mỗi vẻ, mỗi nét mặt khác nhau, nhưng họ đều là những người giữ vững nghĩa khí: cương trực, khẳng khái, vị tha và trượng nghĩa – nền tảng của giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ ngày nay.

Sáng tác Lục Vân Tiên, nhà thơ mù lòa Nguyễn Đình Chiểu đã thực hành một cách tiếp biến văn hóa sáng tạo đặc biệt được thể hiện qua truyền dạy, ghi chép, giảng giải đạo lý trong cuộc sống của người dân lao động, phù hợp với môi trường sinh thái - văn hóa vùng Đông Nam Bộ, nơi hội tụ của nhiều sắc dân từ nhiều vùng, miền đến sinh sống, nơi văn hóa tuồng cổ, hát bội, dân gian phổ biến. Nguyễn Đình Chiểu khi sáng tác Lục Vân Tiên đã mở đường cho cách phổ biến văn thơ, phổ truyền đạo lý, cốt cách văn hóa người Nam Bộ. Chính vì vậy, Lục Vân Tiên không chỉ được kể, chép, truyền dạy mà còn được trình diễn trên đường quê, ngõ chợ... bởi các “nghệ nhân” dân gian Nói thơ Vân Tiên.

Phẩm chất văn võ song toàn và thế mạnh võ nghệ là một đặc trưng mang sắc thái một thành tố văn hóa vùng Đông Nam Bộ của Vân Tiên, khác với các anh hùng thường thấy trong truyện thơ Nôm chỉ nổi bật ở một phương diện nhất định. Nghĩa khí Lục Vân Tiên là dấu hiệu nhận dạng của con người hành động, con người đạo lý, bảo vệ dân lành, giữ yên làng nước, đây chính là khát vọng về một bậc anh hùng của người dân thường luôn bị các thế lực xã hội phi nghĩa đè nén, áp bức. Từ xuất thân cho đến hành động, ngĩa khí Lục Vân Tiên thể hiện đậm nét bình dân mộc mạc, mang bản sắc là người anh hùng của nhân dân, hết lòng vì dân, vì nước. Không phải ngẫu nhiên người dân Nam Bộ ham mê nhân vật Lục Vân Tiên, bởi Lục Vân Tiên hội tụ mọi phẩm chất lý tưởng mà họ yêu thích và gần gũi như chính con người họ.

Trong tứ phẩm: Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa thì Nghĩa là phẩm chất đặc biệt được Nguyễn Đình Chiểu đề cao. Đây cũng là phẩm chất đạo đức, giá trị nhân văn trong thực tiễn được người dân vùng Đông Nam Bộ, vốn là những người đi mở đất ở phương Nam đặc biệt tôn vinh. Tinh thần trượng nghĩa, nghĩa khí “giữa đường thấy cảnh bất bình chẳng tha” là nghĩa cử cao quý nhất của người Đông Nam Bộ. Hầu hết các nhân vật trong Lục Vân Tiên đã thể hiện phẩm chất đạo đức – nhân cách văn hóa Nam Bộ một cách tự nhiên, xuất phát từ những nhu cầu tình cảm yêu thương chứ không phải là bị ràng buộc bởi những nguyên lý đạo đức giáo điều, máy móc.

Nghĩa khí, sẵn sàng quên mình để cứu khốn, phò nguy, bênh vực người bất hạnh chính là linh hồn của Lục Vân Tiên. Đây cũng chính là phẩm chất của các nghĩa sĩ Cần Giuộc và các lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp sau này được Nguyễn Đình Chiểu phản ánh trong cuộc chiến đấu một mất một còn với thực dân Pháp. Tư tưởng và tính cách của những con người này tiêu biểu cho tư tưởng, tình cảm, cốt cách, của người dân vùng Đông Nam Bộ, lớp người do hoàn cảnh và điều kiện sống trên những vùng đất mới đã hình thành nên những khí chất đặc trưng, đó là truyền thống trọng nghĩa khí, ghét gian tà, chính là tư tưởng trọng dân, thương yêu nhân dân, gần dân của Nguyễn Đình Chiểu. Tư tưởng bình dân của quan niệm này còn biểu hiện ở chỗ nó được thể hiện một cách rất tự nhiên qua việc sử dụng khẩu ngữ, phương ngữ, qua cách xưng hô gần gũi của tác giả với những nhân vật lịch sử và từ đó để lại cho hậu thế di sản văn hóa độc đáo có thể đúc kết thanh giá trị nhân văn ở vùng Đông Nam Bộ.

Qua Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã chỉ rõ ai cũng có thể làm được việc Nghĩa, miễn là có tình thương và lòng nhân hậu. Làm việc Nghĩa không phân biệt kẻ sĩ, người có quyền cao chức trọng, người bình dân, thậm chí người nghèo hèn đều thực hành được. Không phải chỉ Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực mới làm việc Nghĩa mà cả chú Tiểu đồng, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều… tất cả ai cũng làm được việc Nghĩa. Hành động trượng Nghĩa trong sáng không cần báo ơn là một giá trị nhân văn của người dân Đông Nam Bộ. Nghĩa khí Lục Vân Tiên chính là hành khúc ca ngợi sự nhân nghĩa, thủy chung, phê phán điều bất nhân, bất nghĩa. Những người nhân nghĩa, thủy chung nhất định sẽ được báo đáp bằng ân tình, kẻ bất nhân, bất nghĩa sẽ bị trừng phạt – Một thông điệp về triết lý sống của Nguyễn Đình Chiểu. Các phẩm chất, đạo đức Nho giáo ở vùng Đông Nam Bộ qua lăng kính của người bình dân như lẽ tự nhiên, mang hơi thở cuộc sống bình dân và phản ánh tinh thần dân chủ, không gò bó kiểu “trường qui”, khuôn mẫu như ở các trung tâm văn hóa như kinh đô Huế, Gia định...

Lục Vân Tiên trong cách tiếp cận lịch sử - cụ thể của đặc điểm sinh thái - văn hóa vùng đất miền Đông Nam Bộ là một bước tiến vượt bậc của văn học Nam Bộ, là một cống hiến mới của Nguyễn Đình Chiểu trong kho tàng các giá trị nhân văn người Đông Nam Bộ. Nguyễn Đình Chiểu đã có những sáng tạo tiếp nối để ngày nay chúng ta đúc kết nên giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ, tư tưởng nhân nghĩa mang tính dân chủ đã được hình thành sâu đậm từ Lục Vân Tiên trở nên hiện thực hơn, sâu sắc hơn, phản ánh tư tưởng nhân nghĩa, lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu – người con ưu tú của đất Đông Nam Bộ - Danh nhân văn hóa thế giới.

3. Bảo tồn, phát huy giá trị nhân văn từ nghĩa khí Lục Vân Tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ của sự nghiệp văn hóa trong thời kỳ mới: "Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ thiên tai, phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân; quản lý khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên, chú trọng bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững". (Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, 2018, tr.25). Đại hội cũng đã xác định nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. (Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, 2018, tr.26). Các quan điểm đó đã thể hiện sự phát triển nhận thức về giá trị nhân văn hóa qua xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách xây dựng môi trường văn hóa toàn diện ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp để văn hóa thực sự là động lực, là nền tảng phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế. Phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tính cộng đồng và khơi dậy khát vọng phát triển bền vững.

Công cuộc xây dựng văn hóa, con người vùng Đông Nam Bộ là sự nghiệp to lớn, lâu dài, quan trọng, đòi hỏi phải quan tâm đầu tư hoàn thiện những nội dung cốt lõi của giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh mới. Lần về nguồn cội, đặt câu chuyện nhuận sắc, tìm hiểu giá trị nhân văn ở vùng Đông Nam Bộ có tính đặc thù trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là cách tiếp cận hướng đến một giải pháp căn cơ, tiếp biến sáng tạo trên nền truyền thống để thực hiện thành công sự nghiệp văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới:

Thực hiện nhiệm vụ này sẽ góp phần khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc nâng cao nhận thức và đề ra giải pháp tiếp cận xây dựng những giá trị mới của văn hóa Đông Nam Bộ. Xây dựng, hoàn thiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ từ những giá trị của di sản văn hóa Nguyễn Đình Chiểu là sự tiếp nối quá khứ, truyền thống văn hóa dân tộc và hội nhập vào dòng chảy các giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại. Xây dựng những giá trị mới của văn hóa Đông Nam Bộ phải dựa trên cơ sở văn hóa dân tộc, làm cho các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc trong tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu – danh nhân văn hóa thế giới được bảo tồn và lan tỏa, tạo nên “sức mạnh mềm” phục vụ phát triển vùng và đất nước.

Từ Lục Vân Tiên ngày nay có Nói thơ Vân Tiên, diễn xướng dân gian độc đáo đã trở thành một loại hình diễn xướng đặc trưng ở Bến Tre, Nam Bộ và đi liền với danh xưng Nguyễn Đình Chiểu. Nhà nghiên cứu Lư Hội4 đưa ra hai khả năng của diễn trình ra đời nói thơ Vân Tiên: - Trước hết do Nguyễn Đình Chiểu khởi xướng hoặc do học trò, người thư ký đọc lại cho thầy nghe sau khi chép lại được 1 đoạn văn giảng truyền về đạo lý nhằm tạo sự hứng khởi và liền mạch thơ; - Thứ hai do học trò khởi xướng, sau khi chép bài giảng về đạo nghĩa xong đọc lại cho thầy kiểm tra, cả hai khả năng này đã làm nên một quá trình giao lưu, trao đổi và tiếp biến sáng tạo văn hóa đặc thù. Nhờ có nói thơ Vân Tiên mà đạo lý làm người, tinh thần nghĩa hiệp, trung hiếu, tiết hạnh được gửi gắm vào tác phẩm đã đi vào đời sống của người dân Nam Bộ và góp phần gìn giữ những truyền thống cao đẹp của dân tộc. Theo TS. Mai Mỹ Duyên, trường ĐH Trà Vinh[4]: từ nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của phong trào yêu nước chống Pháp hình thức Nói thơ Vân Tiên ra đời và nhanh chóng lan tỏa khắp Nam Bộ. Nói thơ Vân Tiên đã đi vào tâm hồn, là niềm tự hào của người dân Bến Tre, Nam Bộ. Nói thơ Vân Tiên đã chuyển tải thành công giá trị tư tưởng cao đẹp của truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên: nêu cao phẩm chất tốt đẹp, nghĩa khí của nam giới, ca ngợi phẩm hạnh người phụ nữ, góp phần gìn giữ đạo lý làm người trong hoàn cảnh nước mất nhà tan.

Kết quả điều tra xã hội học ở Bến Tre cho thấy có đến 82,1% người dân thuộc lòng 2 câu thơ:

“Trai thì trung hiếu làm đầu

Gái thì tiết hạnh làm câu trau mình”

và cho rằng đây là tiêu chí đạo đức để giáo dục thế hệ trẻ, Lục Vân Tiên được xác định là một tấm gương để hội giáo dục con cái trong gia đình[5].

Để tiếp nối, xây dựng, thực hiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ từ Lục Vân Tiên theo chúng tôi cần quan tâm đến các vấn đề sau:

Thứ nhất, xác lập, thống nhất nhận thức về mặt lý luận các giá trị nhân văn từ nghiã khí Lục Vân Tiên trong hệ giá trị văn hóa vùng Đông Nam Bộ qua nói thơ Vân Tiên với đặc tính “truyền miệng”, có nhiều dị bản, “tài liệu gốc”...Vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể nói thơ Vân Tiên và tổ chức hội thảo tham vấn chuyên gia, tham vấn cộng đồng, gặp gỡ các hậu duệ của Nguyễn Đình Chiểu để trao đổi, rút ngắn những khác biệt trong nhận thức lý luận về giá trị nhân văn trong nói thơ Vân Tiên từ góc độ văn bản tác phẩm và vận hành văn bản pháp luật về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Quá trình xây dựng hồ sơ khoa học danh nhân Nguyễn Đình Chiểu trình UNESCO từ năm 2020 đã phản ánh phần nào bức tranh sinh động về danh nhân văn hóa thế giới – Nguyễn Đình Chiểu, góp phần xác định dạng thức tồn tại của nói thơ Vân Tiên trong cuộc sống đương đại. Đây là cơ sở để các cơ quan chuyên môn cấp trung ương, các trường ĐH-CĐ và các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ phối hợp tổ chức hội thảo, chọn lọc, tiếp tục nghiên cứu, thống nhất xây dựng, số hóa và phát triển hệ thống tài liệu phục vụ truyền dạy nói thơ Vân Tiên, mở ra cơ hội mới trong xây dựng, thực hiện hệ giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ thông qua truyền dạy nói thơ Vân Tiên trong bối cảnh hiện nay.

Thứ hai, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, trang bị kiến thức và kỹ năng về xây dựng, thực hiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ cho đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa, quản lý giáo dục, nghệ nhân cộng đồng, giáo viên các bộ môn Văn, Giáo dục công dân ở trường phổ thông có chuyên môn sâu về nói thơ Vân Tiên, am tường thực hành diễn xướng và biết linh hoạt vận dụng trong giáo dục, thực hành giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ trường hợp nói thơ Vân Tiên. Khi được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nói thơ Vân Tiên lực lượng cán bộ quản lý văn hóa, quản lý giáo dục, giáo viên, nghệ nhân nói thơ vân Tiên mới có thể bảo tồn, phát huy các giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ. Cần xác định tính chất “kép”, “hai trong một” của nói thơ Vân Tiên khi xây dựng, thực hiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ là ở hình thức diễn xướng dân gian với nội dung giáo dục đạo lý làm người tạo nên “chuỗi giá trị” văn hóa – giáo dục từ danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Đình Chiểu. Trên cơ sở kết quả tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, quản lý giáo dục, nghệ nhân cộng đồng, giáo viên có chuyên môn về nói thơ Vân Tiên, hình thành mạng lưới các tổ chức cộng đồng, câu lạc bộ nói thơ Vân Tiên, tiến tới hình thành Hội nói thơ Vân Tiên với “sứ mạng kép”, vừa thực hiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ thông qua bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể nói thơ Vân Tiên, vừa góp sức chăm lo giáo dục đạo đức, gắn kết “dạy chữ, dạy nghề, dạy người” cho thế hệ trẻ từ việc chuyển giao, nhân rộng các mô hình, dự án giáo dục đã thực hiện thành công ở Bến Tre như: dự án “Giáo dục liêm chính”, dự án “Dạy chữ, dạy người” do nhóm Sáng tạo Trẻ Bến Tre, trường Cao đẳng Bến Tre chủ trì thực hiện trong các trường học ở 2 tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long từ những năm 2011- 2014 sang các tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ. Mô hình mới này sẽ mở ra cơ hội thúc đẩy tiếp cận, ứng dụng thành tựu cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa vào công cuộc xây dựng, thực hiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ thông qua nói thơ Vân Tiên nói riêng và di sản văn hóa Nguyễn Đình Chiểu nói chung.

Thứ ba, xây dựng, bồi dưỡng các đối tượng công chúng thưởng thức, hưởng thụ và thực hành nói thơ Vân Tiên rộng rãi trong cộng đồng đẩy mạnh thực hiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ. Từ sự phát triển của nói thơ Vân Tiên, trong bối cảnh phát triển mới cho thấy cần xây dựng, thực hiện hệ giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ theo phương thức truyền khẩu khi phổ biến nói thơ Vân Tiên từ xa xưa với phương pháp dạy học của thầy Đồ Chiểu, từ gia đình lan tỏa ra cộng đồng dựa trên một nền tảng chắc chắn, thể hiện qua thái độ tiếp nhận, sự khắc sâu, “nhớ dai” đến từng câu thơ, tình tiết trong tác phẩm Lục Vân Tiên dù chưa biết chữ…. Đối tượng phù hợp nhất cho hoạt động xây dựng, thực hiện hệ giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ theo chúng tôi phải bắt đầu từ học sinh các trường Phổ thông, thậm chí cả trường Mầm non, sớm cho học sinh tiếp cận thưởng thức, hưởng thụ nói thơ Vân Tiên. Tổ chức nghiên cứu lồng ghép, tích hợp trong từng bài học ở các bộ môn có tiềm năng tiếp cận thực hiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ từ nghĩa khí Lục Vân Tiên theo phương thức truyền dạy nói thơ Vân Tiên.

Giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ phản chiếu và ngời sáng qua nghĩa khí Lục Vân Tiên, đây là cội nguồn sức mạnh của người Đông Nam Bộ, là nhân tố cố kết các cộng đồng, hình thành nên bản chất và đặc trưng phổ quát, giá trị cơ bản của giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ, là nền tảng phát triển kinh tế - xã hội, kiến tạo nên hệ thống các mối quan hệ xã hội mang đậm bản chất con người và giá trị làm người chân chính - Một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng hiện nay.

Kết luận

Lục Vân Tiên là tác phẩm lớn và nổi tiếng rất sớm của Nguyễn Đình Chiểu, tác phẩm có sức sống qua nhiều thế hệ cả trong và ngoài nước. Thống đốc Nam Kỳ Hoefel trong diễn văn đọc ngày 27/6/1943 trước mộ Nguyễn Đình Chiểu nhân kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Ông ở Ba Tri nhấn mạnh: “Nguyễn Đình Chiểu là một bậc văn nhân tài hoa đất Việt, (lại là tác giả của Lục Vân Tiên) ví như một tảng đá trụ cột giúp vào công cuộc kiến lập nền phục hưng”[6]. Nói thơ Vân Tiên là hình thức diễn xướng dân gian độc đáo, là một trong những bằng chứng thuyết phục về sự lan tỏa của tác phẩm Lục Vân Tiên trong cuộc sống đương đại. Còn mãi với thời gian, nói thơ Vân Tiên đã làm sâu sắc và phong phú kho tàng di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Với nói thơ Vân Tiên tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu – tác phẩm Lục Vân Tiên luôn được nhiều thế hệ nhắc đến không chỉ vì giá trị nghệ thuật thơ văn, mà còn là giá trị về đạo lý làm người với những chuẩn mực làm nên giá trị nhân văn ở Đông Nam Bộ: lòng yêu nước, thủy chung, hiếu nghĩa...là nghĩa khí có giá trị vững bền trong mọi thời đại - những giá trị làm nên “sức mạnh mềm” của vùng Đông Nam Bộ hiện nay.

Trong bối cảnh mới, khi Nguyễn Đình Chiểu là danh nhân văn hóa thế giới, một trong những giá trị có tính lan tỏa và kết nối sâu rộng ở tầm thế giới được khởi phát từ nghĩa khí Lục Vân Tiên thông qua nói thơ Vân Tiên. Đây là thời cơ lớn cho các hoạt động nghiên cứu xây dựng, thực hiện giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ gắn kết với phổ biến và truyền dạy nói thơ Vân Tiên tạo ra hiệu quả giáo dục. Khu vực Đông Nam Bộ cần sớm có chủ trương và quan tâm hợp tác các cơ quan chức năng, các trường ĐH-CĐ, viện nghiên cứu trong và ngoài nước, sớm có những chương trình hành động thiết thực giúp xây dựng, bảo tồn, phát huy các giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ gắn với nghiên cứu, thực hành, nói thơ Vân Tiên. Những việc làm có ý nghĩa này sẽ góp phần làm phong phú và sâu sắc và trường tồn các giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ – một đóng góp to lớn và rất quan trọng của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Đình Chiểu trong quá trình xây dựng, phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Chí Bền (2017), Văn hóa dân gian Bến Tre, NXB Mỹ thuật, Hà Nội.

2. Lữ Văn Châu (1996), Nguyễn Đình Chiểu - Nhà thơ đạo lý, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Trường ĐH KHXH & NV, ĐH Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Đình Chiểu (2020), Thơ văn yêu nước và Truyện thơ Lục Vân Tiên, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.

4. Lư Văn Hội (2005), Các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre, sở Văn hóa Thông tin Bến Tre.

5. Phạm Văn Luân (2021), Quản lý di tích ở Bến Tre trong phát triển du lịch, Luận án Tiến sĩ Quản lý Văn hóa, Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam.

6. Ánh Nguyệt (2019), Tổ chức truyền dạy nghệ thuật nói thơ Vân Tiên, truy cập ngày 1/11/2024 qua link https://baodongkhoi.vn/to-chuc-truyen-day-nghe-thuat-noi-tho-van-tien-19122019-a68310.html

7. Nhiều tác giả (1973), Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, NXB Văn học, Hà Nội.

8. Nhiều tác giả (1980), Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, Tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.Nói thơ Vân Tiên – Liên hoan dân ca Việt Nam 2013 khu vực Nam Bộ tại Long An, truy cập ngày 1/11/2024 qua link https://dotchuoinon.com/2015/01/28/dan-ca-dan-nhac-vn-noi-tho-van-tien/

9. Thạch Phương (chủ biên), Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời, Ty Văn hóa và thông tin Bến Tre xuất bản, 1982.

10. Tài liệu Chương trình trình Truyền cảm hứng, Giáo dục đạo lí cho giới trẻ qua Nói thơ Vân Tiên của Công ty Du lịch sinh thái Hải Vân- Nông trại sân chim Vàm Hổ và Tạp chí Cao Đài, tháng 12/2020.

11. Sở Giáo dục & Đào tạo Bến Tre - Hội Cựu Giáo chức Bến Tre (2016), Kỷ yếu nhà giáo tiêu biểu tỉnh Bến Tre, Quyển 1, trang 192.

12. Tài liệu Tổng kết các lớp đi Thực tế bộ môn Phát triển Đời sống văn hóa cộng đồng ở các tỉnh Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre từ năm 2022-2024, khoa Quản lý Văn hóa nghệ thuật, Trường ĐH Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh.

13. Trần Ngọc Vương (1992), “Những đặc điểm mang tính quy luật của sự phát triển văn học nhìn nhận qua sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu”, Tạp chí Văn học, số 3/1992.

[1] F.H.Fichter: Xã hội học, Sài Gòn, 1973, tr.173.

[2] Trần Ngọc Thêm: Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr.38.



[4] Ánh Nguyệt (2019), Nói thơ Vân Tiên được lưu truyền qua nhiều thế hệ, truy cập báo Đồng Khởi ngày 05/11/2023 link https://baodongkhoi.vn/noi-tho-van-tien-duoc-luu-giu-qua-nhieu-the-he-02092020-a77401.html truy cập ngày 1/11/2024

[5] Nguyễn Chí Bền (2018) Báo cáo Tư vấn chiến lược cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre về Xây dựng, phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Phụ lục, tr.22.

[6] Nguyễn Bá Thế 1957, Nguyễn Đình Chiểu thân thế và thi văn 1822-1888, Tân Việt xuất bản, Sài Gòn.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...