Tóm tắt: Đời sống của người dân tỉnh Đồng Nai trong những năm qua đang có những biến đổi toàn diện về thu nhập và điều kiện sinh hoạt. Thông qua kết quả khảo sát 1.000 hộ gia đình cho thấy do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nói chung khiến đời sống của người dân, nhất là nhóm hộ nghèo và cận nghèo gặp nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc tiếp cận chính sách hỗ trợ giảm nghèo. Bài viết nêu lên một số điểm nổi bật từ thực tế đời sống người dân, khả năng tiếp cận chính sách và một số kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo ở Đồng Nai trong thời gian qua.
Từ khóa: giảm nghèo, nghèo đa chiều, tiếp cận chính sách.
Dẫn nhập
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống Nhân dân “làm cho Người nghèo thì đủ ăn, Người đủ ăn thì khá giàu, Người khá giàu thì giàu thêm”(1); không ngừng phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, sức mạnh của Nhân dân, năng động, sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, và đã “đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước”(2). Quán triệt quan điểm tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và chính sách phát triển.
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của quốc gia, "Ngày Quốc tế chống đói nghèo", "Ngày Vì người nghèo ở Việt Nam" (17/10), hưởng ứng phong trào thi đua "Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau", những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giảm nghèo vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu để phát triển bền vững và đã trở thành một chủ trương lớn, một chương trình của quốc gia, giàu tính nhân văn, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đồng Nai là một tỉnh nổi bật trong khu vực Đông Nam Bộ triển khai quyết liệt tinh thần và quan điểm trên của Đảng và Nhà nước là nâng cao giá trị nhân văn mà cụ thể là giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống người dân.
1. Thực trạng tỷ lệ nghèo ở Đồng Nai
Năm 2022 là năm đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 với chuẩn nghèo thu nhập và 6 chiều dịch vụ xã hội cơ bản tương ứng với 12 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Theo chuẩn nghèo mới, toàn quốc có 4,2% hộ nghèo đa chiều. Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước (0,4%). Tương tự như thế, ở Đồng Nai cũng bắt đầu áp dụng các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản năm 2022.
Khi theo dõi tỷ lệ hộ nghèo theo các năm, đến năm 2022 có tỷ lệ hộ nghèo tăng lên đáng kể so với những năm trước đó và bằng với năm 2017. Lý do dẫn đến điều này được cho rằng 2022 là năm đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 với chuẩn nghèo thu nhập và 6 chiều dịch vụ xã hội cơ bản khiến cho tỷ lệ bị đẩy lên cao (0,7%). Phân tích số liệu thống kê từ Bộ LĐTB&XH nhận thấy tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo của Đồng Nai so với tỉ lệ chung của cả nước thì thấp hơn rất nhiều, và số lượng hộ tái nghèo là rất ít với 8 hộ, số hộ tái cận nghèo không ghi nhận. Đến năm 2023, tỷ lệ hộ cận nghèo tại tỉnh Đồng Nai là 0,5%, so với các tỉnh trong khu vực Đông Nam Bộ, Đồng Nai có tỷ lệ hộ cận nghèo khá thấp, chỉ đứng sau thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương – hai địa phương có tỷ lệ cận nghèo gần như bằng 0.
Khảo sát 1.000 hộ gia đình tỉnh Đồng Nai năm 2024, ghi nhận có 11 hộ nghèo và 15 hộ cận nghèo, hộ chính sách là 37 hộ, tương ứng với tỷ lệ 1.1% hộ nghèo, 1.5% hộ cận nghèo và 3.7% hô thuộc diện chính sách. Khi chia theo khu vực khảo sát, ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở đô thị chiếm tỷ lệ cao hơn nông thôn, với hộ nghèo là 1.2% và 1%; cận nghèo là 2.4% và 0.6%.
2. Mức sống hộ nghèo và cận nghèo ở Đồng Nai
Hiện nay Đồng Nai đang áp dụng nghị định Số: 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 để xác định chuẩn nghèo của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2022-2025 như sau:
- Chuẩn hộ nghèo: + Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Chuẩn hộ cận nghèo: + Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. + Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
Dựa vào niên giám thống kê năm 2023, thu nhập bình quân đầu người một tháng tính chung cả tỉnh theo giá hiện hành đạt 6.579 nghìn đồng/tháng, tăng 10,05% so với năm 2021 trong khi chỉ số này trên cả nước là 4.962 nghìn đồng, khu vực đô thị là 6.260, nông thôn là 4.196 nghìn đồng. Thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2023 theo giá hiện hành phân theo 5 nhóm thu nhập gồm nhóm 1 là 20% dân số nghèo nhất, cho đến nhóm 5 là 20% dân số giàu nhất của tỉnh Đồng Nai là, nhóm 1: 2.445.000; nhóm 2: 4.014.000; Nhóm 3: 5.369.000; Nhóm 4: 7.181.000; Nhóm 5: 13.920.000, khoảng cách thu nhập giữa nhóm nghèo nhất và giàu nhất ở Đồng Nai là 5,6 lần. Thu nhập nhìn chung cao hơn khá nhiều so với bình quân của cả nước, thậm chí cò cao hơn khu vực đô thị trên cả nước.
Trên thực tế khi khảo sát 1.000 hộ gia đình, mức sống của người dân hộ nghèo và cận nghèo cho thấy tổng số hộ có thu nhập bình quân trên đầu người/tháng ở mức dưới 2 triệu đồng có tỷ lệ chung là 11,7%, đây là mức thu nhập trong chuẩn nghèo hiện đang áp dụng trong cả nước. Số hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 2.000.000đ/tháng ở nông thôn là 12,6%, đô thị là 10,9% trong tổng các nhóm thu nhập. Cụ thể hơn, chỉ số này ở các địa bàn xã/phường khảo sát có xã La Ngà, Xã Lộ 25 và TT Vĩnh An có mức thu nhập bình quân/người ở mức cao với từ 16,2% - 19,2%, các xã có tỷ lệ dưới 10% là xã Trị An, TT Giầu Dây TT Long Thành và xã Bình Sơn (từ 7% - 9%).
Phân tích nhóm thu nhập theo mức sống của hộ cũng cho thấy nhiều điều thú vị, hộ nghèo chỉ có 2/11 hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng, trong khi hộ cận nghèo thì có 8/15 hộ và có 107/934 hộ bình thường có mức thu nhập ở dưới ngưỡng nghèo và cận nghèo. Có thể nhận thấy số hộ ở mức sống “bình thường” có mức thu nhập ở mức “nghèo” có tỷ lệ không nhỏ (11,5%).
Do ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế toàn cầu và Việt Nam nói riêng sau dịch Covid-19, giá cả tiêu dùng có xu hướng bị đẩy lên cao trong khi mức thu nhập bị giảm xuống. Kết quả khảo sát có 8/11 hộ nghèo cho rằng họ đang thiếu thốn trong chi tiêu, và số hộ cận nghèo là 13/15 hộ. Ngoài ra khi chịu ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế chưa phục hồi sau dịch, những khó khăn trong chuỗi sản xuất và xuất khảu khiến cho những hộ kinh tế “bình thường” cũng bị rơi vào tình trạng khó khăn với khoảng 33% còn đang thiếu thốn trong chi tiêu sinh hoạt.
Nhìn chung, đời sống của người dân tỉnh Đồng Nai trong những năm qua đang có những biến đổi toàn diện về thu nhập và điều kiện sinh hoạt. Những vấn đề đến từ khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nói chung cũng có ảnh hưởng đến đời sống của người dân, nhất là nhóm hộ nghèo và cận nghèo. Theo xu hướng chung là tình trạng khó khăn kinh tế của hộ gia đình từ những năm có ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến nay có xu hướng đi xuống, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tăng cao do áp dụng chuẩn nghèo mới, đồng thời giảm việc làm và thu nhập, chi tiêu tăng lên do những ảnh hưởng chung của thế giới.
3. Tiếp cận chính sách giảm nghèo ở tỉnh Đồng Nai
Người dân thụ hưởng chính sách giảm nghèo
Chính sách hỗ trợ cho người dân ở địa phương được bao phủ trên tất cả lĩnh vực để người dân trong hộ gia đình chính sách và đối tượng Bảo trợ xã hội tiếp cận được. Khi phân tích theo địa bàn huyện khảo sát, tỷ lệ hộ dân được tiếp cận với các chính sách hỗ trợ ở huyện Vĩnh Cửu là cao nhất, sau đó là huyện Thống Nhất, lần lượt là 18,2% và 17,5%. Các chính sách được phủ rộng theo các lĩnh vực như chăm lo an sinh xã hội, hỗ trợ vốn và cải thiện sinh kế được người dân ghi nhận và thể hiện trong các chính sách đi vào đời sống của người dân.
Thực hiện chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo và cận nghèo ở địa phương, cán bộ địa phương cho biết: “Về chất lượng cuộc sống, nhà thì nói chung là cũng không đến nỗi rách nát, nhà cấp bốn trở lên không có nhà nào tạm bợ chỉ có một số hộ nghèo có hai hộ nghèo thì hiện nay một hộ nghèo đã có nhà ở, còn một hộ nghèo là chồng chết hiện nay đang ở bên chồng cũng khó khăn thì được được Ủy ban nhân dân quan tâm, Mặt trận Tổ quốc thị trấn cũng quan tâm nhưng là hiện nay nó vướng thiếu đất chưa có sổ cho nên là chưa xây dựng được, chưa đúng quy hoạch cho nên là không thể xây cho hộ này. Bây giờ chỉ khu phố chúng tôi tới 116 hộ dân, số dân rất là đông khoảng 4250 nhân khẩu chỉ có hai hộ nghèo, còn khó khăn do tai nạn đột biến thì cũng được xã hội quan tâm nên cũng đỡ không đến nỗi” (PVS, cán bộ khu phố TT Vĩnh An, Huyện Vĩnh Cửu).
Tiếp cận BHYT hộ nghèo/cận nghèo: Theo báo cáo của UBND tỉnh năm 2023, 100% hộ gia đinh nghèo đều được chăm lo hỗ trợ BHYT. Kết quả của khảo sát cho thấy Bảo hiểm y tế hộ nghèo và cận nghèo chiếm 1,3% trong tổng số 90,5% số người hiện nay đang có thẻ BHYT.
Quá trình cho vay hộ nghèo tại NHCSXH trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2018 – 2022 cũng đã đạt được nhiều thành quả đáng kể, tuy nhiên vấn đề hiệu quả tín dụng còn thấp, số người nghèo vay vốn giảm, dư nợ tín dụng đối với người nghèo giảm sút ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người nghèo.
“Từ năm 2021 theo chuẩn mới nâng mức sống lên địa phương hiện nay là còn có khoảng 7 hộ thì chẳng hạn như có con nhỏ nhiều vì quan niệm của Công giáo là không được phá thai nên sinh ra dẫn đến tình trạng nuôi không nổi, trong những trường hợp như thần kinh không ổn định, không đi làm do bị bệnh nặng thì nó sẽ rơi vào người sẽ được hưởng đến chính sách hàng tháng” (PVS cán bộ UBND phường Tân Mai, Biên Hòa).
“Mấy cái chính sách đối với hộ nghèo hộ dân tộc thiểu số hay là hộ cận nghèo thì rất được quan tâm, những người đối tượng nghèo cận nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số, hay là những trường hợp gọi là đối tượng yếu thế trong xã hội cũng được quan tâm, được quan tâm rồi người già neo đơn” (PVS nam, trưởng ấp, xã La Ngà, H. Định Quán).
“Bây giờ 4G luôn hầu như nhà nào cũng có, không có nhà nào trừ hộ nghèo mà tại vì không phải người ta không có tiền mà là họ già và không có nhu cầu thì chỉ có những cái hộ nghèo như vậy thôi, chứ còn ngay cả hộ nghèo mà có con hay gì đó vẫn có Internet. Không thì có những hộ neo đơn một ông già một bà già thì cái đó chỉ được vài hộ thôi” (PVS cán bộ UBND phường Tân Mai, Biên Hòa).
Tiếp cận an sinh xã hội, chăm lo đời sống người dân
Địa phương có trách nhiệm chăm lo và hỗ trợ đời sống cho người dân thông qua các hoạt động trực tiếp và vận động các đơn vị, đoàn thể và tổ chức tôn giáo ở địa phương cộng tác vào các hoạt động an sinh xã hội một cách hiệu quả. Một số địa bàn nghiên cứu có sự hiện diện của nhà thờ Công giáo hoặc Chùa, việc vận dụng các nguồn lực từ phía các tổ chức tôn giáo đóng góp rất lớn cho việc chăm lo đời sống của người dân ở khu vực: việc trợ giúp các hoàn cảnh khó khăn trong giáo xứ. Địa bàn phường Tân Mai là một phường có tỷ lệ người công giáo chiếm đại đa số, có những hoạt động hỗ trợ đời sống an sinh xã hội cho người dân theo đạo và cả người không theo đạo:
“Linh mục giáo xứ vẫn có dành phần cho người nghèo, người di dân, lương dân tức là không phân biệt tôn giáo ví dụ như có cái quỹ đó chẳng hạn như cơm caritas hàng tuần nấu cơm miễn phí, cơm cháo cho những hộ nghèo là cứ lên lãnh là buổi sáng, nhà mà đông con kia, người ta không có khả năng con nuôi con người ta lên nhận xong rồi đi lấy cái tiền. Những mạnh thường quân nước ngoài cũng có, trong nước cũng có, ví dụ như là người ta lên người ta muốn ăn mua phần cơm có mười ngàn nhưng người ta bỏ năm chục ngàn đó coi như là người ta vừa ấy mà người ta giúp, lấy cái tiền đó để cho người nghèo, hàng tháng hoặc dịp lễ cha trao những phần quà cho người nghèo trong giáo xứ rồi đấy chương trình nào cũng vậy cũng mời cả nhân dân rồi những di dân, những hộ những người họ mà ở phòng trọ đi xuống đó và họ cũng được hưởng hết cha cũng phát, tức là ở trong giáo xứ hộ nghèo thì phát gạo phát đồ ăn này” (PVS nữ, người dân Phường Tân Mai, Biên Hòa).
“Thứ tư trong tuần sẽ nấu cơm 0 đồng, ban bác ái xã hội giáo xứ (Caritas) phát và hỗ trợ những người khó khăn và hộ khó khăn mỗi tháng 200 ngàn, 300 ngàn. Nói chung nhờ giáo xứ nhẹ bớt gánh nặng phần nào như chính sách của Nhà nước mình chỉ hỗ trợ một phần giáo xứ vận động những người tại chỗ hoặc là người nước ngoài cũng mạnh lắm” (PVS cán bộ phường Tân Mai, Biên Hòa).
Tuy nhiên, cũng có một số khó khăn khi triển khai chính sách hỗ trợ chăm lo đời sống người dân cũng được nêu ra thông qua ý kiến của các đại diện địa phương: “Vấn đề chính sách chăm sóc cho người dân thì địa phương cũng gặp khó khăn, chủ yếu ở đây địa phương có vận động mạnh thường quân hàng năm đón Tết và để chăm lo hộ nghèo, hộ chính sách rồi hộ có hoàn cảnh neo đơn khó khăn thì hàng năm tụi em cũng chăm lo chu đáo bà con hoặc là trên hỗ trợ theo cái quy định chủ yếu là vận động cũng có thể hứa như vậy cũng chẳng có vận động hay hoài, không tiến cho chủ đầu tư Đông Nam hàng năm như là ủng hộ cho địa phương chưa vòng giải sáng được hai năm nay thì dự án AQUA thì tên đó chỉ qua được, không thì ngưng dự án, người ta cũng cần có hỗ trợ gì” (PVS, đại diện lãnh đạo xã Long Hưng, Biên Hòa).
“Vừa rồi bên công tác mặt trận phối hợp với bên chuẩn bị tới đây xây nhà tình thương đối với hộ cận nghèo, còn riêng cái hộ nghèo đấy thì xã cũng mong muốn, riêng gia đình thì cũng có cái ý là mai mốt có người con đâu họ ở bên Bảo Lộc họ về họ sẽ đứng ra họ dựng lại cái, xây cất lại cái nhà, nhưng cái đó phải hai ý tưởng gặp nhau thì mới được, nếu mà mình bây giờ mình mà chủ động cũng không được vì bên kia họ chưa lên tiếng thì mình chắc phải chờ cái đó hai bên phối hợp với nhau” (PVS nam, người dân xã La Ngà, H. Định Quán).
Tiếp cận vay vốn
Chính sách vay vốn giảm nghèo ở Đồng Nai hiện nay nhằm hỗ trợ các hộ nghèo, hộ cận nghèo, và các đối tượng chính sách khác tiếp cận nguồn vốn để cải thiện đời sống và phát triển kinh tế với một số điểm chính:
- Chương trình tín dụng ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) tỉnh Đồng Nai cung cấp các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp cho các hộ nghèo và cận nghèo. Mức lãi suất này thường thấp hơn so với lãi suất thị trường và được thiết kế để phù hợp với khả năng trả nợ của người vay.
- Vay vốn sản xuất kinh doanh: Các hộ gia đình nghèo và cận nghèo có thể vay vốn để đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, nhằm tạo thu nhập ổn định và bền vững. Các khoản vay này thường đi kèm với các chương trình tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nghề để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn.
- Chính sách hỗ trợ vay vốn không lãi suất: Một số chương trình hỗ trợ đặc biệt có thể cung cấp các khoản vay không lãi suất hoặc lãi suất rất thấp cho các hộ nghèo. Các khoản vay này thường được triển khai thông qua các tổ chức phi chính phủ hoặc các chương trình hỗ trợ của địa phương.
- Chương trình hỗ trợ vay vốn nhà ở: Các hộ nghèo và cận nghèo có thể tiếp cận các khoản vay ưu đãi để xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở, đảm bảo có nơi ở an toàn và kiên cố.
- Vay vốn học tập: Chính sách hỗ trợ vay vốn cho con em các hộ nghèo đi học, giúp đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục và nâng cao trình độ học vấn.
- Thời gian vay và điều kiện vay: Thời gian vay thường linh hoạt, tùy thuộc vào mục đích vay vốn và khả năng trả nợ của người vay. Các điều kiện vay cũng được thiết kế để phù hợp với hoàn cảnh thực tế của các hộ nghèo, như không cần thế chấp hoặc bảo lãnh tài sản.
UBND tỉnh Đồng Nai tổng hợp kết quả trong báo cáo số: 375 /BC-UBND: Dự ước đến 31/12/2023, cho 2.510 hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo vay mới với số tiền 152.266 triệu đồng. Hỗ trợ Tết Nguyên đán 2023 cho 6.642 hộ nghèo với số tiền 7.446.720.000 đồng; 6.425 hộ cận nghèo với số tiền 4.626.000.000 đồng. Mục tiêu 2024 giảm 35% hộ nghèo A trên tổng số hộ nghèo A. Các chính sách trên ở Đồng Nai được triển khai thông qua sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, Ngân hàng Chính sách Xã hội và các tổ chức phi chính phủ, nhằm đảm bảo nguồn vốn đến được tay những người cần thiết một cách hiệu quả và kịp thời.
Thực tế triển khai, cán bộ địa phương cho biết một số hạn chế khi hộ nghèo tiếp cận nguồn vốn: “Hộ nghèo của thị trấn mà muốn cho họ vượt nghèo đấy nó có nhiều cái, một là cho họ tiếp xúc với cái nguồn của ngân hàng chính sách nếu mà họ có phương án. Đấy là cái hộ nghèo của thị trấn hiện tại là cái tại cái thu nhập mình tính toán của họ dưới cái mức cho phép thì họ rơi vào hộ nghèo, đa số là cái thu nhập của họ không ổn định. Thị trấn hiện tại bây giờ không có hỗ trợ cái nguồn vốn để cho họ chăn nuôi, bởi vì mình đang còn vận động không chăn nuôi, cho nên cái đó bỏ qua một bên, cho nên là chỉ có hỗ trợ cho họ tiếp xúc với nguồn vốn của ngân hàng chính sách để họ buôn bán nhỏ thôi, nhỏ thôi. Vay để đầu tư vào nhà cửa cho họ, hoặc là họ có con em học hành gì đó thì hỗ trợ thêm cho họ để họ bớt đi cái chi phí của họ, thị trấn chỉ có giải quyết như vậy thôi” (PVS đại diện lãnh đạo TT Định Quán, H Định Quán).
“Vay vốn như ở địa bàn thị trấn có ba đơn vị ủy thác. Một là hội nông dân, hai là cựu chiến binh, ba là đoàn thanh niên, đối tượng vay là hội viên, đoàn viên của ba tổ chức này thuộc hộ nghèo, hộ khó khăn vay theo chương trình ngân hàng chính sách xã hội thì tối đa vay vốn giải quyết việc làm được trăm triệu cho một hộ, còn lại từ 15 triệu đổ lên tùy theo nhu cầu từng hộ. Đến bây giờ thì trên địa bàn thị trấn về chương trình này thì cũng luôn luôn được quan tâm chăm sóc cũng như tạo điều kiện cho các hộ được tiếp cận nguồn vốn này, thứ nhất lãi suất thấp, thứ hai nữa là đối tượng thuộc diện khó khăn, nó không mang tính chất kinh doanh về tiền tệ như các ngân hàng thương mại khác thì tổng số vốn đầu tư cho giải ngân các hộ vay vốn cũng trên năm chục tỷ của ba đơn vị” (PVS, đại diện lãnh đạo TT Vĩnh An, Huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai,
Khả năng cải thiện đời sống của người dân ở Đồng Nai thông qua khảo sát này cho thấy cùng chiều hướng với kết quả nghiên cứu về tác động của vay vốn đến khả năng thoát nghèo của người dân huyện Trảng Bom, Đồng Nai trong các nghiên cứu trước đây. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc hộ nghèo nhận được vốn vay ưu đãi từ NHCSXH có tác động rất lớn đến cơ hội giảm nghèo của hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu, chỉ sau nhân tố nghề nghiệp của chủ hộ. Các nhân tố khác cũng góp phần tăng cơ hội thoát nghèo cho các hộ gia đình gồm: việc tham gia các hoạt động khuyến nông của địa phương, số lượng nhân khẩu trong gia đình, số năm đi học của chủ hộ cũng như diện tích đất bình quân mà hộ sở hữu. Nhân tố số người phụ thuộc và việc chủ hộ làm nông nghiệp thay vì các ngành nghề có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thoát nghèo của hộ. Như vậy, có thể khẳng định việc cho vay vốn tín dụng ưu đãi của NHCSXH đem lại tác động tích cực tới việc giảm nghèo ở địa phương. Nghiên cứu cũng góp phần khẳng định vai trò của tài chính vi mô trong công tác giảm nghèo ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Các cơ quan ban ngành cần khuyến khích, tuyên truyền cũng như có nhiều chương trình định hướng để người dân tích cực tham gia và sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng (Đỗ Thị Minh Huệ và cộng sự, 2020).
Một vài nhận định
Nhìn chung, năm 2022 là năm đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 với chuẩn nghèo thu nhập và 6 chiều dịch vụ xã hội cơ bản tương ứng với 12 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, tỷ lệ hộ nghèo năm 2022 một phần do theo chuẩn nghèo mới của chính phủ giai đoạn 2022-2025, một phần do ảnh hưởng lớn từ cú sốc toàn cầu dịch Covid-19 đã bào mòn nền kinh tế trên toàn thế giới. Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo của Đồng Nai giảm xuống còn 0,5%, trong khi tỷ lệ này của cả nước là 3,4%. Khảo sát 1.000 hộ gia đình tỉnh Đồng Nai, ghi nhận có 11 hộ nghèo và 15 hộ cận nghèo, 37 hộ chính sách, tương ứng với tỷ lệ 1.1% hộ nghèo, 1.5% hộ cận nghèo và 3.7% hô thuộc diện chính sách.
Thu nhập bình quân đầu người một tháng tính chung cả tỉnh theo giá hiện hành đạt 6.579 nghìn đồng/tháng, gấp 1,32 lần mức chung của cả nước. Khoảng cách thu nhập giữa nhóm nghèo nhất và giàu nhất ở Đồng Nai là 5,6 lần. Thu nhập nhìn chung cao hơn khá nhiều so với bình quân của cả nước, thậm chí cò cao hơn khu vực đô thị trên cả nước. Trên thực tế khi khảo sát 1.000 hộ gia đình, mức sống của người dân hộ nghèo và cận nghèo cho thấy tổng số hộ có thu nhập bình quân trên đầu người/tháng ở mức dưới 2 triệu đồng có tỷ lệ chung là 11,7%, đây là mức thu nhập trong chuẩn nghèo hiện đang áp dụng trong cả nước. Do ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế toàn cầu và Việt Nam nói riêng chưa phục hồi sau dịch Covid-19, những khó khăn trong chuỗi sản xuất và xuất khảu khiến cho những hộ kinh tế “bình thường” cũng bị rơi vào tình trạng khó khăn với khoảng 33% còn đang thiếu thốn trong chi tiêu sinh hoạt.
Đời sống của người dân tỉnh Đồng Nai trong những năm qua đang có những biến đổi toàn diện về thu nhập và điều kiện sinh hoạt. Những vấn đề đến từ khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nói chung cũng có ảnh hưởng đến đời sống của người dân, nhất là nhóm hộ nghèo và cận nghèo. Ảnh hưởng của Covid-19 là một nguyên nhân hàng đầu làm giảm đà phát triển, thậm chí ở một số lĩnh vực kinh tế hộ gia đình bị phá vỡ và khiến tỷ lệ nghèo đa chiều tăng lên ở những năm trong và ngay sau chấm dứt đại dịch. Các chính sách giảm nghèo như vay vốn cải thiện sinh kế, hỗ trợ BHYT và chăm sóc y tế, và đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung trong các địa phương ở Đồng Nai nhìn chung là đạt hiệu quả cao, đời sống người dân có sự phát triển, ổn định và hướng tới bền vững, góp phần phát huy giá trị nhân văn trong thực tiễn ở Đồng Nai nói riêng và khu vực Đông Nam Bộ nói chung.
Ghi chú: Bài viết là một phần của kết quả nghiên cứu thuộc đề tài cấp Bộ, là đề tài độc lập: “Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” do PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Thủy chủ nhiệm đề tài, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ chù trì, được thực hiện từ tháng 01/2024 – 12/2024.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tập 15.
2. Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị ngày 10 tháng 8 năm 2012.
3. Chính phủ, Nghị Định Số: 07/2021/NĐ-CP Quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025,
4. Tổng cục thống kê, Kết quả khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam năm 2022, NXB Thống Kê, 2023.
5. Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê Việt Nam 2023, NXB Thống Kê.
6. Cục thống kê tỉnh Đồng Nai, Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai 2022, NXB Thống kê, 2023.
7. Hà Minh Sơn, Vũ Bảo Quế Anh, Đỗ Nguyễn Mai Trang, Nguyễn Hồng Ngọ, Chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, 2022, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán, Số 04 (225) – 2022, tr. 5-7.
8. Phan Thị Nữ, 2012, Đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012.
9. Lê Thị Diệu Hoa, 2023, Tiếp cận nghèo đa chiều cơ hội và thách thức trong việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều đối với công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán, Kỳ 1 tháng 7 (số 243) – 2023.
10. Đỗ Thị Minh Huệ, Trần Phương Thảo, Lê Đình Hải, Phạm Thị Huệ Quyên, 2020. Tác động của việc vay vốn Ngân hàng Chính sách Xã hội đến khả năng thoát nghèo của các hộ nghèo ở huyện Trảng Bom, Đồng Nai, VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 36, No. 4 (2020) 61-69.
12. https://thongke.molisa.gov.vn/
13.https://sldtbxh.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=1728&CatId=51
14.https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Nghi-dinh-07-2021-ND-CP-quy-dinh-chuan-ngheo-da-chieu-giai-doan-2021-2025-463908.aspx
(1) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tập 15, trang 62.
(2) Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị ngày 10 tháng 8 năm 2012

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét