Tóm tắt: Cầu mưa là một lễ thức gắn với sản xuất nông nghiệp phổ biến ở hầu hết các tộc người Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, trong đó có dân tộc Hrê. Đồng bào Hrê tin rằng hạn hán là do thần trừng phạt con người vì họ đã có một hành động nào đó xúc phạm đến thần linh. Vì thế, để có mưa thì phải làm lễ cúng cầu xin các vị thần xoá tội và cho xuống những cơn mưa.
Người Hrê khá thuần thục trong canh tác lúa nước và đã có một số công trình thuỷ lợi như đập bổi, mương dẫn nước. Vì vậy, trong các lễ thức cầu mùa người ta cũng cầu xin các thần linh giữ cho các công trình thuỷ lợi khỏi bị hư hại vì mưa lũ.
Trong hệ thống thần linh của người Hrê, vị thần chịu tính nhiệm làm ra mưa chính là thần tối cao Yhoắc, có 2 vị thần phù trợ là Voray (gió mưa) và Pychuy (sấm sét).
Tuy nhiên, thần mưa-sấm sét cũng là một kẻ mang tính khí con người, có khi ông ta làm mưa theo lệnh đấng tối cao, nhưng có khi lại làm ra mưa theo cảm hứng của riêng mình. Tin như thế nên nếu khi cúng cầu mưa không hiệu quả, đồng bào lại có những nghi thức chọc giận thần mưa-sấm sét và tin rằng vì bị chọc giận nên thần sẽ “giáng” cho trần thế một cơn mưa (vì mưa, đối với con người cũng có thể là một tai hoạ), vô tình giúp con người giải được hạn hán.
Từ khoá: Hrê, Quảng Ngãi, Ba Tơ, Cầu mưa.
I. Lễ cầu mưa (Tajeo plinh me) trong đời sống của người Hrê
Cầu mưa, cầu đảo là một lễ thức gắn với sản xuất nông nghiệp, phổ biến ở hầu hết các tộc người Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ. Sống trên một địa bàn thời tiết khắc nghiệt: mùa mưa chỉ kéo dài 3 tháng nhưng lại chiếm phần lớn lượng mưa hàng năm với nhiều trận mưa dữ dội, kéo dài nhiều ngày, gây lũ lụt, tàn phá đất đai, hoa màu, nhà ở, sạt lở núi. Bình quân hàng năm có từ 5-7 trận lụt và hầu như năm nào cũng có người chết vì lũ lụt, lở núi. Mùa nắng kéo dài trong 9 tháng còn lại và đây là thời gian thường xuất hiện những đợt hạn hán. Có khi, trong một năm, mùa nắng thì xảy ra hạn hán nghiêm trọng rồi tiếp đến lại là mùa mưa với nhiều trận lũ lớn. Hạn hán, lũ lụt kéo theo hậu quả đáng sợ là mất mùa, đói kém. Trong quá khứ, do bộ máy quản lý của nhà nước phong kiến chưa với tới, hoặc chỉ quản lý một cách lỏng lẻo, nên hầu như không có một tài liệu nào đề cập đến những vụ mất mùa, đói kém, chết người vì thiếu ăn, nhưng trong thực tế hạn hán, lũ lụt, nạn đói là một nguy cơ đe doạ thường xuyên đối với đồng bào các tộc người miền Tây Quảng Ngãi nói chung và người Hrê nói riêng.
Do trình độ sản xuất còn thấp kém, gieo trồng, chăn nuôi chủ yếu dựa vào diễn biến tự nhiên của thời tiết mà rất ít có tác động của con người nhằm hạn chế những bất lợi của các hiện tượng thiên nhiên nên tác hại của hạn hán, lũ lụt được đồng bào coi như một thứ tai hoạ mà con người hoàn toàn không thể ngăn ngừa.
Chính khi con người thấy mình bất lực trước tự nhiên như vậy, họ quay ra vin nhờ vào các thế lực siêu nhiên, huyền bí. Đồng bào Hrê tin rằng hạn hán là do thần trừng phạt con người vì họ đã có một hành động nào đó xúc phạm đến thần linh. Vì thế, để có mưa cộng đồng phải có lễ xin các thần xoá tội, cho phép thần mưa đổ xuống những cơn mưa để cứu vớt con người và muôn vật.
Người Hrê thuộc số ít tộc người ở miền Tây và Tây Nguyên đã khá thuần thục trong canh tác lúa nước và đã có một số công trình thuỷ lợi phục vụ việc lấy nước cho ruộng lúa như đập bổi, mương dẫn nước. Vì vậy, trong các lễ thức cầu mùa (cúng máng nước, xuống giống, cầu mưa...) người ta cũng cầu xin các thần linh giữ cho các công trình thuỷ lợi khỏi bị hư hại vì mưa lũ.
Trong hệ thống thần linh của người Hrê, vị thần chịu trách nhiệm làm ra mưa là thần tối cao Yhoắc. Thần tối cao có 2 vị thần phù trợ là Voray (gió mưa) và Pychuy (sấm sét). Cũng có khi Yhoắc , Voray, Pychuy đồng nhất làm một, tuy nhiên, trong lễ cúng cầu mưa, con người không chỉ cầu đấng tối cao, thần mưa-sấm sét mà còn xin đến tất cả các vị thần, cả những vị ở tầng cao, lẫn những vị ở bên họ như thần núi, thần cây cao, thần tảng đá, thần thác nước... Người H’re tin rằng cầu khẩn như thế là làm đẹp lòng tất cả các vị thần, để các vị đồng tình ban nước mưa cho hạ giới.
Tuy nhiên, thần mưa-sấm sét cũng là một kẻ mang tính khí con người, có khi ông ta làm mưa theo lệnh đấng tối cao, nhưng có khi lại làm ra mưa theo cảm hứng của riêng mình, nhất là khi bị tức giận, trêu ngươi. Tin như thế nên nếu khi cúng cầu mưa không hiệu quả, đồng bào lại có những nghi thức chọc giận thần mưa-sấm sét và tin rằng vì bị chọc giận nên ông ta sẽ “giáng” cho trần thế một cơn mưa (vì mưa, đối với con người cũng có thể là một tai hoạ), vô tình giúp con người giải được hạn hán.
Như vậy, có 2 “cách thức” để có mưa là cầu đảo (cầu xin mưa) và “chọc giận” thần mưa. Tuy nhiên, nếu như ở người Ba Na, Giẻ Triêng, Xê Đăng, cúng cầu mưa và tiến hành nghi thức chọc giận thần mưa là 2 hình thức riêng biệt, không gắn liền về mặt lễ thức, thời gian, thì ở người Hrê 2 lễ thức nầy gắn trong một cuộc lễ, nghĩa là người ta vừa cầu xin vừa chọc giận thần mưa ngay trong một buổi lễ. Đây là một trong những nét riêng, phân biệt lễ cầu mưa của người Hrê với các tộc người khác trong vùng miền Tây-Tây Nguyên. Phải chăng, đối với cư dân đã quen canh tác lúa nước, nhu cầu mưa trở nên cần thiết, gấp gáp hơn các tộc người chủ yếu sống dựa vào nương rẫy, trồng tỉa.
II. Khái lược về dân tộc Hrê
II.1 Địa bàn cư trú, tên gọi, dân số
Người Hrê thuộc nhóm dân tộc nói tiếng Môn-Khơme (thuộc ngữ hệ Nam Á), là một trong ba dân tộc ít người cư trú lâu đời trên địa bàn vùng cao tỉnh Quảng Ngãi. Theo “Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam”, người Hrê có số dân xếp thứ 19 trong tổng số 54 dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Trừ một số ít cư trú ở các huyện Kông-Plông (Gia Lai), An Lão (Bình Định) vào khoảng dưới một ngàn người ở Ninh Thuận, số đông người Hrê sống ở vùng núi thấp thuộc lưu vực các sông Rvá, sông Liêng, sông H’re,...
Theo kết quả điều tra dân số năm 2019, ở Quảng Ngãi có 149.460 người Hrê (chiếm hơn 70% dân số các dân tộc ít người và hơn 8% dân số toàn tỉnh), cư trú chủ yếu, lâu đời ở ba huyện miền núi Ba Tơ, Minh Long và Sơn Hà.
Trước đây, người Hrê có các tên gọi phiếm xưng là Thượng Đá Vách, Thượng Ba Tơ, Mọi Chàm, Mọi đồng, giống Thanh Cù, Mọi Sơn Phòng, Chăm Rê, Chom, Krẹ Luỹ... Những tên gọi nầy vừa thiếu đứng đắn vừa không chính xác, không được đồng bào chấp nhận.
“Danh mục thành phần các thành phần dân tộc Việt Nam” (Tổng cục Thống Kê) và nhiều tài liệu thịnh hành định danh dân tộc nầy là Hrê). Tuy nhiên đồng bào tự nhận mình là H’re (Hơre). Đây cũng là cách gọi phổ biến trong dân gian ở Quảng Ngãi. Tên gọi có nguồn gốc từ con sông H’re, một hợp lưu ở thượng nguồn sông Trà Khúc, chảy qua địa bàn cư trú chủ yếu của tộc người. Còn có cách gọi tắt khá phổ biến là người Re, sông Re. Trong tham luận này, chúng tôi dùng tên gọi là Hrê theo “Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam” đồng thời cũng ghi chú như trên để thể hiện quan điểm của người nghiên cứu.
II.2 Tổ chức làng, tập tục, tín ngưỡng:
II.2.1 Tổ chức làng
Đại bộ phận người Hrê sống ở vùng đồi núi thấp (độ cao trung bình 400m so với mực nước biển) dọc theo lưu vực các sông nhỏ đầu nguồn, lấy kinh tế trồng lúa nước làm nghề chính nhưng do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, năng suất lúa thấp, nên phải làm thêm nương rẫy, săn bắt, đánh cá, và một số rất ít làm nghề thủ công (rèn, dệt, đan lát).
Các gia đình người Hrê sống quần tụ theo Plây (tương đương làng của người Việt). Plây gồm nhiều ngôi nhà sàn, cư trú một hoặc nhiều thế hệ, được hình thành gần nương rẫy, nguồn nước và đảm bảo các tiêu chuẩn quang đãng, cao ráo, không quá dốc, tương đối bằng phẳng. Đồng bào quan niệm những nơi có nhiều cây to, rậm rạp là nơi hay có ma quỷ, nên trong khu vực Plây và lân cận ít thấy cây cổ thụ.
Plây là một mô hình văn hoá sinh động, chứa đựng nhiều yếu tố thẩm mỹ: chặt chẽ, cân đối, hài hoà, thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp nhà cửa, đường sá, vườn tược, cấu trúc các ngôi nhà... Chạy dọc theo chiều dài các Plây là một trục đường chính, từ đó toả ra hàng loạt những con đường nhỏ dẫn đến mỗi ngôi nhà, hoặc cụm nhà. Plây bố trí theo mô hình xương cá khi tạo lập trên một gò đồi tương đối bằng phẳng, có dường chính chạy xuyên qua làng và những con đường nhỏ toả ra hai bên đường chính. Plây có mô hình cánh cung khi các nhà xây dựng theo sườn đồi, có đường chính chạy quanh làng, những con đường nhỏ dẫn vào sâu trong làng cùng theo một hướng.
Đồng bào còn có tập quán rào làng, rào vườn nên khi nhìn vào khung cảnh chung của Plây, ta có cảm giác vừa chặt chẽ, vừa độc lập, tách biệt. Kiểu cấu trúc nầy cho thấy hình thức sinh hoạt gia đình cá thể của người Hrê đã hình thành từ lâu và đã khá bền vững.
Đứng đầu các Plây là người chủ làng (Krăk plây). Chủ làng có thể là người của dòng họ gốc (có công lập làng) cha truyền con nối, nhưng cũng có thể được bầu lên theo định kỳ. Nhưng dù được chọn ra bằng hình thức nào, chủ làng phải là người có uy tín, đức độ, tài năng, am hiểu phong tục, tập quán, địa giới, tín ngưỡng của làng. Người đàn ông này thay mặt cộng đồng quản lý đất đai, điều hành công việc chung của làng, giữ vị trí chủ chốt trong các buổi lễ, giải quyết những mâu thuẫn nội bộ, tiếp xúc, quan hệ với làng lân cận... Ông cũng là người giỏi phát rẫy làm nương để nuôi sống bản thân và gia đình mà không dựa vào bất cứ sự cung phụng nào của dân làng.
Không kể một số ít các Krăk plây bị phong kiến-thực dân lừa mị, xúi giục, đã tìm cách chiếm đoạt của cải, nuôi người phục dịch (hpoong), hầu hết các chủ làng đều là người có đạo đức, yêu mến và sẵn sàng che chở cho các thành viên trong làng mình, và vì vậy họ rất được mọi người nể trọng, kính phục.
Ngày nay Đảng và nhà nước ta đã có chính sách quan tâm đáng kể đến đồng bào miền núi, vùng cao. Tổ chức Đảng, bộ máy hành chính và đoàn thể các cấp đã không ngừng được kiện toàn và phát huy tác dụng tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Tuy vậy, bộ máy tự quản của các plây dựa trên cơ sở luật tục vẫn tiếp tục tồn tại ở nhiều vùng và có ảnh hưởng đáng kể đến nhiều lĩnh vực đời sống đồng bào.
II.2.2. Tập tục, tín ngưỡng
Người Hrê nằm ngủ ngang sàn nhà, đầu quay về phía đất thấp, bên trái là đầu nhà dành cho đàn ông và tiếp khách, phần cuối nhà dành cho phụ nữ và trẻ con.
“Làng ma” là sự tưởng tượng của đồng bào về cuộc sống ở thế giới bên kia với những linh hồn người chết biến thành “ma” và sống nơi đó. Mọi sinh hoạt giống như thế giới người sống, nhưng đêm là ngày, cỏ là lúa... trái ngược với cõi trần.
Theo người Hrê đàn ông có 7 hồn, đàn bà có 9 hồn, loài vật cũng có hồn. Cây cổ thụ, hòn đá, con suối, con rắn xanh là những nơi có thể tàng ẩn ma quỷ. Có những thần linh, ma quỷ liên quan đến trẻ con nên chúng thường được cho đeo trước ngực một cái ngải để ma quỷ không làm hại.
Giấc chiêm bao, điềm báo trên giò gà, hắt hơi, vấp chân là những điều rất được quan tâm và có thể ảnh hưởng đến công việc lớn mà bà con đang thực hiện như làm nhà, phát rẫy...
Các lễ thức để tôn xưng hồn lúa đặc biệt được coi trọng. Người đàn bà vợ của chủ nhà được xem như chủ lúa và có quan hệ thần bí với hồn lúa. Trong lễ cúng cơm mới, bà ta lấy lúa từ ruộng rẫy về rang, giã gạo, nấu cơm rồi chịu lễ và một mình ăn cơm thổi trong nồi thiêng. Cũng chính bà mới được tỉa lúa làm phép, đem gùi lúa đầu tiên về cho vào chòi lúa của gia đình.
Đối với người Hrê việc thờ cúng tổ tiên (vaha) phức tạp hơn so với người Kor và người Xơ đăng. Đồng bào quan niệm ông bà cha mẹ sau khi chết biến thành ma nhà (hanim). Ma nhà được con cháu cho ở trên những pơrăng (tấm tre đan) treo sát mái nhà, hoặc các Kả lả dơroong (bàn thờ bằng những pơrăng) dựng trên mặt đất phía sau nhà. Mặt tiếp sau cửa nhà ở của người Hrê được trổ ba đến bốn cửa sổ nhỏ, gọi là Mooc gao để cho ma nhà có thể bay ra bay vào. Ma nhà có thể phù hộ hoặc làm hại con cháu tuỳ theo cách con cháu thờ cúng, đối xử. Thỉnh thoảng, ma cũng đòi ăn nên phải cúng.
Đối với người Hrê tất cả các hình thức thờ cúng (cúng người ốm, cúng khi sinh đẻ, cúng tạ ơn trời đất, cúng chuồng trâu) đều dùng bàn thờ bằng tre nứa hình vuông, kích thước 15-20cm gọi là pơrăng. Pơrăng đặt nằm hay dựng đứng trên mặt đất gọi là “ka lả dơroong”, pơrăng treo trên cửa, trần nhà là “ka lả hoang”. Trên mỗi pơrăng có 4 que nhỏ sắp thành hình bình hành, que thứ 5 bắt chéo qua, mỗi que xâu một lá mít hình trôn ốc (bôn) để đựng vật phẩm cúng tế như men rượu, lúa, lồng gà, cơm gạo.... Đặc biệt, loại pơrăng hình thoi gọi là kheo, được dùng trong lễ cúng cầu mưa, với lễ vật là hai nửa quả trứng đặt trên đó.
III. Lễ cúng Tajeo plinh me (cầu mưa, cầu đảo) của người Hrê ở Plây Gò Ôn
III.1 Vài nét về plây Gò Ôn
Plây Gò Ôn thuộc xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, nằm trong vùng cư trú lâu đời của đồng bào H’re.
Gò Ôn nằm cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 52 km về phía Tây Nam, cách huyện lỵ Ba Tơ 10 km về phía Đông Bắc, cách trung tâm xã Ba Thành 3 km về phía Tây Bắc.
Diện tích tự nhiên của vùng ước chừng 20 ha, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Minh Long và huyện Nghĩa Hành, phía Nam giáp xã Ba Vinh, phía Đông giáp làng Huy Ba (cùng xã Ba Thành); địa hình nhấp nhô núi đồi, thung lũng, chia cắt bởi nhiều khe, suối. Những ngọn núi có độ cao trên 100m là Gò Oóc, Gò Gồi, Gò Kép. Con suối lớn chạy dọc theo vùng cư trú là suối Gò Ôn, góp nước từ nhiều khe nhỏ, đổ về sông Liêng, một trong những hợp lưu của sông Vệ. Suối Gò Ôn có nhiều vực sâu như vực Cây Đa (H’loang Zơri), vực Lũng Ồ (H’loang Lũng Ồ) là những nơi trước đây thường diễn ra lễ hội cầu mưa của làng.
Mặc dù trong vài mươi năm trở lại đây do tình trạng phá rừng, đốt rừng (lấy gỗ, củi, làm nương rẫy, trồng cây công nghiệp...) diện tích rừng tự nhiên trong vùng đã suy giảm đáng kể, song đó đây vẫn còn nhiều vạt rừng tự nhiên khá rậm rạp, chủ yếu là ở triền các ngọn núi cao. Nhờ sự hỗ trợ của các chương trình phát triển KT-XH, diện tích rừng trồng (chủ yếu là cây keo lai) cũng đã tăng lên đáng kể, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, góp phần ổn định đời sống đồng bào miền núi, vùng cao.
Dân số trong làng ước chừng 500 người (khoảng gần 100 hộ). 100% là người dân tộc H’re. Người Gò Ôn sống chủ yếu bằng nghề canh tác lúa nước trên những ruộng bậc thang chân núi và bãi bồi hẹp ven suối Gò Ôn, kết hợp với hái lượm, làm nương rẫy.
Trong làng hiện nay vẫn còn một số nhà sàn xây dựng theo kiểu cổ truyền của người H’re; một số nhà đã thay mái tranh bằng mái ngói. Chạy theo đường liên xã mới nâng cấp, một số gia đình làm ăn khá giả đã xây dựng nhà kiên cố (cấp III) theo kiểu đồng bằng. Hầu hết các gia đình đã xây dựng chuồng nuôi gia súc cách xa nhà ở, giếng nước, nhưng vẫn còn một số hộ còn nuôi lợn thả rông. Ngoài chòi thóc xây dựng trong vườn, một số gia đình còn dựng chòi củi (để dự trữ chất đốt) liền sát với nhà ở.
Có gần 100% số hộ ở Gò Ôn đã sử dụng điện lưới quốc gia, có công trình vệ sinh, nước sạch, tuy vậy tình trạng dùng nước suối để nấu ăn và sử dụng trong sinh hoạt vẫn chưa chấm dứt.
Từ khoảng nửa thế kỷ XX trở lại đây, đặc biệt là sau ngày giải phóng, do những chuyển biến tích cực trong đời sống; nhiều tục lệ cúng bái rườm rà, nặng màu sắc dị đoan, tốn kém thời gian; tiền của; nạn nghi cầm đồ, thuốc độc đã được xoá bỏ. Tuy vậy cộng đồng dân cư và các gia đình vẫn còn giữ một số lễ thức gắn liền tín ngưỡng và sinh hoạt, như lễ cúng trâu, lễ tết (H’ten), lễ ăn mừng lúa mới, lễ cúng máng nước... Riêng lễ hội cầu mưa, lần tổ chức sau cùng, theo trí nhớ của các già làng, cách nay (2024) đã gần nửa thế kỷ.
Về quản lý xã hội, từ sau ngày giải phóng, đã hình thành tổ chức thôn (với việc phân chia ranh giới không hoàn toàn trùng khớp với hình thức cư trú theo Plây truyền thống), và các khu dân cư, nhưng các già làng (Prak Plây) vẫn được dân làng trọng vọng và có vai trò đáng kể trong cộng đồng. Các Padâu (thầy cúng) không còn hành nghề như trước mà chủ yếu là người hướng dẫn, giúp đỡ cho cộng đồng và các gia đình về mặt nghi thức trong các dịp cúng bái, lễ lạt.
III.2 Lễ cúng Tajeo plinh me
III. 2.1 Lễ vật: Lễ vật trong lễ Tà reo Bìnme gồm có:
- 1 con gà lông đen mới biết gáy
- 1 con lợn lông đen tuyền 1 gạt[1]
- 1 trứng gà mới đẻ
- Rất nhiều trầu không, cau, thuốc lá
- Sáp ong để thắp sáng (như đèn cầy trong lễ cúng của người kinh)
- Trầm hương
- 1 ché rượu càrỏ làm bằng gạo.
Những lễ vật này làng chuẩn bị và mang tới nhà chủ lễ từ đêm hôm trước.
Ngoài ra, khi đến dự lễ, mỗi người trong làng mang theo một chai rượu và một lon gạo.
Còn có một tế vật không thể thiếu, đó là một chiếc ché nhỏ hoặc một cái nồi đất lấy từ khu nhà mồ của làng. Chiếc ché (hoặc nồi đất) nầy là của được chia phần cho người chết theo tập tục.
III.2.2 Thời gian, địa điểm và đàn lễ
Lễ Tàreo Bìnme thường tổ chức vào khoảng tháng 5-6 (dương lịch) vì đây là thời điểm giữa mùa, nắng nóng nhất trong năm, lúa nước, lúa rẫy đều đã xuống đồng và rất đang cần nước.
Nơi tổ chức lễ Tajeo plinh me là một vực nước nào đó của con suối chính hoặc dòng sông con chạy qua làng. Vực nước nầy thường là nơi vắng vẻ, trên bờ có những cây cao, có bãi cát, hoặc bãi đất đá, tương đối bằng phẳng để hành lễ.
Ở Gò Ôn các vực nước thường được chọn làm nơi diễn ra lễ Tàreo Bìnme là H’loong Zơni (vực Cây Đa), H’loong Lãng Ồ,... Đây là những nơi khung cảnh thiên nhiên còn hoang vắng và đồng bào tin là vùng đất thiêng, các vị thần thường lai vãng.
Cũng như nhiều lễ cúng khác của đồng bào Hrê, đàn lễ được chuẩn bị khá đơn giản. Người ta chọn 1 nơi bằng phẳng trên bờ vực rồi làm các Kheo (một loại pơrăng đặc biệt dùng cho lễ cầu mưa) và đặt lên đó 2 nữa quả trứng, 1 con gà đen, trầu, cau, thuốc rượu, trầm hương. Lợn thì đặt trên mặt đất ngay phía dưới các kheo.
III.2.3 Chủ lễ
Chủ lễ là người được hội đồng già làng chọn lựa để thay mặt cả plây cầu khẩn thần linh, xin nước, xin mưa, cầu cho các con đập vững bền, ruộng nương không bị hư hại.
Như đã trình bày ở các phần trên, hình thái kinh tế-xã hội của người Hrê đã có bước chuyển biến đáng kể từ một xã hội công xã thị tộc để chớm bước vào xã hội tư hữu với các dấu hiệu về vai trò của gia đình 2 thế hệ, sự hình thành lúc đầu của một số người giàu có, nhiều của cải hơn số đông còn lại trong thị tộc,... Từ đó, các hình thức cúng bái cũng phân lập thành 2 nhóm: nhóm các lễ cúng tiến hành trong phạm vi gia đình và nhóm các lễ hội cộng đồng. Lễ hội cầu mưa là một trong số không nhiều những lễ thức cộng đồng trong đó người đàn ông giữ vai trò quan trọng mà không phải người phụ nữ như ở các lễ cúng gia đình.
Riêng trong lễ cúng Tajeo plinh me, thay mặt cho dân làng tiến hành nghi thức “chọc giận” thần mưa Voray là một người tương đối có hoàn cảnh đặt biệt. Ông ta là người có hoàn cảnh neo đơn, hoặc là người già yếu. Đồng bào tin rằng, hành động chọc giận thần linh có thể phải gánh chịu sự trả thù lên chính đối tượng trực tiếp thực hiện hành động đó và cả gia đình. Vì thế, nếu là người mồ côi, neo đơn, thì hậu quả sẽ giảm nhẹ đi nhiều.
III.2.4 Thầy cúng và lời khấn
- Thầy cúng (padâu) là người chịu trách nhiệm về toàn bộ các nghi thức trong lễ cúng.
Người Hrê cho rằng chỉ có các padâu (thầy cúng) mới biết cách tiến hành các nghi lễ cúng bái.
Padâu ăn ở, làm việc bình thường như mọi người, nghĩa là xã hội Hrê chưa hình thành giới thầy cúng chuyên nghiệp, chuyên hành nghề cúng tế và thoát ly lối sống, công việc của một người bình thường. Tuy nhiên, sự xuất hiện của padâu cho thấy các nghi lễ cúng bái của người H’re đã trở nên phức tạp hơn, các vị thần linh trong hình dung của họ cũng đã bắt đầu “phân tầng” như chính xã hội họ đang sống.
Trong buổi lễ, thầy cúng là người đọc lời khấn (không có văn chuẩn bị từ trước) trong đó nhắc đến các thần linh trong hệ thống tín ngưỡng của người Hrê, trước hết là vị thần tối cao Yhoắc và 2 vị thần phù trợ Voray (gió mưa) và Pychuy (sấm sét). Ngoài ra còn có thần thiên nhiên (sông, núi, suối, vực, cây cao, tảng đá…), các vị thần trong nhà và vườn (thần bếp, thần trông kho thóc, thần trông coi súc vật, thần trông nhà,,,), các vị thần liên quan đến sản xuất (thần con mương, thần con đập, thần giữ rẫy…)
Thầy cúng thay mặt dân làng và chủ lễ kể lể hoàn cảnh khó khăn về đời sống, sản xuất vì trời nắng gắt nhiều ngày. Ông cũng xin lỗi các thần linh vì có ai đó trong làng đã làm cho các vị thần không vừa lòng nên đã trừng phạt dân làng bằng cách không cho mưa xuống trần gian. Ông cầu xin thần Y hoắc, thần Voray, thần Pychuy và các vị thần linh cho người làng những cơn mưa. Mưa to, sấm sét, ngập bờ, ngập ruộng nhưng không làm hại cho cây lúa, không làm con đập, con mương bị hư hại.
Giọng đọc của padâu khi trầm khi bổng, nhiều khi hú hét thành cao trào rất ấn tượng, hoà theo là tiếng hét của đàn ông, trai tráng trong làng, nhất là khi ông nhắc đến các vị thần ác (như các vị thần gây ra ôn dịch, bệnh tật) cần phải xua đuổi khỏi nguồn nước, nơi cư trú của cộng đồng.
III.2.5 Kiêng cữ trước và trong lễ
Như đã trình bày trên, lễ cúng cầu mưa là một nghi thức có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng cư dân nông nghiệp trong bối cảnh đời sống và sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào biến động của khí hậu, thời tiết; đồng thời cũng là một nghi lễ không tiến hành theo chu kỳ hàng năm mà chỉ được tổ chức trong trường hợp xảy ra hạn hán nghiêm trọng, kéo dài. Vì vậy, những quy định về kiêng cử trong lễ cúng cầu mưa rất nghiêm ngặt, đòi hỏi cả cộng đồng phải tuân thủ trong suốt quá trình từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc cuộc lễ.
Người ta tin rằng, chỉ cần xảy ra một khinh suất của ai đó trong cộng đồng cũng sẽ khiến cho các vị thần bất mãn và cuộc lễ không những không mang lại kết quả như mong muốn mà lắm khi tai hoạ còn giáng xuống cho con người do thần linh tức giận hoặc bất mãn.
Vực nước thiêng nơi diễn ra cuộc lễ vốn được mọi người xem là chốn thiêng liêng, là nơi trú ngụ của thần nước và là nơi thường lui tới của các vị thần nên quanh năm hầu như không có người tắm rửa, giặt giũ, đến thời kỳ chuẩn bị lễ cúng cầu mưa, những điều kiêng kỵ nầy lại càng trở nên nghiêm ngặt, có sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng.
Trước đây, các plây (làng) của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, người H’re nói riêng sống tương đối độc lập, vì vậy trong nhiều nghi lễ mang tính cộng đồng, do từng plây tổ chức, người ta không để người lạ vào làng và người trong làng cũng không được ra ngoài trong ngày diễn ra nghi lễ. Lễ cúng cầu mưa cũng không ngoại lệ. Người trong làng vi phạm quy định nầy sẽ bị xử phạt rất nặng, còn người ngoài làng, người lạ sẽ bị ngăn cản nếu vô tình đi vào làng, còn trong trường hợp cố tình vi phạm do tính hiếu kỳ hoặc do một động cơ nào khác thì sẽ bị bắt giữ và hình thức xử lý sau đó thường rất nghiệt ngã, nhất là khi cuộc lễ không mang lại kết quả như người làng mong muốn.
Ngày nay do những chuyển biến trong đời sống và trong nhận thức, những quy định về kiêng cử khắt khe trước đây đã thay đổi, giảm lược đi nhiều, các hình thức xử phạt nghiệt ngã cũng được dần dần xoá bỏ. Tuy nhiên, quy định về bảo vệ sự thanh sạch của vực nước Thiêng vẫn được bảo lưu. Những hạn chế về sự có mặt của người lạ vẫn được duy trì trong khu vực hành lễ.
III.2.6 Chuẩn bị
Lễ Tajeo plinh me thường được tiến hành chính thức vào lúc quá trưa, khi trời còn nắng gắt. Tuy nhiên việc chuẩn bị được bắt đầu từ trước đó nhiều ngày. Đầu tiên là các già làng họp lại để bàn bạc, xem xét đã đến lúc cầu mưa hay chưa: nếu thấy cần thiết thì quyết định tổ chức và thông báo quyết định nầy cho tất cả các thành viên trong làng được biết.
Việc tiếp theo là phân công chuẩn bị, chọn người chủ lễ, mời padâu, lựa chọn địa điểm, quyết định ngày hành lễ.
Từ thời điểm nầy, mỗi thành viên của làng đều có ý thức giữ gìn lời ăn tiếng nói, cách ứng xử theo đúng tập tục của làng và cầu mong các thần linh sẽ tề tựu đông đủ để ăn lễ và nghe lời cầu nguyện của làng. Người ta tin rằng, càng thành tâm và giữ đúng tập tục sẽ làm cảm động các thần linh và lời cầu nguyện trong buổi lễ sẽ được các thần ghi nhận, được cho mưa để giải hạn.
Vào đêm trước ngày hành lễ, các lễ vật đã được tập trung về tại nhà chủ lễ. Bản thân người chủ lễ và người chịu trách nhiệm hành động chọc giận thần linh cũng đã đến khu nhà mồ của làng để chọn chiếc ché, hoặc chiếc nồi đất sẽ đem ra dùng trong khi hành lễ. Trong khi đó các già làng sẽ kiểm tra lần cuối các lễ vật.
Suốt cả buổi sáng hôm đó, dưới sự điều hành của các già làng và tư vấn của padâu, người ta phát dọn, chuẩn bị nơi hành lễ, tập trung về một địa điểm đã chọn sẵn (vừa gần nhà chủ lễ vừa thuận đường đến vực nước sâu – nơi hành lễ) để chuẩn bị lễ vật, thịt gà, lợn, làm các pơrăng. Đội cồng chiêng cũng đã tề tựu để tập luyện.
III.2. 7 Lễ chính
Mọi sự chuẩn bị hoàn tất vào lúc giữa trưa.
Lúc nầy, đoàn người bắt đầu xuất phát từ nhà chủ lễ để đi đến nơi hành lễ. Đi đầu là những người mang lễ vật, kế đó là padâu, tiếp theo là chủ lễ, các già làng đi liền sau. Rồi đến đội cồng chiêng và các thành viên trong làng. Mọi người vận trang phục nghi lễ: đàn ông đóng khố (pen), mặc áo (ao) cộc tay hở ngực, bên ngoài là tấm vải choàng (kabon) màu đỏ quàng chéo từ vai bên nầy xuống hông bên kia, đầu đội khăn (nu). Riêng vải choàng của padâu thì có màu xanh. Phụ nữ diện áo cánh nhiều màu, vận váy đẹp, màu chàm hoặc đen, thêu hoa văn, đầu đội khăn nhiều nếp gấp.
Khi mọi người tề tựu đông đủ tại bãi đất dùng làm đàn tế bên cạnh vực nước thiêng, theo sự hướng dẫn của padâu, các già làng, có sự hỗ trợ của trai tráng bày dọn lễ vật để cuộc bắt đầu.
Về hình thức, lễ cúng cầu mưa gồm 2 phần chính, đi liền nhau là: cầu xin thần linh cho mưa và chọc giận thần mưa. Ngoài ra còn có những nghi thức quen thuộc khác đối với một lễ cúng: xin phép được cúng, xin ngày cúng (trước khi cúng) và tạ ơn, tạ tội (sau khi cúng). Sở dĩ có việc tạ tội là do trước đó đã “chọc giận thần mưa”.
- Lễ cầu mưa: Đây là nghi lễ cầu xin thần Yhoắt và 2 vị thần pho trợ Voray (Gió mưa), Pychuy (Sấm sét) cho mưa xuống trần gian, đồng thời bảo vệ các đập nước, máng nước và mương dẫn nước vào ruộng.
Bắt đầu cuộc lễ, các già làng trưng bày lễ vật trên 2 Pơrăng, đốt sáp ong, trầm hương. Tiếp đến đội cồng chiêng tấu lên một hồi chiêng lễ.
Trong nghi ngút khói trầm hương, Padâu sẽ thay mặt chủ lễ và cả làng đọc lời khấn thần Yhoắt, thần Voray và thần Pachuy cùng các vị thần núi, thần suối, thần cây cao, thần tảng đá..., xin các thần về ăn lễ và nhận lời cầu xin của dân làng cho mưa xuống trần gian, giữ gìn đập, máng vững bền. Gần cuối phần lễ, Padâu và chủ lễ lấy bầu rượu cúng thần vẩy tung lên trên mặt đất trong tiếng cầu khấn lâm râm, với ý tưởng mong nước mưa rơi xuống mặt đất, nhuần thấm cỏ cây.
Các già làng cũng dùng bầu rượu mà mình mang theo, làm theo Padâu. Trong yên lặng thiêng liêng, người ta tưởng vọng, mong ước được mưa thuận gió hoà, mùa màng xanh tốt, cuộc sống sinh sôi.
Phần lễ cầu mưa kết thúc sau khi đội cồng chiêng tấu lên một đoạn nhạc để mọi người nhảy múa cảm tạ thần linh.
- Nghi thức chọc giận thần mưa: Đồng bào quan niệm việc chọc giận thần mưa Voray là để vị thần nầy tức giận trút mưa xuống trần gian, vô tình cho con người được giải hạn.
Tiếp theo lễ cúng cầu mưa là nghi thức chọc giận thần mưa. Trong phần nghi thức nầy, người đàn ông được chọn lựa sẽ dùng một đoạn dây thừng cột vào chiếc ché đất nung, hoặc chiếc nồi đất rồi ném xuống vực; trong khi đó những người khác cùng la hét, đánh chiêng tạo ra không khí náo nhiệt, quấy động cả một vùng. Đồng bào tin rằng làm như vậy để thần mưa từ trên cao nhìn thấy con người đang chòng ghẹo người tình của mình là thần sông suối, nên sẽ tức giận, trút mưa xuống với ý đồ dâng úng, phá hoại mùa màng, đập nước, cây cối, đe doạ cuộc sống con người.
Nghĩ như thế, nên để tránh tai hoạ, người giữ vật chọc giận thần linh lập tức kéo chiếc ché, (hoặc nồi đất) lên khỏi mặt nước ngay sau đó rồi vội vàng mang trả về khu nhà mồ. Cuộc lễ và nghi thức chọc giận thần linh tại vũng nước thiêng kết thúc, mọi người lại nhảy múa theo nhịp cồng chiêng. Những người có mặt ăn uống hết phần rượu thịt hiến tế ngay tại nơi cúng, sau đó kéo nhau về nhà người chủ lễ để uống rượu cần, ăn uống tiệc tùng, nhảy múa với niềm tin các vị thần sẽ cho mưa trong những ngày sắp đến.
IV. Một vài nhận xét
IV.1. Cư dân lúa nước
Như đã trình bày ở trên, người Hrê là một tộc người sống định canh, định cư, nhiều vùng ở Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà trồng lúa nước đã giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất. Nhiều con mương, con đập ngăn nước suối, khe để dẫn nươc vào ruộng đã hình thành. Vì vậy, trong lễ Tajeo plinh me, ngoài cầu xin thần linh ban cho những trận mưa giải hạn, các padâu cũng đồng thời cầu xin các vị phò trợ giữ cho con mương, con đập, máng nước khỏi bị hư hại vì mưa lũ.
IV.2. Mơ ước cuộc sống no đủ, an bình
Cuộc sống an bình, no đủ là mơ ước, khát vọng của mọi tộc người, mọi cộng đồng; song đối với các nhóm cư dân sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ và năng lực của con người ứng phó với những bất lợi của thiên nhiên còn hạn chế, thì mơ ước khát vọng ấy càng cháy bỏng.
Cầu mưa là cầu mong cho con suối khe hoà nhuận, mùa màng bội thu, con lợn con gà có hạt thóc để ăn, con người có nồi cơm đầy để no cái bụng. Vì vậy, cầu mưa cũng chính là thể hiện khát vọng đời sống an vui, no đủ; trong làng không xảy ra dịch bệnh, thần ác lánh vào rừng sâu, các vì thần lành mang nhiều điều may mắn đến với từng nhà.
IV.3. Nơi gặp gỡ, giao lưu
Trong điều kiện miền núi, vùng cao, việc đi lại trong các plây không hẳn lúc nào cũng thuận lợi. Thường ngày bà con lại tất bật với việc chăm lo ruộng rẫy, săn bắt, hái lượm. Qua mùa nương rẫy lại đến mùa mưa bão, nên việc gặp gỡ, chuyện trò thường diễn ra chóng vánh nên khó thổ lộ tâm tình. Vì vậy, các dịp lễ lạt như lễ cúng cầu mưa cũng chính là dịp bà con trong buôn làng gặp gỡ, chuyện trò, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống. Lễ cầu mưa kết thúc là bắt đầu vui hội với rượu cà rỏ, hát ca lêu, ca choi, túc chinh thâu đêm suốt sáng.
V. Thay lời kết
Đến nay (2024) plây Gò Ôn đã 3 lần tổ chức lại các buổi lễ cầu mưa (Tajeo plinh me), kể từ lần tổ chức cuối cùng cách nay gần nửa thế kỷ:
- Lần thứ 1, tổ chức vào ngày 26 tháng Sáu năm 2008. Lần này có sự chứng kiến của Vụ Văn hoá các dân tộc, Sở Văn hoá, Thông tin và Thể thao Quảng Ngãi, UBND huyện Ba Tơ. Toàn bộ cuộc lễ được các chuyên gia từ Vụ Văn hoá các dân tộc ghi âm, ghi hình.
- Lần thứ 2, tổ chức vào ngày 16 tháng Tám năm 2007. Lần này Sở VHTT và DL và UBND huyện Ba Tơ đồng chủ trì, phân công nhiệm vụ cho các cơ quan chuyên môn (Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, Phòng Văn hoá, Thông tin và Thể thao huyện…) và chỉ đạo về nội dung lễ hội.
- Lần thứ 3, tổ chức vào ngày 15/6/2024. Đến lần này, plây Gò Ôn đổi thành thôn Huy Ba) thuộc xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người viết tham luận này đã tham dự cả 3 cuộc lễ cúng cầu mưa nói trên. Riêng lần thứ 1 là người trực tiếp gặp gỡ các già làng, tìm hiểu về phong tục, tập quán của bà con dân tộc Hrê nói chung, lễ tajeo plinh me nói riêng; ghi chép, đối chiếu với các tư liệu dân tộc học trong và ngoài nước. Tham gia khảo sát, điền dã thời gian này còn có các anh Trần Văn Trung, Ngô Hoài Nhơn, Bùi Mạnh Cường và một số anh chị khác. Chúng tôi đã ghi lại kết quả các khảo sát, ghi chép, đối chiếu và sau đó đưa vào in chung trong tập sách “Văn hoá dân gian các dân tộc Quảng Ngãi” (NXB Hội Nhà Văn. HN. 2016). Nhân đây tôi xin nói lời biết ơn Hội Văn nghệ Dân gian VN đã tài trợ cho việc in ấn và xuất bản tập sách; xin thể hiện niềm luyến tiếc và tri ân cố GS.TSKH Tô Ngọc Thanh- Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, người đã khuyến khích, góp ý và chịu trách nhiệm nội dung tập sách.
Lần thứ 2 chúng tôi tham gia với trách nhiệm là người đứng đầu cơ quan Bảo tàng Tổng hợp tỉnh; lần thứ 3, tham gia với vai trò tác giả kịch bản, đạo diễn, viết lời bình một phim tư liệu, tạm lấy tên là “Lễ cầu mưa (tajeo plinh me) của người Hrê ở Plây Gò Ôn (xã Ba Thành, huyện Ba Tơ)”.
Trong 3 cuộc lễ nói trên, cuộc lễ đầu do bà con tự tổ chức, không có bandron và cờ phướn, không dựng lều trại, không sử dụng loa phóng thanh. Những người làm công tác chuyên môn chúng tôi chỉ đóng vai trò quan sát, ghi chép, giúp các già làng kết nối từng mẩu hồi ức, tạo sự liên tục về mặt thời gian, đảm bảo tính nguyên gốc của các nghi thức; đồng thời tư vấn, góp ý bà con lược bỏ những nghi thức không còn phù hợp với đời sống văn hoá, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm.
Những cuộc lễ thứ 2 và thứ 3 mang tính “phục dựng” có cơ quan chỉ đạo, có kịch bản cho sự kiện, có sự tham gia tích cực của các cơ quan chuyên môn, có các hoạt động tuyên truyền, có đủ các nghi thức cần thiết của một lễ hội văn hoá. Riêng lần thứ 3 thêm kết hợp giới thiệu sản phẩm hàng hoá (chủ yếu là thực phẩm, hàng thủ công) bản địa.
Phân tích, đánh giá ưu điểm cũng như hạn chế của mỗi cuộc lễ chắc chắn sẽ có ích rất nhiều trong việc bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá của bà con dân tộc Hrê nói riêng các dân tộc anh em cư trú lâu đời ở Quảng Ngãi nói chung.
Tài liệu tham khảo
1. Nhiều tác giả (UBND tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo) (2005), Địa chí Quảng Ngãi, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.
2. Lê Hồng Khánh (2016), Văn hoá dân gian của cộng đồng cư dân Quảng Ngãi, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
3. Lưu Hùng (1996), Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
4. Nga Rivê (2016), Văn hoá dân gian dân tộc Hrê Quảng Ngãi, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội.
5. Nguyễn Văn Mạnh (1999), Văn hoá làng và làng văn hoá ở Quảng Ngãi, Nxb. Thuận Hoá, Huế.
[1] Người ta lấy sợi dây đo chiều dài cánh tay, từ cùi chỏ đến đầu ngón giữa, rồi gấp đôi, gọi là 1 gạt. Muốn đo con lợn thì vòng sợi dây qua vai lợn, sát phía sau hai chân trước.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét