Thứ Hai, 23 tháng 12, 2024

TÍN NGƯỠNG THỜ PO INA NAGAR CỦA NGƯỜI CHĂM VÙNG NAM TRUNG BỘ (ThS. Bá Minh Truyền)

Tóm tắt: Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, con gái có quyền đi cưới chồng và sau hôn nhân người con trai về chung sống với gia đình bên vợ. Vì vậy, tín ngưỡng thờ mẫu là một đặc điểm nổi bật trong đời sống xã hội của người Chăm ở vùng Nam Trung Bộ. Người Chăm có tín ngưỡng thờ nữ thần Po Ina Nagar qua nhiều hình thức khác nhau như xây dựng đền, tháp, tạc tượng hay thờ qua biểu tượng đá. Nữ thần Po Ina Nagar được người Chăm tôn vinh là người mẹ của xứ sở, đã truyền dạy cho người Chăm nghề dệt vải, trồng lúa, làm gốm, buôn bán, tổ chức xã hội và quan hệ với các dân tộc cận cư. Từ đó, hình thành nên hệ giá trị văn hóa gia đình lấy nền tảng là chế độ mẫu hệ để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Góp phần phát triển kinh tế, xã hội và thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc ít người vùng Nam Trung Bộ.

Từ khóa: Tín ngưỡng thờ mẫu, tục thờ nữ thần Po Ina Nagar, văn hóa Chăm, các dân tộc ít người vùng Nam Trung Bộ.

1. Mở đầu

Tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar đã xuất hiện sớm trong đời sống văn hóa của người Chăm. Po có nghĩa là vị thần nói chung, Ina có nghĩa là mẹ, Nagar để chỉ cho đất nước, xứ sở. Từ tiếng Chăm, Po Ina Nagar được Việt hóa thành Thiên Y Ana thánh mẫu. Như vậy, tín ngưỡng thờ nữ thần Po Ina Nagar đã trở thành tín ngưỡng thờ mẫu chung của người Chăm và người Việt. Khi tiếp quản đền tháp Bà Nha Trang, người Việt đã tiếp nối tín ngưỡng thờ mẫu từ người Chăm. Tuy nhiên, cách thức hành lễ của người Việt có nhiều điểm khác biệt so với người Chăm.

Tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar của người Chăm hỗn dung từ nhiều yếu tố văn hóa, tín ngưỡng khác nhau. Bên cạnh tín ngưỡng nông nghiệp và chế độ mẫu hệ truyền thống, người Chăm chịu ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ và đã chuyển hóa nữ thần Ấn Độ thành nữ thần của dân tộc mình. Nữ thần Devi của Hindu giáo đã được bản địa hóa để trở thành nữ thần mẹ xứ sở Po Ina Nagar của người Chăm. Quá trình bản địa hóa này có thể là đã bắt đầu từ thế kỷ XII, khi Devi được gọi thêm và phổ biến bằng cái tên bản địa của người Champa: Yang Po Nagara[1]. GS. Lương Ninh cho rằng khi tiếp nhận văn hóa Ấn Độ, người Chăm theo Hindu giáo, tôn thờ thần Hindu giáo, chủ yếu là thần Siva, cùng với “phu nhân” là Uma hay Parvati, được biểu trưng bằng ngẫu tượng linga - yoni - hình sinh thực khí nam nữ không phải bằng đất nữa mà bằng đá tạc có quy cách hẳn hoi[2]. PGS.TS. Ngô Văn Doanh cũng cho rằng tín ngưỡng thờ nữ thần Po Ina Nagar của người Chăm có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ nữ thần Devi, tức là vợ của thần Siva. Trong dạng hóa thân dịu hiền, Devi thường được biết đến dưới các tên gọi Parvati, Uma, Gauri. Ngược lại, trong dạng hóa thân dữ tợn, thì Devi được nổi danh với các tên gọi Durga, Kali, Bhagavati. Mỗi hóa thân của Devi là những câu chuyện khác nhau[3].

Trong các lễ hội truyền thống diễn ra trên đền tháp, có lễ hội Katê được tổ chức vào tháng 7 Chăm lịch (khoảng tháng 10 dương lịch) để tưởng niệm đến các vị nam thần, thì đến lễ hội Cambur vào tháng 9 Chăm lịch (khoảng tháng 1 dương lịch) để tưởng nhớ đến các vị nữ thần. Trong đó, nữ thần Po Ina Nagar được thỉnh mời đến nhận lễ vật dâng cúng. Theo PGS.TS. Sakaya, nữ thần Po Ina Nagar được biết đến là nữ thần khai sáng. Ca ngợi thần mẹ xứ sở Po Ina Nagar, thầy Kadhar kéo đàn Rabap hát ca ngợi công đức của vị thần đã tạo ra đất, nước, con người, làng, xóm, cây lúa, ruộng vườn[4].

Từ tín ngưỡng nông nghiệp đến khi tiếp xúc, ảnh hưởng tôn giáo Ấn Độ, người Chăm đã chuyển hoá nữ thần Ấn Độ thành nữ thần của dân tộc Chăm cùng với việc củng cố chế độ mẫu hệ để ổn định và phát triển trên cơ sở mẫu quyền và mẫu cư. Tức là người phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong xã hội và sau hôn nhân người chồng về chung sống cùng với gia đình nhà vợ.

2. Tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar - một loại hình thờ mẫu của người Chăm

Tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar rất phổ biến trong cộng đồng người Chăm ở vùng Nam Trung Bộ. Người Chăm coi trọng Po Ina Nagar là người mẹ xứ sở. Họ quan niệm rằng Po Ina Nagar đã tạo lập thế gian, sản sinh cây cối, muông thú và con người; hướng dẫn người Chăm cách tổ chức xã hội, canh tác lúa nước và truyền dạy các nghề thủ công như làm gốm, dệt vải thổ cẩm. Trong đời sống văn hóa tâm linh, người Chăm suy tôn Po Ina Nagar thành vị thần văn hóa và hằng năm mở lễ hội để cúng tế thần[5]. Để ca ngợi công lao to lớn của Po Ina Nagar đối với cộng đồng người Chăm, người Chăm đã sáng tác các sáng thế ký, truyền thuyết đậm chất huyền thoại về Po Ina Nagar, xây dựng đền tháp và các đền thờ tại các làng Chăm để thờ phụng bà và những người con gái. Người Chăm cho rằng bà có nhiều người chồng và con cái. Trong tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar của người Chăm, tính phồn thực được thể hiện rất cao. Tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar của người Chăm đã ảnh hưởng đến người Việt qua tín ngưỡng thờ Thiên Y Ana thánh mẫu. Mỗi địa phương, làng của người Chăm có cách thực hành tín ngưỡng thờ phụng Po Ina Nagar khác nhau.

2.1. Tháp Bà Nha Trang (Po Ina Nagar Aia Trang)

Tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, người Chăm đã xây dựng một ngôi đền tháp và tạc tượng chân dung Po Ina Nagar đang ngồi thiền trên tòa sen. Po Ina Nagar ngồi xếp bằng; tay phải đặt trên đùi, lòng bàn tay mở về phía trước mặt; tay trái đặt ngửa, lòng bàn tay mở ra. Bà còn có 6 bàn tay phụ, trên các tay đều có mang binh khí. Tượng Po Ina Nagar được điêu khắc mang tính phồn thực với vòng ngực căng tròn, bụng có nhiều lớp nhăn gấp khúc thể hiện khả năng sinh sản cao. Trên tay, cổ và đầu mang nhiều trang sức vòng và vương miện. Người Chăm thường mua sắm lễ vật, khấn vái, cầu xin Po Ina Nagar phù hộ độ trì, vượt qua những tai ương, bệnh tật, sinh được con gái để nối dòng dõi, chăm lo công việc thờ phụng tổ tiên. Thời kỳ chiến tranh loạn lạc Trịnh - Nguyễn phân tranh, người Chăm không thường xuyên đến đền tháp này để cúng kính và thực hành nghi lễ. Do đó, để thuận tiện, người ta quyết định thỉnh bà về thờ phụng tại Phan Rang. Cánh đồng Hamu Ram ở thôn Mông Nhuận, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận được lựa chọn xây dựng đền thờ Po Ina Nagar và thực hành các lễ cúng hàng năm. Từ đó, các chức sắc, cộng đồng người Chăm không còn đến Nha Trang để thực hành cúng lễ nữa.

2.2. Đền thờ Po Ina Nagar Hữu Đức (Po Ina Nagar Hamu Ram/Hamu Tanran)

Từ Nha Trang, Po Ina Nagar được thỉnh về Phan Rang, thờ phụng tại ngôi đền mới lập ở thôn Mông Nhuận (Hamu Ram). Đến năm 1954, do nhiều nguyên nhân bất ổn, người Chăm tiếp tục di chuyển đền thờ Po Ina Nagar về tại thôn Hữu Đức (Hamu Tanran), xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước cho đến ngày nay. Ngôi đền tại làng Hữu Đức được xây dựng theo kiểu kiến trúc đình làng của người Việt, sử dụng hình tượng lưỡng long chầu nguyệt làm trang trí. Ngôi đền gồm có ba gian chính: gian ở phía đông thờ nữ thần Po Bia Apakal, gian chính giữa dùng làm nơi chuẩn bị lễ vật, chỗ cho các chức sắc nghỉ ngơi, gian phía tây thờ nữ thần Po Bia Dara và Po Bia Tâh. Các nữ thần này vốn là những người con gái của Po Ina Nagar.

Hằng năm, cộng đồng người Chăm khắp nơi đến dâng lễ tại đền thờ vào dịp tổ chức lễ hội Yuer Yang, Katê và Cambur. Các lễ hội tổ chức tại đền Po Ina Nagar cũng giống như các lễ hội được tổ chức trên đền tháp về thời gian, lễ vật dâng cúng và chức sắc hành lễ. Ngoài ra, tại đền thờ Po Ina Nagar còn thực hiện một số nghi lễ dòng tộc như nghi lễ dâng cúng rùa biển (con vích) - tiếng Chăm gọi là Ngap Yang Nduk. Nghi lễ được tổ chức theo chu kỳ 7 năm/lần do dòng tộc dâng cúng nhằm mục đích để trả nợ thần linh (Jiâ yang). Nghi lễ được các chức sắc như ông Kadhar, Po Adhia và bà Pajau thực hiện dâng lễ.

Theo quan điểm của người Chăm, Po Ina Nagar là nữ thần có nhiều năng lực sinh đẻ. Những người hiếm muộn thường đến dâng lễ, múa mừng để thần ban cho con cái. Vào dịp lễ hội Katê và Cambur, những người mới sinh con thường mang lễ vật là trái cây, một cặp gà để cúng tạ ơn nữ thần Po Ina Nagar đã phù hộ cho “mẹ tròn con vuông”. Những người phụ nữ làm nghề dệt thổ cẩm, mang đến những tấm dần thổ cẩm (aban) đẹp nhất để dâng cúng cho nữ thần. Họ cho rằng, nghề dệt thổ cẩm do Po Ina Nagar truyền dạy. Do đó, nữ thần luôn luôn phù hộ người thợ dệt đẹp, quá trình dệt không bị rối, đứt chỉ.

2.3. Đền thờ Po Ina Nagar Bỉnh Nghĩa (Po Ina Nagar Hamu Kut)

Đền thờ Po Ina Nagar Hamu Kut tọa lạc tại cánh đồng thôn Bỉnh Nghĩa (Palei Bal Rija), xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Ngôi đền đã qua nhiều lần trùng tu, không có điêu khắc, kiến trúc, không theo mô hình đình làng. Ngôi đền chỉ được trang trí bằng những họa tiết hình Omkar, không có thờ tượng. Bên trong ngôi đền được chia ra làm hai gian thờ: gian thờ ở phía đông có đặt một tảng đá, gian thờ chính ở phía tây, rộng lớn có đặt nhiều tảng đá Kut như tên gọi của ngôi đền.

Mỗi một năm, ngôi đền chỉ mở cửa một lần vào dịp cúng đầu năm Chăm lịch (khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 dương lịch). Thực hành các nghi lễ có các chức sắc gồm ông Kadhar, bà Pajau, ông Camanei và ông Halau balang. Sau nghi thức dâng lễ và hát, những người phụ nữ Chăm đến múa mừng để cầu xin con cái. Lễ hội Po Ina Nagar Hamu Kut có nhiều đặc điểm khác biệt so với địa phương khác trong việc thực hành nghi lễ. Đó là sự xuất hiện của tiết mục hát ru con, hát đối đáp (Adaoh Kasa) và múa phồn thực (Tamia kayau siam likei). Điệu múa phồn thực thể hiện nhiều động tác giao hòa giữa trời - đất, vũ trụ và con người.

Dân làng cử một người đàn ông khỏe mạnh cầm 3 cây gỗ dài khoảng 30cm, được tạo thành hình dạng linga, đầu cây gỗ được sơn màu đỏ, biểu tượng cho sinh thực khí nam. Ông Halau balang, mang chăn màu trắng, đầu quấn khăn mathem taibi, mình để trần, hai tay cầm cây linga đưa xuống dưới rốn và làm các động tác nhún nhảy giao hợp như chỉa cây linga xuống mặt đất, ngửa lên trời. Để tăng thêm tính hài hước của tục hèm, ông Halau balang còn làm động tác biểu cảm giao hợp hướng cây linga về phía những người phụ nữ đến cầu xin thần linh có con cái theo ý muốn. Hình ảnh múa phồn thực mà cây dương vật chạm xuống đất theo tư duy người Chăm là sự giao thoa giữa trời - đất, đực - cái, và mẹ - cha[6].

2.4. Đền thờ Po Ina Nagar Vụ Bổn (Po Ina Nagar Hamu Bek)

Đền thờ Po Ina Nagar Hamu Bek nằm giữa cánh đồng làng thôn Vụ Bổn (palei Mabek/Pabhan), xã Phước Ninh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Ngôi đền không được xây cất kiên cố như các đền thờ Po Ina Nagar khác trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Đền thờ chỉ được lợp mái, không xây dựng vách ngăn, gian thờ. Tại ngôi đền chỉ có một tảng đá dựng đứng có chiều cao khoảng 60cm và một cái lư lửa để đốt trầm (Padhuk apuei) được làm bằng chất liệu gốm đất nung, có trang trí hoa văn hình ngọn lửa.

Hằng năm, sau khi tổ chức lễ hội Katê và Cambur trên đền tháp xong, cộng đồng làng Chăm ở Vụ Bổn tiến hành dâng lễ cho nữ thần. Các chức sắc hành lễ chỉ có Po Adhia, ông Camanei và các bô lão trong làng. Người dân mang lễ vật gồm trái cây, trầu cau, rượu trứng, gà, dê đến dâng lễ, cầu xin nữ thần ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình được ấm no hạnh phúc. Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar là không có chức sắc ông Kadhar hát dâng lễ; ông Camanei đóng vai trò chủ trì lễ cúng, khấn vái và thỉnh mời thần linh. Do đó, y trang của Po Ina Nagar Hamu Bek được dân làng bàn giao cho ông Camanei cất giữ. Khi đến ngày dâng lễ, ông Camanei mang y trang này đến ngôi đền để thực hành nghi lễ tắm tượng đá, mặc y phục cho nữ thần.

Bên cạnh bốn ngôi đền thờ Po Ina Nagar vừa kể trên, người Chăm còn thờ Po Ina Nagar ở nhiều địa phương khác gắn liền với từng địa danh riêng như Po Ina Nagar Cawait ở thôn Lạc Trị xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Po Ina Nagar Hamu Koi, Po Ina Nagar Hamu Tanang, Po Ina Nagar Hamu Ak, Po Ina Nagar Marau và Po Ina Nagar Parik (Phan Rí), Po Ina Nagar Pajai (Ma Lâm) thuộc tỉnh Bình Thuận. Như vậy, ở các địa bàn có người Chăm sinh sống còn bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống, người Chăm đều xây dựng đền thờ Po Ina Nagar để thờ phụng và cầu mong nữ thần che chở cuộc sống được an lành.

3. Những đặc trưng và hình thức thờ phụng Po Ina Nagar vùng Nam Trung Bộ

Tín ngưỡng thờ phụng Po Ina Nagar trong cộng đồng người Chăm được thực hành rất đa dạng, bao gồm việc thờ phụng trong đền tháp, đền thờ hoặc thờ phụng ở không gian ngoài trời, không có công trình kiến trúc. Mặc dù, có sự khác biệt về hình thức thờ phụng nhưng thờ phụng Po Ina Nagar của người Chăm có chung mục đích và ý nghĩa. Người Chăm đề cao Po Ina Nagar là người mẹ xứ sở, đã truyền dạy nghề trồng lúa nước, kinh nghiệm thương mại, nghề làm gốm và nghề dệt vải thổ cẩm để ổn định đời sống kinh tế và phát triển xã hội.

Po Ina Nagar thường được tạc tượng có hình hài, chân dung, nhan sắc như trong đền tháp Bà ở Nha Trang, đền thờ Po Ina Nagar ở làng Hữu Đức. Po Ina Nagar còn được thờ phụng qua biểu tượng đá Kut như đền thờ ở làng Bỉnh Nghĩa hay một tảng đá như đền thờ ở làng Vụ Bổn. Ngoài ra, tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar còn được nhắc nhở qua các địa danh khác trong bài hát thánh ca của ông Kadhar.

Việc dâng lễ cúng cho Po Ina Nagar do các chức sắc như Po Adhia, ông Kadhar, bà Pajau, ông Camanei thực hiện. Đây là bốn chức sắc của người Chăm có vai trò quan trọng trong thực hành nghi lễ và hướng dẫn người dân hành lễ. Ở Ninh Thuận hiện nay, mặc dù không có đền tháp Po Ina Nagar như đền tháp Po Klaong Garay và đền tháp Po Ramê nhưng hình thức thờ phụng, dâng lễ cho Po Ina Nagar được người Chăm nơi đây tiến hành tương tự như cách thức hành lễ trên đền tháp. Tại đền thờ của làng, bên cạnh một số nghi thức hành lễ mang tính chất địa phương, người dân tuân thủ các trình tự nghi thức dâng lễ như nghi thức tắm tượng, mặc y phục, dâng lễ vật và hát thánh ca ngợi khen tiểu sử và công đức của nữ thần đối với dân làng.

Trong các đền thờ Po Ina Nagar vừa nêu trên, khi cúng tại ngôi đền nào thì người Chăm thỉnh mời Po Ina Nagar ở địa phương đó trước rồi mới thỉnh mời các vị thần khác đến hưởng lễ. Bên cạnh việc thờ phụng Po Ina Nagar, một số làng Chăm còn lập đền thờ Po Nai, một dạng tín ngưỡng thờ mẫu, thờ phụng những người con gái của Po Ina Nagar, các công chúa và nữ thần có công lao, có sự tích gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của làng. Cụ thể như tín ngưỡng thờ Po Nai (Po Nai Mâh Ghang, Po Nai Riki, Po Nai Rikit) tại thôn Như Bình (palei Padra), xã Phước Thái, huyện Ninh Phước. Tín ngưỡng thờ Po Nai (Po Nai Tangya Bia Atapah) tại thôn Văn Lâm (palei Ram), xã Phước Nam, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Tín ngưỡng thờ Po Nai (công chúa Po Sah Ina) ở thôn Phò Trì (palei Bumi), xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

4. Vai trò của tín ngưỡng thờ mẫu trong đời sống của người Chăm

Tín ngưỡng thờ mẫu có vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người Chăm. Người mẹ thực hiện vai trò chăm lo đời sống kinh tế, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, thực hiện các nghĩa vụ trong dòng tộc, thờ phụng tổ tiên theo tập quán, tín ngưỡng. Tín ngưỡng thờ mẫu được duy trì ổn định, chưa thấy có biểu hiện rõ ràng trong chuyển đổi từ chế độ mẫu hệ sang phụ hệ như lịch sử phát triển chung của xã hội con người. Chế độ mẫu hệ là sự lựa chọn của người Chăm; cho dù người Chăm có theo tôn giáo nào thì hình thức cư trú bên gia đình vợ, con cái thuộc về dòng tộc mẹ vẫn được tôn trọng, được luật tục thừa nhận và bảo đảm các quyền cơ bản của chế độ mẫu hệ.

4.1. Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống

Tín ngưỡng thờ mẫu góp phần gìn giữ chế độ mẫu hệ của người Chăm thêm vững chắc. Trong lịch sử người Chăm, có thể đã từng xảy ra xung đột đấu tranh giành quyền mẫu hệ hay phụ hệ, được thể hiện qua câu truyện cổ “Mương Đực Mương Cái” (Ribaong lakei, Ribaong kamei). Truyện kể rằng, dưới thời cai trị vua Po Klaong Garay, để giành quyền mẫu hệ hay phụ hệ, nhà vua đã tổ chức cho đàn ông và phụ nữ thi đào mương. Nếu bên nào hoàn thành trước thì sẽ giành được quyền làm chủ gia đình. Bên phụ nữ đã hoàn thành việc đào mương trước đàn ông. Do đó, nhà vua phán người Chăm theo chế độ mẫu hệ, sau hôn nhân người đàn ông về cư trú bên gia đình vợ.

Đối với người Chăm, mọi vấn đề liên quan tập quán, tín ngưỡng, thờ cúng đều do người phụ nữ trong gia đình quyết định. Người đàn ông, dù muốn hay không, đều không thể cản trở được. Đàn ông trên danh nghĩa là chủ gia đình, có vai trò đối ngoại và đối nội, nhưng không thuộc về gia đình người vợ; khi chết đi họ trở về dòng tộc bên mẹ. Để khắc họa mối quan hệ này, người Chăm có câu thành ngữ:

Daok hadiép ngap mbeng ka urang

Matai nao ba talang ka Amaik.

Dịch nghĩa:

Còn sống thì đi tạo dựng của cải cho người dưng

Đến khi chết mang xương cốt về cho mẹ.

Như vậy, các vấn đề liên quan đến các giá trị văn hóa truyền thống của người Chăm đều do người phụ nữ quản lý, gìn giữ và bảo tồn. Trong xu hướng hội nhập và phát triển, người đàn ông Chăm đã bỏ dần trang phục truyền thống trong đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, người phụ nữ Chăm thì vẫn duy trì ăn mặc theo lối truyền thống. Việc mang trang phục truyền thống trong đời sống, lễ hội và các sự kiện do dòng tộc tổ chức là một trong những tiêu chí đánh giá phẩm hạnh của người phụ nữ.

Hằng ngày, người đàn ông Chăm đi làm việc, lao động xa nhà, dùng ngôn ngữ giao tiếp là tiếng phổ thông (tiếng Việt). Nhưng, khi về nhà thì nói tiếng Chăm với vợ, con cái và các thành viên trong gia đình. Người phụ nữ ít tham gia các công việc bên ngoài xã hội mà chỉ chăm lo gìn giữ thuần phong mỹ tục. Việc phân công lao động, trách nhiệm đối với xã hội trong cộng đồng người Chăm được thể hiện rõ ràng trong câu thành ngữ:

Lakei deng di masuh

Kamei deng di manâk

Dịch nghĩa:

Đàn ông đứng bên chiến đấu

Đàn bà đứng bên sinh nở

Câu thành ngữ trên mang ý nghĩa người đàn ông thì chăm lo các công việc ở bên ngoài xã hội, chiến đấu ở bên ngoài. Còn người phụ nữ quán xuyến các công việc trong gia đình, sinh con, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, truyền dạy kinh nghiệm và kế thừa các giá trị bản sắc văn hóa.

4.2. Cố kết cộng đồng bền chặt

Người Chăm cố kết bền chặt với nhau qua tính đồng tộc và đồng tôn giáo. Vì vậy, trong quan hệ hôn nhân, người Chăm khuyến khích xu hướng kết hôn với người cùng đồng tộc và cùng tôn giáo. Đối với cộng đồng người Chăm Ahiér (Chăm ảnh hưởng Bàlamôn giáo), lấy dòng tộc theo Kut để nhận diện dòng tộc. Những người trong cùng một dòng tộc Kut thì không được phép quan hệ hôn nhân với nhau cho dù đã trải qua nhiều thế hệ. Đối với cộng đồng người Chăm Bini (Chăm ảnh hưởng Hồi giáo/Islam), lấy dòng tộc Gahul/ghur làm tiêu chí để nhận diện. Những người trong cùng một dòng tộc Gahul thì không được phép có quan hệ hôn nhân.

Khi còn sống, người Chăm có thể lựa chọn bất kỳ nơi nào để sinh sống. Một khi chết đi, họ được mang trở về chôn cất với dòng tộc Kut, Gahul theo dòng mẹ. Di sản kết nối theo dòng mẹ được thừa kế từ đời này qua đời khác xuất phát từ tín ngưỡng thờ mẫu đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người Chăm. Tín ngưỡng thờ mẫu càng củng cố vai trò của người phụ nữ trong gia đình và bảo lưu chế độ mẫu hệ tồn tại lâu dài trong xã hội người Chăm.

Yếu tố cùng chung dòng tộc Kut, Gahul giúp tăng cường việc cố kết cộng đồng thêm bền chặt. Cho dù, xét về mặt huyết thống, họ có thể không có mối quan hệ huyết thống trực hệ. Các thành viên trong cùng một dòng tộc có nghĩa vụ đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi chung, đồng thời cũng được nhận đầy đủ các quyền lợi chung trong dòng tộc. Trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân và tang lễ, những người trong cùng một dòng tộc có nghĩa vụ chia sẻ, giúp đỡ, hỗ trợ các thành viên trong dòng tộc. Hơn thế nữa, những mâu thuẫn trong nội bộ các thành viên trong cùng một dòng tộc được dòng tộc xem xét, phân xử và giải quyết để đảm bảo các nghĩa vụ và quyền lợi chung của các thành viên. Trong cộng đồng Chăm, mỗi dòng tộc đều cử ra một đại diện làm Trưởng tộc để điều chỉnh các quan hệ dân sự trong dòng tộc.

4.3. Hình thành hệ giá trị gia đình mẫu hệ

Tín ngưỡng thờ mẫu củng cố chế độ mẫu hệ của người Chăm, hình thành các hệ giá trị văn hóa gia đình mẫu hệ đặc trưng. Theo chế độ mẫu hệ, con gái là người được quyền thừa kế tài sản, của cải do ông bà, cha mẹ để lại. Đặc biệt, người con gái út (anâk kamei taluic) trong gia đình có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ và có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ khi về già yếu, thực hiện các lễ cúng trong dòng tộc, gia đình. Tương tự như cách nói của người Việt “Giàu út nhờ khó út chịu”, cho dù cha mẹ giàu hay nghèo, người con gái út trong gia đình người Chăm phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, chăm lo công việc thờ phụng tổ tiên.

Người Chăm Ahiér, khi chết đi làm lễ hỏa táng, chỉ giữ lại 9 miếng xương trán để làm lễ nhập Kut. Gia đình người vợ, sau khi đã tổ chức lễ hỏa táng xong, đến ngày tổ chức lễ nhập Kut bên gia đình người chồng, sẽ bàn giao xương cốt này cho dòng tộc bên nhà chồng. Trường hợp gia đình bên người chồng không còn thành viên nào nữa thì phía gia đình người vợ mới được phép chôn cất xương cốt người chồng trong khuôn viên nhà Kut bên vợ, nhưng vẫn không được nhập vào chung với vợ và các con cái. Xương cốt người chồng, được chôn cất ở một khu vực riêng, độc lập và gần với dòng tộc bên nhà vợ. Người Chăm Bini, khi chết đi thì tiến hành chôn cất liền, không để lâu quá 24 tiếng đồng hồ. Do đó, phía gia đình người vợ cũng tranh thủ mang thi hài người chồng mang đi chôn tại nghĩa trang của dòng tộc bên nhà chồng.

Người con trai khi đủ tuổi kết hôn, lập gia đình thì ở rể bên gia đình vợ. Tập tục ở rể trong xã hội người Chăm vẫn còn được thừa nhận và thực hiện nghiêm túc. Người con gái cho dù gia cảnh có khó khăn cũng không muốn qua làm dâu bên gia đình người chồng. Hệ giá trị văn hóa gia đình mẫu hệ Chăm được cộng đồng chấp nhận, luật tục thừa nhận đã ổn định trong xã hội Chăm. Chế độ mẫu hệ, với đặc điểm nổi bật là mẫu cư (ở rể bên nhà vợ), người đàn ông trong gia đình vẫn có quyền quyết định các vấn đề quan trọng trong gia đình, thực hiện các quyền đối nội và đối ngoại trong gia đình và xã hội. Thậm chí, quyền lực của người đàn ông còn được đề cao, coi trọng trong gia đình.

5. Kết luận

Tín ngưỡng thờ Po Ina Nagar là loại hình thờ mẫu đặc trưng của người Chăm vùng Nam Trung Bộ, được hình thành cùng với sự phát triển của tộc người Chăm trong suốt chiều dài lịch sử. Tín ngưỡng này nhằm ghi nhớ công lao Po Ina Nagar, vị nữ thần đã tạo lập ra thế gian và muôn loài, được người Chăm tôn vinh là quốc mẫu, người mẹ của xứ sở, vị tổ nghề đã truyền dạy cho người Chăm các kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, thương mại, nghề làm gốm thủ công, nghề dệt vải thổ cẩm mà người Chăm vẫn thực hành cho đến ngày nay. Người Chăm tổ chức các lễ cúng hàng năm để cầu mong nữ thần Po Ina Nagar ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cây cối, vật nuôi, con người được khỏe mạnh, sinh sôi nẩy nở và phát triển.

Theo thời gian, sự biến đổi từ Mẹ xứ‏ sở/Po Ina Nagar của người Chăm thành bà Diễn ‏Ngọc Phi chúa Ngọc (hay Bà chúa Ngọc), Thiên Y Ana Thánh mẫu của người‏ Việt để dễ dàng trong việc tiếp nhận và thờ cúng,‏ cũng như cầu mong, nguyện ước. Dưới thời nhà ‏Nguyễn, Bà được phong tặng danh xưng bằng mỹ tự: ‏“Hồng Nhân Phổ Tế, Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tướng‏ Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”[7].

Tín ngưỡng thờ mẫu của người Chăm có vai trò quan trọng trong đời sống, góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa truyền thống, cố kết cộng đồng bền chặt, hình thành hệ giá trị gia đình mẫu hệ ở vùng Nam Trung Bộ. Đây là hình thức tín ngưỡng được phát triển dựa trên sự kết hợp giữa các yếu tố văn hóa bản địa truyền thống và tôn giáo từ Ấn Độ, tạo nên bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo của người Chăm. Vì vậy, cần được gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị của tín ngưỡng này trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đoàn kết dân tộc ở tộc người và các địa phương có người Chăm sinh sống.



Tài liệu tham khảo

1. Ngô Văn Doanh (2005), “Tháp Bà Po Nagar: Từ nữ thần Devi của Ấn Độ đến nữ thần Pô I nư Nư gar của người Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2005, tr.48-52.

2. Lương Ninh (2003), “Tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6/2003, tr.42-45.

3. Sakaya (2003), “Loại hình tôn giáo nguyên thủy trong lễ hội Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1/2003, tr.55-59.

4. Sakaya (2007), “Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2007, tr.28-34.

5. Đinh Thị Trang, “Nữ thần Thiên Y Ana và sự tiếp giao văn hóa tại các miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn”, Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, tr.60-67.




[1] Ngô Văn Doanh (2005), “Tháp Bà Po Nagar: Từ nữ thần Devi của Ấn Độ đến nữ thần Pô I nư Nư gar của người Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2005, tr.52.


[2] Lương Ninh (2003), “Tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6/2003, tr.42.


[3] Ngô Văn Doanh (2005), “Tháp Bà Po Nagar: Từ nữ thần Devi của Ấn Độ đến nữ thần Pô I nư Nư gar của người Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2005, tr.50.


[4] Sakaya (2007), “Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2007, tr.30.


[5] Sakaya (2003), “Loại hình tôn giáo nguyên thủy trong lễ hội Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1/2003, tr.58.


[6] Sakaya (2007), “Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội Chăm”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2007, tr. 34.


[7] Đinh Thị Trang, “Nữ thần Thiên Y Ana và sự tiếp giao văn hóa tại các miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn”, Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, tr.61.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...