Tóm tắt: Bài viết khám phá văn hóa tín ngưỡng của người Hrê tại tỉnh Quảng Ngãi thông qua quan niệm và thực hành nghi lễ. Trong sản xuất nông nghiệp, chu kỳ đời sống và sinh hoạt, người Hrê có những quan niệm và thực hành nghi lễ liên quan trực tiếp đến môi trường thiên nhiên, cảnh quan và thế giới tinh thần. Điều này thể hiện giá trị nhân sinh và tôn giáo độc đáo của người Hrê, gắn kết khía cạnh văn hóa, xã hội và tâm linh tạo nên những thực hành văn hóa có tính chất đan xen giữa thế tục và thiêng liêng trong đời sống hằng ngày.
Hiện nay, các thực hành nghi lễ của người Hrê có xu hướng biến đổi để phù hợp với đời sống mới, giảm các nghi lễ liên quan đến trồng trọt, chú trọng đến tính lợi ích, kinh tế và duy trì tính cộng cảm. Điều này thể hiện những động năng mới trong tín ngưỡng của người Hrê thích ứng với sự chuyển đổi kinh tế, xã hội, môi trường và hòa nhập, tiếp thu tri thức mới trong sản xuất, khám chữa bệnh.
Từ khóa: Người Hrê, nghi lễ, văn hóa tín ngưỡng, tỉnh Quảng Ngãi.
Giới thiệu
Người Hrê cư trú dọc theo thung lũng sông dưới chân dãy Trường Sơn thuộc miền Tây của các huyện Quảng Ngãi, Bình Định. Tổng số người Hrê ở Quảng Ngãi là 133.103 người[1]. Tại tỉnh Quảng Ngãi, người Hrê chủ yếu cư trú các thôn xã của huyện Minh Long, Ba Tơ, Sơn Hà. Người Hrê tận dụng các dải đất nhỏ hẹp ven sông suối để canh tác lúa nước, sử dụng nước tưới tiêu tự nhiên từ các con suối và thích nghi với điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Làng của người Hrê tọa lạc trên địa vực ổn định, bằng phẳng và cũng phân bố gần sông suối. Cách thức cư trú và lập làng của người Hrê phản ánh quá trình khai thác và tận dụng tối đa nguồn lợi tự nhiên phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt và sản xuất.
Người Hrê được biết đến qua một số ghi chép và nghiên cứu dân tộc học từ thế kỉ XIX cho đến nay. Mặc dù nghiên cứu dân tộc học về người Hrê khá khiêm tốn, song những nghiên cứu này đều cho thấy tầm quan trọng của tín ngưỡng và thực hành nghi lễ của người Hrê. Vì tập trung vào miêu thuật dân tộc học, các nghiên cứu này chưa đặt thế giới quan và thực hành tín ngưỡng của người Hrê vào mối quan hệ với môi trường sinh thái. Ghi chép sớm nhất về người Hrê thể hiện trong Phủ man tạp lục của Nguyễn Tấn (1871) với các miêu tả cụ thể về phong tục tập quán, tính cách và văn hóa của người Hrê. Một số nghiên cứu gần đây thể hiện những mảnh ghép khác nhau về làng Hrê, kỹ thuật canh tác ruộng nước, hệ thống thân tộc, quan hệ xã hội (Lưu Hùng, 1982, 1983; Nguyễn Xuân Hồng, 2000); hoặc nghiên cứu về văn hóa vật chất (Nguyễn Ngọc Trạch, 2012). Nhìn chung, người Hrê tại Quảng Ngãi có hệ thống quan niệm và thực hành nghi lễ đa dạng, phong phú và khá phức tạp. Tuy nhiên, trong hệ thống này luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động sản xuất và sinh hoạt thường ngày. Do đó, có thể định vị các thực hành nghi lễ thông qua quan hệ tương tác giữa hoạt động sản xuất và các yếu tố vật chất, xã hội với hoạt động tâm linh. Một số thực hành nghi lễ có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất, phân công lao động và sức khỏe, gồm nghi lễ liên quan đến sản xuất trồng lúa; nghi lễ trong các sự kiện đặc biệt (cầu sức khỏe, cầu mưa, nghi lễ cúng trời, cúng tổ tiên và cúng cuối năm) và nghi lễ vòng đời người. Nhìn chung, góc độ thế giới quan và tôn giáo tín ngưỡng của người Hrê vẫn còn là chủ đề ít được quan tâm. Đặc biệt, sự hiện diện của hệ thống biểu tượng, thế giới quan tôn giáo, thực hành tín ngưỡng và giá trị nhân sinh là vấn đề rất mới trong nghiên cứu về người Hrê. Vì vậy, nghiên cứu này đóng góp một góc nhìn mới nhằm khám phá thực hành tín ngưỡng và thế giới quan của người Hrê trong truyền thống và đương đại.
1. Quan niệm và thực hành nghi lễ của người Hrê
Người Hrê có hệ thống quan niệm và thực hành nghi lễ đa dạng, phong phú và khá phức tạp. Tuy nhiên, hệ thống này luôn có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động sản xuất và sinh hoạt đời sống thường ngày. Do đó, có thể định vị các thực hành nghi lễ bằng cách nhìn nhận quan hệ tương tác giữa hoạt động sản xuất và các yếu tố vật chất, xã hội với hoạt động tâm linh. Dưới đây, đề tài trình bày một số nghi lễ có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất, phân công lao động và sức khỏe, gồm nghi lễ liên quan đến sản xuất trồng lúa; nghi lễ trong các sự kiện đặc biệt (cầu sức khỏe, cầu mưa, nghi lễ cúng ông Trời, cúng tổ tiên và cúng cuối năm) và nghi lễ vòng đời người.
1.1. Quan niệm và thực hành nghi lễ trong trồng lúa
Người Hrê tại huyện Minh Long, Sơn Hà, Ba Tơ (Quảng Ngãi) có truyền thống làm ruộng nước và cư trú ở vùng thung lũng, ven sông suối. Với người cư trú của vùng cao hơn, họ trồng lúa rẫy. Theo lời kể của ông Đinh Văn Xiêng (thôn Hà Bôi, xã Long Hiệp, Minh Long, Quảng Ngãi), cho biết rằng người Hrê đã di chuyển từ vùng núi xuống thung lũng. Gia đình ông Xiêng vừa có đất rẫy và vừa có đất ruộng. Cách đây nửa thế kỉ, gia đình ông Xiêng trồng cùng lúc hai loại lúa, lúa rẫy và lúa nước. Hiện nay, gia đình ông không còn trồng lúa rẫy, đất nương rẫy được chuyển đổi sang trồng keo; lúa nước là lương thực chính, đồng thời cũng là nguồn thu nhập chính bên cạnh trồng keo và nuôi trâu. So với lúa nước, lúa rẫy chiếm diện tích khiêm tốn, nhỏ lẻ tại một số làng của người Hrê. Thực tế cho thấy, trong quá khứ và cho đến hiện nay, người Hrê là cư dân trồng lúa nước với kỹ thuật canh tác, chia nước và tận dụng địa hình, dòng chảy để phát triển các ruộng lúa nước trù phú dọc thung lũng nơi có nhiều dòng chảy của sông suối hội tụ.
Trồng lúa là loại hình sinh kế quan trọng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của người Hrê. Sản phẩm thu được là lúa gạo trở thành nguồn thực phẩm chính trong bữa ăn hằng ngày, gắn bó mật thiết đối với đời sống của người Hrê. Lúa gạo còn được chế biến thành nhiều loại bánh khác nhau dùng cho các lễ cúng sức khỏe, cúng lúa và cúng năm mới. Vì những lợi ích thiết thực như thế, người Hrê đã bỏ nhiều thời gian chăm sóc cây lúa theo chu kỳ từ lúc gieo cấy cho đến thu hoạch. Bên cạnh việc chăm sóc lúa là những thực hành mang tính ma thuật hỗ trợ cho cây lúa phát triển, tránh sâu bọ và các tác động không thuận lợi của thời tiết. Với tư duy về thế giới tâm linh gồm có hai phần xấu và tốt với các thần linh tượng trưng cho điều tốt và ma quỷ tượng trưng cho sự phá hoại, người Hrê sử dụng các thực hành mang tính ma thuật để kiểm soát tác động xấu và đảm bảo cho cây lúc phát triển tốt tươi.
Nghi lễ liên quan đến cây lúa bao gồm những thực hành nghi lễ theo vòng đời cây lúa: với lúa rẫy, gồm các giai đoạn phát rẫy, đốt tỉa, gieo hạt và thu hoạch; với lúa nước, gồm các giai đoạn gieo, cấy (hoặc sạ), chăm sóc và thu hoạch. Mỗi giai đoạn của cây lúa đều tương ứng với một loại thực hành nghi lễ đặc thù. Tuy nhiên, thực hành nghi lễ liên quan đến cây lúa đã thay đổi rõ rệt tại các thôn làng của người Hrê ở Minh Long. Tại thôn Hà Bôi và Hà Liệt (xã Long Hiệp), người Hrê không còn thực hành nghi lễ theo chu kỳ cây lúa. Sự biến mất của nghi lễ theo chu kỳ phát triển của cây lúa rẫy xảy ra khi người Hrê chuyển đổi nương rẫy sang trồng keo và với cây lúa nước, từ khi ứng dụng kỹ thuật sạ lúa của người Kinh và sử dụng phân bón (cách đây 10 - 20 năm), người Hrê đã xóa bỏ các thực hành theo chu kỳ cây lúa nước, hiện nay, họ chỉ còn giữ lại lễ cúng ăn cơm mới sau khi thu hoạch lúa.
Các thực hành nghi lễ liên quan đến cây lúa trình bày dưới đây là thông tin được thu thập từ phỏng vấn hồi cố của ông Đinh Văn Xiêng và Đinh Văn Bui.
Nghi lễ dành cho cây lúa rẫy
Khi người Hrê còn trồng lúa rẫy, trên những khoảnh đất tươi xốp sau khi đã phát rẫy, mùa lúa rẫy bắt đầu từ tháng 3 - 4 âm lịch hằng năm. Thông thường, lễ cúng lúa rẫy là tổng hợp của các nghi lễ như sau:
+ Lễ cúng tại nhà và lễ cúng trên rẫy trước và sau khi đốt rẫy.
+ Lễ cúng thần cửa: trong thời gian cây lúa mọc bình thường, người Hrê không thực hiện nghi lễ. Khi lúa xấu và còi cọc, người Hrê cúng thần cửa tại nhà. Nghi lễ này có tác dụng giảm thiểu lo âu và mong muốn giúp cây lúa phát triển.
+ Lễ suốt lúa: bảo vệ hồn cây lúa từ trên rẫy để mang về kho thóc.
+ Lễ ăn cơm mới: có tính chất xác nhận và ăn mừng sau một mùa trồng lúa.
Khoảng tháng 3 - 4 âm lịch, vào ngày trời nắng, người Hrê chọn những khoảnh đất rẫy để phát và đốt. Sau đó họ đợi tới khi đám tro bụi trên đất tích tụ thành lớp dày và mặt đất có độ ẩm nhất định thì sẽ tiến hành trỉa rẫy. Công việc trên rẫy thường được phân công cho các thành viên trong gia đình tùy theo sức khỏe và khả năng đóng góp lao động của mỗi người. Trong đó, việc cúng tế rất quan trọng, thông thường do một người chủ gia đình thực hiện cùng với sự tham gia của các thành viên khác. Nếu gia đình không có người biết cúng, họ sẽ mời thầy cúng.
Đầu tiên, trước khi trỉa lúa, người Hrê cúng ở cửa giữa, lễ vật thường là một con gà để hiến tế cho thần linh. Sau đó, họ gieo một nắm lúa tại khóm rẫy thiêng này và trồng thêm một số cây bầu bí. Nơi làm lễ cúng có tính chất linh thiêng, do đó họ thường đánh dấu địa điểm này để sau này gặt lúa hoặc hái rau tại đó để làm phép. Với người Hrê, trong một nghi lễ, họ mời rất nhiều thần linh để dâng tặng lễ vật và gửi lời cầu xin, đó là thần rừng, thần núi, thần nước, thần Trời, thần lửa, thần cửa, thần lúa. Trong nghi lễ trỉa lúa, thần lúa có vị trí quan trọng và trực tiếp gắn liền với sự phát triển của cây lúa, thường tượng trưng dưới hình ảnh của một người đàn bà chủ nhà. Người Hrê tin rằng nếu khi trỉa rẫy không cúng thần linh và không kêu cầu thần lúa thì năm đó sẽ bị thần lúa quở phạt khiến cho cây lúa không nảy mầm hoặc bông lép, gia đình không có lúa ăn (Nguyễn Thị Thanh Xuyên, 2016). Trong thời gian cây lúa phát triển xấu, gia đình sẽ mời thầy cúng thực hiện một nghi lễ cúng thần cửa, xông trầm với mục đích cầu xin thần lúa/hồn lúa nguôi cơn giận giữ để có một mùa lúa bội thu.
Khi lúa rẫy chín, mỗi gia đình cùng tham gia thu hoạch lúa. Người Hrê mong muốn mùa màng mỗi năm đều tốt tươi, do đó vào mỗi giai đoạn quan trọng của cây lúa luôn được đánh dấu bởi một nghi lễ hiến tế. Người Hrê chỉ trồng lúa rẫy một vụ mỗi năm, vì vậy họ nâng niu và gìn giữ những hạt lúa giống để gieo vào vụ năm sau. Với quan niệm hạt lúa có linh hồn, người Hrê thực hiện những nghi thức để gìn giữ linh hồn cây lúa/hạt lúa để hồn lúa theo về nhà nhập vào kho thóc với mong cầu lúa đầy kho và không thiếu đói. Người Hrê hình tượng linh hồn cây lúa trở thành thần lúa phù hộ cho việc trồng lúa, thu hoạch lúa và gìn giữ lúa giống. Trước khi thu hoạch, người đàn bà chủ nhà sẽ lên rẫy chọn một khóm lúa và thực hiện một nghi lễ nhỏ để thâu tóm linh hồn lúa. Người phụ nữ này sẽ tuốt lúa tại khóm lúa thiêng vừa đủ để mang về rang gạo và giã cốm. Lúc này, thần lúa sẽ theo người phụ nữ về nhập vào kho thóc, từ đây, người Hrê tin rằng những hạt lúa được bảo vệ bởi thần lúa tại kho thóc. Thần lúa cũng được đại diện bởi người phụ nữ chủ nhà, do đó, trong những người thu hoạch lúa, chỉ có người phụ nữ chủ nhà có quyền và trách nhiệm đóng, mở kho thóc.
Nghi lễ cúng cơm mới diễn ra vào buổi tối, người phụ nữ chủ nhà lấy lúa từ chiếc gùi để giã gạo và rang gạo, làm cơm và cốm cúng thần linh. Người chủ gia đình làm một lễ tế thần linh trước sân nhà. Vì thu hoạch lúa là công việc tập thể, chung sức của nhiều thành viên trong gia đình, hàng xóm và họ hàng, do đó, lễ cúng cơm mới là sinh hoạt tập thể. Vào buổi tối cúng cơm mới, người Hrê ăn cơm, cốm và uống rượu cần, sau đó hát ca lêu, ca choi để gắn kết tinh thần tương trợ. Nghi lễ ăn cơm mới vừa hướng đến thần linh vừa hướng đến nhu cầu hưởng thụ của cộng đồng sau một vụ mùa vất vả.
Nghi lễ dành cho cây lúa nước
Khi chuyển sang trồng lúa nước, tập quán canh tác và cúng tế đã được tiếp nối, cải biến và chuyển hóa. Người Hrê đã trồng lúa nước từ rất đời, là một nguồn sinh kế chính, trồng trọt nương rẫy chỉ là sinh kế phụ trợ. Tuy nhiên, một số tập tục trong trồng lúa rẫy và cúng lúa vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến trồng lúa nước. Hai thời điểm quan trọng đối với việc cúng tế là gieo hạt và gặt lúa, đây là hai thời điểm mở đầu và kết thúc của vòng đời cây lúa. Người Hrê quan niệm cây lúa có linh hồn, do đó việc cúng lúa rẫy và lúa nước thường tập trung vào những thời điểm quan trọng của vòng đời cây lúa để cầu mong cho cây lúa phát triển tốt.
Khi chưa sử dụng kỹ thuật gieo cấy hoặc sạ lúa, người Hrê còn giữ lại tập tục “chọc lỗ tra hạt” đối với việc trồng lúa nước. Trước khi gieo hạt, người Hrê thực hiện nghi lễ cúng lúa tại ruộng. Trong thời gian cây lúa phát triển, trổ bông, người Hrê canh giữ cho cây lúa không bị sâu bọ và chuột cắn phá. Cách đây khoảng 10 - 20 năm, người Hrê chưa sử dụng phân bón và phun thuốc trừ sâu, khi cây lúa ngả bệnh và bị hư hại do côn trùng, họ thường cúng lúa ở cửa giữa giống như lúa rẫy kết hợp với cúng lúa tại ruộng. Tương tự các nghi lễ khác, thầy cúng làm lễ cúng thần cửa, thần lúa để cầu xin phù hộ cho cây lúa khỏe mạnh. Đồng thời, họ cũng dựng một chòi canh ruộng khi lúa trổ bông.
Người Hrê trồng lúa hai vụ, đông - xuân và hè - thu. Trước khi thu hoạch, gia đình mời thầy cúng làm lễ và bói quẻ để xin thần linh cho phép gặt lúa. Cũng giống như với lúa rẫy, người phụ nữ chủ nhà sẽ ra ruộng và lấy một ít lúa mang về nhập vào kho thóc, sau đó, họ giã gạo, rang gạo và làm lễ cúng cơm mới. Lễ vật gồm có cơm, cốm, thịt gà và rượu cần. Sau khi thực hiện nghi lễ tạ ơn và xin phép thần linh để gặt lúa, người Hrê mới tiến hành gặt lúa bằng liềm và gánh về nhà. Tiếp đó, mời hàng xóm, họ hàng đến ăn mừng lúa mới.
1.2. Quan niệm và thực hành nghi lễ trong các sự kiện đặc biệt
Quan niệm của người Hrê về tính chất của các loại động vật dùng trong nghi lễ
Với người Hrê, các động vật nuôi như trâu, lợn, gà, chó thể hiện giá trị của tài sản và tích trữ. Những con vật này cũng được sử dụng trong các lễ hiến tế với mục đích thể hiện mức độ quan trọng và cần thiết của mỗi loại nghi lễ khác nhau. Thông thường, người Hrê tế trâu trong những dịp quan trọng như cầu mưa, cầu sức khỏe hoặc khi gia đình có người chết, tế trâu mời cả làng là một nghĩa vụ bắt buộc kể cả với gia đình nghèo. Con vật quan trọng thứ hai đối với nghi lễ là lợn. Lợn cũng được sử dụng trong nghi lễ cầu sức khỏe, cúng cơm mới, cúng cuối năm. Tương tự, gà và chó cũng thường được sử dụng trong các lễ nghi liên quan đến trồng trọt, cầu sức khỏe. Riêng chó ít được sử dụng hơn, chủ yếu dùng cho lễ cầu sức khỏe. Người Hrê quan niệm giá trị kinh tế (giá tiền) của gà và chó thấp hơn so với lợn, do đó chỉ trong những nghi lễ quan trọng, họ mới hiến tế lợn.
Những gia đình giàu có thường sở hữu nhiều con trâu, trong đó trâu nái dùng để sinh đẻ giúp tăng số lượng đàn trâu qua mỗi năm. Khi con trâu nái này được khoảng 7 - 8 tuổi và đã đẻ được vài lứa, lúc này giá trị trên thị trường của con trâu nái không bằng những con khác, người Hrê gọi là trâu già với giá trị kinh tế thấp. Nếu kinh tế gia đình khá giả, họ sẽ tế con trâu già này cho thần linh để cầu sức khỏe và cầu mùa. Thông thường, với một gia đình, lễ tế trâu cầu sức khỏe và cầu mùa chỉ xảy ra khoảng 7 - 8 năm/lần theo chu kỳ đời sống của con trâu nái. Người Hrê rất duy lý trong việc tế trâu, họ không tế trâu khỏe hoặc trâu non, trâu đực vì những con trâu này có giá trị kinh tế cao hoặc dùng để gây giống. Tuy nhiên, khi gia đình có người chết, theo tục lễ cũ, phải tế trâu mời cả làng. Lúc này, người Hrê phải nhờ thầy cúng xem bói giò gà để chọn trâu. Nếu giò gà chỉ về con trâu nái già, họ sẽ tế con trâu này. Tuy nhiên, nếu giò gà chỉ về con trâu đực khỏe thì bắt buộc họ phải tế con trâu đực. Người Hrê quan niệm, mỗi ngón chân gà đều tượng trưng cho một vị thần, khi giò gà chỉ về hướng con trâu nào đó trong chuồng, có nghĩa là thần linh đã chỉ định chọn lựa con trâu đó. Mặc dù con trâu đực có giá trị kinh tế cao nhưng với tín niệm vào thần linh, họ có thể bỏ qua quan niệm duy lý để phục tùng tính chất tối thượng của đức tin vào thần linh.
Nếu so sánh với đặc điểm tiến hóa trong lý thuyết tôn giáo thì quan niệm của người Hrê thuộc vào giai đoạn mạt kỳ của hồn linh giáo giống như hệ thống niềm tin tôn giáo của các tộc người khác ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Tuy nhiên, khác với quan điểm trên, thực tế người Hrê đã hình thành một hệ thống biểu tượng về thần linh: thần linh không chiếm hữu hoàn toàn thực thể trong tự nhiên mà chỉ một số bộ phận của thực thể mang tính biểu tượng cho thần linh. Quan niệm về tôn giáo của người Hrê giàu tính biểu tượng, hình tượng hóa các hiện tượng và sinh vật trong tự nhiên trở thành những thực thể linh thiêng nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần, tìm kiếm chỗ dựa tâm lý và tránh xa các tác động xấu của môi trường bên ngoài. Hệ thống biểu tượng niềm tin tôn giáo này tồn tại song song và có mối quan hệ mật thiết với quan niệm duy lý về trồng trọt, chăn nuôi và những lợi ích thiết thực của hoạt động sinh kế đối với cuộc sống hằng ngày. Hệ thống biểu tượng này hình thành và phát triển trong đời sống của tộc người thông qua sự thích nghi với môi trường tự nhiên với các thành tố cần thiết cho sản xuất và sinh hoạt như nước, đất, núi, cây cối, động vật. Trong quá trình chọn lựa và thích nghi, các yếu tố tự nhiên đã được hình tượng hóa và đưa vào đời sống hằng ngày như một thông lệ về tính thiêng nhằm bảo vệ các thực thể này, từ đó đảm bảo cho nhu cầu sinh kế. Do đó, biểu tượng về động vật là một phần của hệ thống tín ngưỡng cũng như các biểu tượng khác của môi trường tự nhiên. Theo người Hrê, thực hành nghi lễ liên quan đến động vật có ý nghĩa tái tạo và cân bằng môi trường tự nhiên và quan hệ xã hội. Chẳng hạn, việc tế trâu già có giá trị kinh tế thấp sau nhiều lần sinh sản để cầu sức khỏe và cầu mưa cho cả làng vừa có tác dụng loại bỏ những con vật già yếu, bổ sung con vật mới vừa gắn kết tinh thần và chia sẻ lợi ích cộng đồng. Từ quan niệm về chu kỳ cây lúa, con trâu và mối quan hệ giữa chúng với yếu tố sức khỏe của con người và môi trường tự nhiên, cho thấy người Hrê có cái nhìn hệ thống hóa, liên tục thay đổi và tái tạo mang tính chu kỳ theo những nhu cầu thiết thực và khá nặng tính duy lý.
Nghi lễ cầu mưa và cầu sức khỏe theo chu kỳ đời sống của con trâu
Nghi lễ hiến tế trâu diễn ra theo mong muốn của gia đình có điều kiện kinh tế khá giả và sở hữu nhiều trâu. Thông thường, lễ hiến tế diễn ra vào khoảng tháng 6 - 8 âm lịch với mục đích cầu mưa và cầu sức khỏe. Đây là thời điểm nắng nóng nhưng thường xuất hiện mưa giông đột ngột. Đặc điểm khí hậu và địa hình của vùng người Hrê sinh sống tại miền Tây tỉnh Quảng Ngãi khá khắc nghiệt, nắng nhiều gay gắt và mưa nhiều gây xói lở, lũ lụt, tuy nhiên những cơn mưa giông xảy ra vào thời điểm nắng nóng có tác dụng giảm nhẹ cơn nắng nóng gay gắt và có thêm nước tưới cho đồng ruộng. Vì vậy, sau khi kết thúc nghi lễ, ngoài trời thường có mưa giông, đôi khi mưa xảy ra đột ngột vào lúc thực hiện nghi lễ, thời tiết đang nắng nóng chuyển sang lạnh đột ngột. Việc chọn thời điểm hiến tế của người Hrê phù hợp và hài hòa với diễn biến của thời tiết và khí hậu, thể hiện mong ước có đầy đủ nước tưới cho cây lúa và các cây trồng khác sinh sôi, phát triển.
Trước buổi lễ, các thành viên trong gia đình lên núi để tìm kiếm cây về dựng dàn cúng, chuẩn bị khoảng 100 lá pet to để đặt lễ vật lên dàn. Các dàn cúng gồm có 7 cột chống cao trên mặt đất và dựng các cây alot để trang trí. Sau khi đã chuẩn bị xong, người Hrê tổ chức tế trâu trong 4 ngày. Ngày đầu tiên, là lễ cúng ông Trời, thường tổ chức ngoài sân nhà. Cúng ông Trời có ý nghĩa trình báo và cầu mong sức khỏe để chuẩn bị tế trâu vào ngày hôm sau. Ngày thứ 2 chính thức là cúng thần linh, sau đó là lễ cúng ông bà, diễn ra từ 6 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Lễ cúng thần linh diễn ra trước cửa lớn, sau đó, ông thầy cúng đọc bài ta-jeo để mời gọi thần linh, cầu sức khỏe cho các thành viên trong gia đình và cầu mong có mưa, đất tươi tốt và mùa màng bội thu. Vào buổi tối, người Hrê làm lễ cúng ông bà bày tỏ lòng thành kính và biết ơn người quá cố nhằm cầu mong sự phù hộ.
Đến ngày thứ 3, gia đình chuẩn bị thịt trâu, thịt lợn để tiếp đãi khách, họ hàng đến tham dự. Trong ngày thứ 3, người Hrê kiêng cữ không đi xa như lên núi hoặc đến làng khác vì họ cho rằng khi chưa kết thúc lễ cúng, nếu lên núi hoặc đi xa sẽ gặp sự cố bất ngờ như té ngã hoặc công việc gặp nhiều xui rủi. Trước đây, người Hrê kiêng cữ không đi xa trong một ngày, hiện nay họ chỉ cữ một buổi sáng. Ngày cuối cùng, người Hrê tiếp tục mời khách, chiêu đãi, ăn uống, sinh hoạt văn nghệ và kết thúc lễ tế.
Nghi lễ cúng cầu sức khỏe không theo chu kỳ
Ốm đau và bệnh tật là nỗi lo thường trực của người Hrê, nhất là thời gian trước đây khi đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, chưa có cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế. Khi gia đình có người bị ốm, người Hrê tin rằng các thần xấu và ma quỷ đã tác động khiến người đó mắc bệnh tật, do vậy cần thiết phải có một nghi lễ dâng lễ vật để điều đình với thần xấu. Nghi lễ cúng cầu sức khỏe khi bị ốm đau không có tính chất chu kỳ mà có thể xảy ra vào bất kì thời điểm nào trong năm khi gia đình có người thân ốm đau, bệnh tật. Kể cả khi người thân trong gia đình không có dấu hiệu bệnh tật, song người Hrê vẫn thực hiện một nghi lễ cúng sức khỏe vào dịp gần tết hoặc một thời điểm nào đó thích hợp. Như vậy, cúng cầu sức khỏe là một trong nghi lễ quan trọng, diễn ra theo nhu cầu của từng gia đình và không theo chu kỳ.
Nghi lễ cúng sức khỏe gồm hai phần chính: hiến tế và cúng tế. Nghi lễ cúng cầu sức khỏe bao gồm các nghi thức hướng đến các vị thần xấu để tìm kiếm một giải pháp giảng hòa và điều đình với thần linh xấu. Ngoài ra, còn hướng đến các thần linh trên phạm vi vùng rừng, rẫy, đồng ruộng và đường đi. Người Hrê cho rằng tại mỗi địa điểm sinh hoạt của con người đều có thần linh cư trú, bao gồm thần tốt và thần xấu, do đó đều ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người. Sau khi hiến tế, thầy cúng đọc ta-jeo với mục đích mời thần linh đến ăn uống rồi xin keo để hỏi về các vấn đề như: “người nhà muốn đi đường này, đi làm ăn, đi chợ, buôn bán, xin gieo mạ, xuống ruộng, xin cây ngã không trúng người, không té ngã trên rẫy, không bị tai nạn lúc lái xe… thần linh có cho phép hay không?” (theo thầy cúng Đinh Văn Xiêng), nếu xin được keo thì đó là dấu hiệu thần linh đồng ý và chỉ đường. Trong niềm tin vạn vật đều có linh hồn và thần linh, người Hrê liên tưởng giữa tập tính của con vật với phạm vi kiếm ăn và trú ngụ của nó. Tại mỗi phạm vi này cũng có những vị thần hoặc ma quỷ, chẳng hạn, cúng gà để xin cho việc đi lên rẫy và đi làm ăn; cúng chó dành cho các loại ma tà sinh sống quanh sân và các xó xỉnh trong sân, nhà. Sau khi kết thúc nghi lễ, gia đình tổ chức nấu nướng và ăn uống để đãi bà con, họ hàng hoặc hàng xóm láng giềng.
Nghi lễ cầu phước: sức khỏe, làm ăn, đi lại, trồng trọt theo chu kỳ
Vào dịp cuối năm, người Hrê có một số nghi lễ để thể hiện niềm biết ơn tổ tiên và thần linh, đặc biệt là cầu mong sức khỏe cho gia đình và thuận lợi trong trồng trọt. Họ có hai nghi lễ rất độc đáo, diễn ra theo chu kỳ vài năm một lần và thường tổ chức vào những ngày cuối năm, là nghi lễ cham-ma-hao (cúng sau nhà): 2 - 3 năm/lần và la-ha-van (cúng cửa trước): 1 - 2 năm/lần. Tùy theo điều kiện kinh tế và thời gian, khoảng vài năm mỗi gia đình mới tổ chức hai loại nghi lễ này. Ngoài việc tế cúng thần linh, nghi lễ cham-ma-hao còn có tính chất của loại nghi thức tổng hợp, bao gồm cầu sức khỏe, cầu tài, cầu làm ăn. Nghi lễ la-ha-van có tính chất thuần túy cúng giỗ ông bà tổ tiên đã khuất. Hai nghi lễ này thường được tổ chức vào dịp cuối năm khi các gia đình đã thu hoạch lúa mới, hoàn tất công việc của năm cũ và chuẩn bị đón năm mới.
* Nghi lễ cham-ma-hao:
Trước ngày cúng, các thành viên trong gia đình lên núi tìm các loại cây và lá dùng để làm dàn, trụ chống và chứa đồ cúng. Gia chủ cũng dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị lễ vật để cúng tế. Người chủ gia đình tìm đến thầy cúng để xem ngày và mời thầy cúng có khả năng tế lợn hoặc tế trâu làm chủ lễ. Từ sáng sớm, các thành viên trong gia đình, thầy cúng và những người họ hàng, hàng xóm tập trung sau nhà chuẩn bị cho buổi tế lễ. Công việc chuẩn bị thường được giao cho các chàng trai trẻ, họ chẻ cây đót để làm cái prang (tượng trưng cho bàn thờ), đan các thanh cây đót để làm dàn cúng. Cái prang được đan từ các thanh đót mỏng (kiểu đan nong mốt), có hình vuông, cạnh dài khoảng gần 25cm, trên mặt prang kết các lá (lá là-tea) phủ kín prang. Prang được dùng cho nghi lễ cúng thần cửa và các thần linh khác trong nhà, diễn ra trước lễ cúng chính thức sau nhà. Dàn cúng gồm có 7 cột chống, cách 1 mét so với mặt đất, có hình chữ nhật với chiều dài khoảng nửa mét, chiều rộng khoảng 60cm. Dàn cúng được đặt tại một góc vườn sau nhà, ở nơi thông thoáng hướng ra phía sông suối, không có cây lớn che phủ. Trên mặt dàn cúng là nơi đặt đồ cúng, cạnh sau của dàn cúng là nơi đặt 5 cây alot. Cây alot có thân tròn, rỗng ruột, mảnh, dài khoảng 2m, được vót nhẵn, gần một nửa thân trên được chẻ thành 4 phần. Thân cây khá dẻo, 4 cạnh tách ra từ nửa trên tạo thành một hình kim tự tháp ngược, phần đỉnh gắn liền với phần thân dưới, tại đó, người Hrê khắc 7 vạch tròn xung quanh thân cây tượng trưng cho vía của một người, phần trên cùng của cây alot (chân của kim tự tháp ngược có hình tam giác) là nơi gắn với hai lá là-tea xếp chồng lên nhau (khoảng một bàn tay của người lớn). Đây là nơi để đồ cúng, đôi đũa (được vót từ một mảnh thân cây a lot) và một ly rượu (làm từ lá là-tea). Trên mặt lá hình tam giác, tại trung tâm được gắn một thanh cây a lot mảnh, nối từ 7 vạch khắc lên cao (hướng lên trời), trên đỉnh treo một sợi chỉ dài nối xuống lá là-tea, trên sợi chỉ này, có 7 nốt tượng trưng cho linh hồn người (được tạo thành từ bông gòn và sáp ong). Có tất cả 5 cây alot, gắn chặt với nhau tạo thành hình quạt, được thầy cúng mang vào trong nhà, sau đó dựng sau cái dàn cúng để tế thần Trời. Ngoài ra, họ cũng tự tạo nhang cúng bằng sáp ong và giấy.
Đầu tiên, nghi lễ uống rượu phép được tổ chức trong nhà gần cửa lớn. Các thành viên trong gia đình ngồi theo vòng tròn dưới sàn nhà, người đàn ông chủ nhà rót rượu cho mọi người, thầy cúng nâng rượu lên và đọc bài ta-jeo mời thần linh, tổ tiên, sau đó các thành viên mới được phép uống rượu.
Sau khi lễ uống rượu phép kết thúc, các chàng trai đã mang về một con lợn lông đen để làm lễ cúng thần linh ở cửa nhà. Người đàn ông chủ nhà nối dây treo con lợn lên trước cửa nhà. Ông thầy cúng chuẩn bị một cái prang, cây pa-nấy, đốt hương trầm cùng với các thành viên của gia đình ngồi quây quần gần cửa nhà. Ông thầy cúng đọc một bài ta-jeo với nội dung trình báo với thần linh, tổ tiên về lý do của buổi lễ, mời gọi thần linh về dự lễ và cầu mong thần linh phù hộ và ban những điều tốt lành đến các thành viên trong gia đình. Mỗi người đều úp hai bàn tay và đưa về phía trước trong khi thầy cúng làm lễ và đọc ta-jeo. Tiếp theo, thầy cúng khấn bài ta-jeo để dâng tặng lễ vật cho thần linh. Lúc này, người chủ gia đình đặt một cái khăn lên vai thầy cúng. Đây là một chi tiết rất quan trọng thể hiện sự thỏa thuận giữa chủ nhà và thầy cúng. Chiếc khăn này có tên là pai-pa-dui, tượng trưng cho quyền được chủ trì buổi lễ của thần linh trao cho thầy cúng. Khăn pai-pa-dui dài khoảng hai gang tay, có hình chữ nhật, được làm từ một mảnh vải cotton màu trắng, song qua thời gian chiếc khăn này đã ngả màu lấm tấm vàng đen, chứng tỏ đã trải qua một thời gian dài được sử dụng trong các nghi lễ cúng tế. Khăn pai-pa-dui thuộc về sở hữu của gia đình đang thực hiện nghi lễ, sau khi trao cho thầy cúng, bắt buộc phải được đặt trên vai phải của thầy cúng trong lúc tiến hành nghi lễ. Khi kết thúc nghi lễ, thầy cúng sẽ mang khăn pai-pa-dui về nhà và giữ suốt một đêm, đến sáng hôm sau ông ấy mới mang lại trao trả cho chủ nhà, tiếp đó chủ nhà trả tiền công cho thầy cúng và cất giữ chiếc khăn này trong nhà ở một nơi rất quan trọng và kín đáo như tủ quần áo hoặc nơi để đồ vật quý hiếm. Khi có nghi lễ, gia đình sẽ mang ra sử dụng với ý nghĩa tượng trưng cho sự thỏa thuận, trao trả công cho thầy cúng, đồng thời thể hiện biểu tượng về quyền lực của thần linh đối với việc cúng tế của thầy cúng và gia đình. Trong thời gian đặt khăn pai-pa-dui lên vai, thầy cúng tiếp tục khấn ta-jeo, người chủ nhà thay đổi cái khay than và trầm bằng cái prang.
Trong thời gian này, những người đàn ông chuẩn bị và sắp đặt dàn cúng phía sau nhà. Lúc này, các thành viên trong gia đình tập trung tại cửa nhà để nghe thầy cúng khấn ta-jeo. Thầy cúng dâng lên cho thần linh một con gà trống tơ, năm cây alot và một con lợn lông đen còn sống. Sau đó, thầy cúng mang các cây alot ra sau nhà, những thành viên trong gia đình mang theo ba cái khay đựng cốc uống rượu, lá là-tea, khăn pai-pa-dui, trầu cau và các đồ cúng khác như men rượu, sáp ong, cùng theo sau thầy cúng. Tại một địa điểm sau nhà, trước cái dàn cúng đã được dựng xong, họ để các khay trên xuống đất, lấy củi tươi đang cháy dập lửa để lấy khói và hơi nóng thay cho trầm để hơ tay và các đồ cúng. Thầy cúng tiếp tục khấn ta-jeo, các thành viên trong gia đình làm lễ trình báo và cầu khấn thần linh giống như nghi lễ mở đầu khi cúng thần linh trong nhà.
Khi cúng ông Trời ở sau nhà, người Hrê không sử dụng cái prang, họ thay thế bằng cái dàn cúng lớn hơn. Thầy cúng tiếp tục khấn ta-jeo và một người trong gia đình rót rượu cho thầy cúng và các thành viên còn lại. Đây không phải là lễ uống rượu phép mà tượng trưng cho quá trình tiếp nhận sự phù hộ của thần linh. Thầy cúng tay cầm cốc rượu, khấn ta-jeo cho các thành viên trong gia đình biết về sự phù hộ và chấp thuận của thần linh để nghi lễ tiếp tục diễn ra. Kết thúc khấn ta-jeo, thầy cúng rót rượu lên đầu lợn, các thành viên khác cũng làm theo, sau đó họ uống hết chén rượu còn lại như một cách thức đón nhận sức khỏe và may mắn.
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ đồ vật dâng cúng, ông thầy cúng tiến hành một nghi thức chính thức mở màn cho nghi lễ cúng thần Trời. Khi một số cái đáp được đặt đầy đủ bên dưới dàn cúng, thầy cúng khấn ta-jeo để thông báo chính thức với thần Trời về nghi lễ sắp diễn ra, đồng thời dâng cúng lễ vật lên cho thần Trời, các lễ vật này phải đảm bảo được hơ nóng trên đám khói cùng với bài khấn ta-jeo của thầy cúng. Trong đó, quan trọng nhất là cái đáp để trầu cau và năm phần đồ cúng. Sau đó, thầy cúng chỉ lấy một cái đáp lớn nhất để làm lễ tượng trưng. Tiếp theo, người phụ giúp kết nối năm cây alot đằng sau cái dàn cúng, đặt năm phần đồ cúng lên trên lá là-tea của cây a lot với ý nghĩa là truyền đến một năng lực sống cho cây alot. Họ cũng rót rượu lên năm cái cốc làm bằng lá là-tea để làm thức uống cho thần linh. Năm cây alot gắn lá là-tea để đựng lễ vật và dây vía, được gắn dưới mặt đất, tượng trưng cho cây truyền dẫn linh hồn với ý nghĩa tạo nên mối liên kết trực tiếp giữa linh hồn con người với thần linh, và trở thành phương tiện để các thầy cúng (pajau) xuất hồn giao tiếp với thần linh thông qua các bài khấn ta-jeo.
Lúc này, trên dàn cúng, năm cây alot đã được sắp đặt đầy đủ năm phần lễ vật, thầy cúng đọc bài ta-jeo để cầu xin thần Trời phù hộ sức khỏe, làm ăn, đi lại, lên rừng, lên rẫy, trồng lúa cho gia đình. Với mỗi lời cầu xin, thầy cúng đều phải làm thủ tục thêm rượu, thêm men vào các cốc rượu đặt trên lá là-tea. Ngoài việc dâng cúng thần Trời và các thần linh khác thuộc các cõi Trời và cõi nước, trong nghi lễ này người Hrê cũng cúng các đối tượng khác là ma quỷ, các thần linh ở cấp thấp và thần xấu. Những đối tượng này được quan niệm là sống quanh quẩn trong thế giới của ma và thần nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người, trong đó một số loại ma có thể sống trong vườn nhà, trong xó xỉnh có thể gây hại đến sức khỏe của trẻ nhỏ và người ốm đau.
Số lượng của cây alot và các đáp tượng trưng cho thần linh ở các phương, các cõi thế giới. Khi người chủ nhà thắp nến sáp ong trên các cây alot, thầy cúng khấn ta-jeo với nội dung cảm tạ sự phù hộ của thần linh, mong muốn tiếp tục nhận được sự bảo trợ của thần linh, gửi lời cầu xin của gia đình đến thần linh; sau mỗi lời cầu xin, thầy cúng sử dụng cái pa-nấy để xin keo, khi hai cái pa-nấy một úp một ngửa thì chứng tỏ thần linh đã chấp nhận lễ vật và lời cầu xin, thầy cúng lại tiếp tục gửi những lời cầu xin khác và làm thủ tục xin keo. Trong thời gian thầy cúng cầu khấn và xin keo, các thành viên của gia đình dâng rượu lên thần linh và uống hết phần rượu còn lại. Những người họ hàng, hàng xóm đến tham dự cũng dâng rượu lên thần linh. Trước đây, mỗi người đến tham dự lễ cúng thường mang theo lễ vật là gạo hoặc rượu. Hiện nay, họ sử dụng tiền mặt thay cho lễ vật. Vì thế, trong gia đình sẽ cử ra một thành viên ghi chép lại số tiền của từng người để thuận tiện cho việc thăm hỏi sau này.
Khi việc thăm hỏi của họ hàng, hàng xóm kết thúc là thời điểm dành cho những thành viên trong gia đình ngồi dưới dàn cúng, hai bàn tay ngửa đưa lên cao hướng về phía thầy cúng để nhận lấy lộc và lời ban phát của thần linh. Trong quá trình thầy cúng đọc bài ta-jeo, người Hrê tin rằng thầy cúng có quyền thông ngôn và giao tiếp với thần linh, các bài ta-jeo chứa đựng những lời cầu xin đã được thầy cúng gửi đến thần linh và được thần linh chấp nhận. Các cây alot tượng trưng cho vật truyền dẫn linh hồn thầy cúng đến với các thần linh, sau khi quay trở lại, thầy cúng sẽ mang những lời dặn dò của tổ tiên và thần linh đến với các thành viên trong gia đình. Nghi lễ cúng sau nhà kết thúc bằng lời cảm tạ của thầy cúng, gia đình thụ nhận lễ vật từ dàn cúng và mang ra chiêu đãi khách. Người Hrê tin rằng bên cạnh thần tốt còn có các thần xấu và ma quỷ sống gần con người, do đó, họ để lại trên dàn một ít đồ cúng, cho đến khi có một lễ cúng khác thay thế. Thầy cúng cùng các thành viên trong gia đình chia sẻ rượu tượng trưng cho sự ban ơn của thần linh. Phần lễ vật dâng cúng được sử dụng để chiêu đãi họ hàng, hàng xóm. Người Hrê quan niệm rằng phần lễ vật cúng ông Trời ở sau nhà không được mang vào nhà và không được chia cho khách mang về nhà. Do đó, họ phải sử dụng hết tại chỗ, nếu không hết, sẽ tiếp tục chiêu đãi khách vào ngày hôm sau. Sau khi hoàn tất các thủ tục cúng sau nhà, thầy cúng bói chân gà để tiên đoán công việc cho năm mới.
Lễ cúng ở cửa nhà được tiếp tục sau khi chuẩn bị đầy đủ các lễ vật. Người Hrê quan niệm tại mỗi địa điểm cúng trong lễ cham-ma-hao là trước cửa và sau nhà đều phải thực hiện đầy đủ lễ cúng. Họ linh hoạt kết hợp giữa lễ cúng trong nhà và sau nhà để tiến trình nghi lễ không bị ngắt quãng. Các nghi thức mở đầu cho lễ cúng ở cửa nhà cũng giống như lễ cúng sau nhà. Đầu tiên, thầy cúng khấn ta-jeo trình bày với thần linh và tổ tiên về lễ vật và lý do thực hiện nghi lễ. Sau đó, sử dụng khói trên đám củi để hơ nóng cái prang, lễ vật như một thủ tục để tẩy xú uế trước khi dâng lên cho thần linh. Trong nghi lễ này, chi tiết quan trọng nhất là người phụ nữ chủ nhà đội cái prang trên đầu để thay mặt gia đình thụ nhận sự bảo trợ của thần linh. Người Hrê quan niệm trong tất cả các nghi lễ cúng vía, cúng hồn, cúng cầu sức khỏe, chỉ có người phụ nữ chủ nhà mới được phép đội cái prang trên đầu vì người phụ nữ trong gia đình có trách nhiệm giữ cửa, giữ lúa gạo, giữ tiền của và là người có phúc đức chăm sóc cho cả gia đình. Người đàn ông chủ gia đình thắp nến trên prang, thầy cúng khấn ta-jeo và dâng rượu cho thần linh. Thầy cúng khấn xin thần linh phù hộ cho người phụ nữ chủ nhà, sau đó xin keo và truyền lại sự may mắn cho các thành viên trong gia đình. Thầy cúng tiếp tục đọc ta-jeo để gởi lời cầu xin về những công việc trong cuộc sống hằng ngày của gia đình. Người đàn ông chủ nhà treo cái prang lên trên cửa và gìn giữ cho đến nghi lễ tiếp theo, sau đó mới thay bằng cái mới. Gia chủ làm cơm mời khách và tặng lễ vật. Đến buổi tối, mọi người tập trung múa hát, trình diễn ca lêu, ca choi.
* Nghi lễ la-ha-van: diễn ra theo các trình tự giống với nghi lễ cham-ma-hao. Tùy theo điều kiện của gia đình, có thể cúng gà hoặc lợn. Địa điểm tổ chức ở trước nhà. Khác với nghi lễ cham-ma-hao, mục đích của nghi lễ la-ha-van là cúng mời ông bà tổ tiên trước, sau đó mới đến thần Trời và các thần linh khác. Không gian trước nhà và sau nhà có sự khác biệt theo quan niệm, trước nhà là không gian chính, mở rộng ra đường đi và hàng xóm láng giềng; sau nhà là không gian phụ.
1.3. Quan niệm và thực hành nghi lễ vòng đời
Lễ cúng lấy vía cho trẻ em khi mới sinh ra và lớn lên
Trong quan niệm của người Hrê, mỗi thời khắc quan trọng của việc sinh ra, trưởng thành và chết đi của một thành viên có ý nghĩa quan trọng đối với các thành viên khác của gia đình, dòng họ và cộng đồng làng. Tương tự như các tộc người khác, người Hrê có hệ thống nghi lễ theo vòng đời người để xác nhận một sự kiện quan trọng xảy ra trong cuộc đời của một người.
Khi trẻ em mới sinh ra, người Hrê tin rằng cần có một lễ cúng để giữ sức khỏe cho đứa bé. Người Hrê quan niệm con người có linh hồn, tượng trưng bằng thể vía. Khi còn bé, hồn vía yếu, các thần linh xấu thường gây ảnh hưởng xấu đến đứa bé, vì vậy, người Hrê làm lễ cúng lấy vía cho đứa bé và đặt một cái tên giả để đánh lừa các thần xấu.
Lễ cúng lấy vía diễn ra sau 20 ngày em bé sinh ra. Lễ lấy vía cho em bé diễn ra trước cửa giữa (cúng thần cửa). Đến khi em bé chập chững biết đi, gia đình thực hiện một lễ cúng thần nước ở gần bờ ruộng. Khi cúng ở cửa giữa, phải làm một cầu thang bằng thân cây đót nối từ đất lên bậc cửa để tượng trưng cho con đường vía đi vào nhà. Lễ cúng lấy vía thường diễn ra vào thời điểm ban ngày với đầy đủ các thành viên trong gia đình. Với nghi lễ này, người đàn ông chủ nhà hoặc thầy cúng thực hiện lễ hiến tế một con gà trống tượng trưng cho sự khỏe mạnh và may mắn. Sau đó, thầy cúng đọc bài ta-jeo mời gọi thần linh, cầu mong thần linh ban sức khỏe cho em bé, rồi sử dụng cây pa-nấy xin keo hỏi thần linh để chắc chắn rằng vía đã theo cầu thang lên nhà. Khi vía đã về, thầy cúng làm một sợi chỉ tượng trưng cho dây buộc vía hay dây vía: trên sợi dây này gồm có bảy nốt tượng trưng cho vía người, được làm từ sáp ong và bông gòn. Với mỗi người, ai cũng có rất nhiều dây vía từ lúc mới sinh ra cho đến khi chết đi. Dây vía được đeo vào tay trẻ nhỏ trong thời gian từ 3 - 5 ngày để đảm bảo sức khỏe. Lễ cúng lấy vía kết thúc bằng một buổi chiêu đãi của gia đình.
Khi đứa bé lớn lên và biết đi, lúc này môi trường hoạt động của đứa bé mở rộng ra ngoài phạm vi ngôi nhà, đó là con đường quanh nhà, ruộng vườn, sông nước và rừng núi. Với quan niệm như trên, người Hrê cho rằng cần phải cúng các thần linh cai quản các địa vực khác nhau như một cách trình báo với thần linh về sự gia nhập của đứa bé vào môi trường ngoài phạm vi ngôi nhà, nhằm giúp cho đứa trẻ khỏe mạnh và thuận lợi khi theo bố mẹ ra ruộng, lên nương, đi rừng núi. Nếu không cúng các thần linh trên, người Hrê tin rằng đứa bé chưa nhận được sự bảo hộ của thần linh, nhất là bị thần nước quở phạt, do đó đứa bé sẽ thường xuyên ốm đau và thiếu sức khỏe. Lễ cúng lấy vía được tiến hành gần bờ suối hoặc bờ ruộng với mục đích mong muốn đứa trẻ ăn nhiều cơm, có sức khỏe và lớn lên khỏe mạnh. Nghi lễ này diễn ra tương tự với nghi lễ lấy vía đã trình bày ở trên. Gia đình cũng làm một cái cầu thang bằng cây đót để gần bờ ruộng, gieo cây pa-nấy để hỏi thần linh và được thần linh cho phép vía đi theo đứa bé. Đặc biệt là thầy cúng hát ta-jeo cầu mong thần nước bảo vệ cho đứa bé. Sau đó, đứa bé được đeo vào tay dây vía và người mẹ lấy một ít nước để lên đầu để làm phép.
Khi đứa trẻ trong độ tuổi học tiểu học, gia đình thường thực hiện lễ cúng vía nhằm bảo vệ vía khi đứa trẻ có dấu hiệu đau ốm, lười học, lười ăn hoặc bị đau ốm. Khi càng trưởng thành, nghi lễ cúng lấy vía dần dần được thay đổi sang nghi lễ cúng sức khỏe cho trẻ em, dù vậy họ vẫn làm các dây vía để đứa trẻ đeo vào tay. Mục đích của nghi lễ cúng sức khỏe là cầu mong thần linh phù hộ cho đứa trẻ có sức khỏe tốt, ăn nhiều, ngủ ngon.
Đám cưới
Trong đời sống của người Hrê, chế độ 1 vợ - 1 chồng được cộng đồng tôn trọng và khuyến khích, mặc dù cũng cho phép những trường hợp đa thê, tuy nhiên, người chồng chỉ được cưới thêm vợ khi vợ cả chết hoặc được sự đồng ý của vợ cả. Người Hrê lấy họ Đinh (tại Quãng Ngãi và Bình Định) gần như là họ duy nhất còn lại cho đến ngày nay. Gia đình Hrê có dấu ấn tồn tại song song giữa mẫu hệ và phụ hệ, người phụ nữ trong gia đình có tiếng nói đối với các quyết định quan trọng, giữ gìn tài sản và chăm sóc gia đình. Trong quan niệm của người Hrê, trai gái đến tuổi lấy chồng lấy vợ, hai bên gia đình sẽ nhờ bà mối của hai gia đình qua lại để tạo niềm gắn kết. Họ không phân biệt gái theo chồng hoặc chồng theo vợ mà tùy theo thỏa thuận của đôi vợ chồng. Việc dựng vợ, gả chồng của người Hrê chủ yếu dựa trên tình cảm của đôi nam nữ hoặc trong một số trường hợp hai gia đình đã hứa gả từ khi con cái còn nhỏ. Người Hrê không đặt nặng yếu tố tầng lớp xã hội mặc dù việc chọn vợ gả chồng dựa trên nguồn lực vật chất của nam hoặc nữ vẫn có thể xảy ra. Tuy nhiên, người Hrê đặt vấn đề tình cảm lên trên hết, họ không mong muốn sự áp đặt, bắt ép mà tôn trọng nguyên tắc tự do tìm hiểu và kết hôn. Vấn đề hôn nhân của đôi trẻ phải được gia đình, cộng đồng công nhận và vun đắp. Vì vậy, trước khi tổ chức kết hôn, gia đình hai bên thường xuyên qua lại hỏi thăm và chia sẻ, trao đổi của cải và giúp đỡ nhau trong công việc hằng ngày. Vì vậy, hôn nhân của người Hrê không chỉ đặt trên nền tảng của tình cảm nam nữ mà còn có tính liên kết giữa họ với gia đình hai bên để cùng đi đến đồng thuận và tương trợ.
Thông thường, để tiến hành một lễ cưới phải trải qua ba giai đoạn: mai mối - dạm hỏi, kết thông gia và tổ chức cưới. Đầu tiên, bà mối là người có khả năng nói chuyện đến hỏi đôi trai gái có ưng thuận nhau hay không rồi đến thông báo cho cả hai gia đình để làm lễ dạm hỏi. Khi đôi trai gái đã đồng ý mai mối và dạm hỏi, nhà gái gánh khoảng 20 - 30 bó củi to mang sang nhà trai. Sau đó, người nhà trai sẽ làm công trả lại cho nhà gái tùy theo số lượng bó củi (nhà gái mang sang nhà trai bao nhiêu bó củi thì nhà trai sẽ làm công cho gái tương ứng với bấy nhiêu ngày). Khoảng từ 5 ngày trở lên sau khi nhà gái gánh củi sang, chàng trai sẽ sang nhà gái để làm công trả lại. Hai gia đình trao đổi lễ vật và tương trợ nhau trong sản xuất là biểu hiện của việc kết thông gia. Sau thời gian thăm hỏi nhau, bà mối sẽ thông báo cho hai gia đình biết ngày cưới. Lễ cưới thường diễn ra trong một ngày, vào thời gian đón dâu, nhà trai tổ chức nghi lễ rước dâu. Nghi lễ này thường diễn ra trong nhà, lễ vật gồm trầm, cơm, thịt và trầu cau. Thầy cúng đốt trầm và cầu xin thần linh phù hộ cho đôi vợ chồng mới cưới, chúc phúc cho gia đình có thêm con dâu con rể. Sau đó, gia đình sẽ đãi khách mời, gồm thịt lợn, bánh tét, rượu cần.
Tang ma
Người Hrê không phân biệt các kiểu chết theo tuổi tác, người chết trẻ hay chết già đều được hưởng một nghi lễ tang ma giống nhau, riêng chết nước và chết trên núi (hổ vồ) là cái chết xấu và thiêng. Khi người chết nước hoặc bị hổ vồ, người chết được để ngoài sân, kiêng kị không được mang xác chết vào nhà vì người Hrê cho rằng một cái chết xấu sẽ mang đến nhiều điều không may mắn cho gia đình, nếu mang vào nhà những điều xấu sẽ theo vào nhà, ảnh hưởng xấu đến các thành viên trong gia đình khiến họ không thuận lợi trong công việc hằng ngày. Nếu người chết trên núi, người nhà sẽ chôn trên núi. Mỗi năm, gia đình sẽ làm lễ cúng giỗ cho người chết. Thông thường, người chủ gia đình sẽ đến gặp thầy cúng để chọn một ngày tốt nhất trong năm thực hiện lễ cúng cho tất cả các thành viên đã qua đời của gia đình.
Khi gia đình có người chết, người Hrê chỉ để người chết trong nhà một thời gian ngắn rồi mang đi chôn. Họ vẫn còn lưu giữ tục lệ ăn trâu để cúng ma cho người chết. Nếu gia đình không có điều kiện, sẽ được miễn cúng trâu và thay vào đó là cúng bò, cúng lợn. Tuy nhiên, nếu gia đình chỉ có một con trâu thì bắt buộc phải cúng con trâu, kể cả các gia đình neo đơn. Lễ cúng trâu đi liền với tục chia của cho người chết, là một trong những tục lệ quan trọng vẫn còn thực hiện cho đến ngày nay. Trước khi ăn trâu, người nhà lên núi tìm cây về lập dàn cúng, sau đó mờ thầy cúng đến thực hiện nghi lễ, tổ chức tại sân nhà. Thầy cúng là người biết khấn ta-jeo, ngoài việc cầu xin thần linh và ngăn chặn các ma xấu làm hại, thầy cúng còn là người có khả năng dẫn dắt linh hồn của người chết đi về đúng nơi cư ngụ ở thế giới bên kia thông qua hát ta-jeo, giúp những thành viên còn lại trong gia đình nhận biết về sự ra đi của linh hồn và thực hiện nghĩa vụ chia của cho người chết. Tục chia của thường diễn ra rất hoành tráng trong những gia đình giàu có. Thông thường, người Hrê chia một số bộ phận của con trâu cho người chết như sừng, đầu, cặp chân, đuôi, đồng thời họ còn chia chén, nồi đồng. Ngày trước, người Hrê chôn các đồ vật trên theo người chết. Sau đó, họ lo sợ kẻ trộm sẽ đào mộ để lấy đồ đạc, do đó hiện nay họ để lại của đã chia trên nấm mộ người chết. Kết thúc nghi lễ tang ma, gia chủ chiêu đãi ăn uống và hát ca lêu, ca choi.
Từ quan niệm và thực hành nghi lễ trên, việc thờ cúng của người Hrê đã trình bày ở trên, có thể kết luận về nguyên tắc và tiến trình nghi lễ như sau:
Nguyên tắc thờ cúng nảy sinh từ nhu cầu kiếm soát những điều rủi ro và không may trong cuộc sống hằng ngày. Nguyên tắc này được hình thành từ mong muốn thiết lập một mối quan hệ hài hòa và gắn kết giữa con người với tự nhiên, thế giới của ma và các vị thần. Tổ chức và thực hiện nghi lễ là quá trình làm mới và tái tạo các mối quan hệ và sự gắn kết của cộng đồng. Việc thực hiện các nguyên tắc thờ cúng cũng là cách thức để duy trì luật lệ trong cuộc sống hằng ngày, sản xuất và đối xử của con người với các thực thể khác.
Tiến trình nghi lễ: một nghi lễ thông thường được diễn ra với bốn giai đoạn chính: giai đoạn chuẩn bị, hiến tế, cúng tế và tiệc đãi khách mời. Tiến trình nghi lễ thể hiện rõ rệt sự phân công lao động giữa các thành viên trong gia đình, cộng đồng, đồng thời cũng phản ánh sự chuyên môn hóa. Đó là vào hai giai đoạn chính (hiến tế và cúng tế), thầy cúng trực tiếp thực hiện. Thầy cúng là người đại diện và thay mặt cộng đồng để tương tác với thế giới thần linh, được cộng đồng tôn trọng và có uy quyền nhất định đối với một khu vực cư trú.
2. Một số biến đổi về quan niệm và thực hành nghi lễ
Trước và sau năm 2000, quan niệm và thực hành nghi lễ của người Hrê đã có sự thay đổi đáng kể. Những phát hiện này được chứng minh từ quá trình so sánh tư liệu nghiên cứu của các học giả nước ngoài và trong nước viết về người Hrê vào nhiều thời kỳ khác nhau với quá trình quan sát tham gia vào cuộc sống của người Hrê ở thời điểm hiện nay. Bên cạnh đó, việc khai thác những câu chuyện của ông Đinh Văn Xiêng, Đinh Văn Bui và bà Đinh Thị Thắm cũng cho thấy quá trình biến đổi quan niệm và thực hành nghi lễ. Với kinh nghiệm làm thầy cúng, ông Xiêng và ông Bui đã có những trải nghiệm rất sâu sắc về sự tác động của quá trình biến đổi kinh tế - xã hội đến quan niệm và thực hành nghi lễ.
Về khía cạnh kinh tế, sản xuất nông nghiệp với cây lúa là nguồn lương thực chính đã đóng góp quan trọng vào bữa ăn hàng ngày, nâng cao thu nhập và đặc biệt là hình thành nên văn hóa tín ngưỡng gắn với cây lúa, cụ thể là nghi lễ theo chu kỳ đời sống của cây lúa cùng với tín niệm về thần linh và vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình được quy gán cho biểu tượng thần lúa.
Có hai quá trình chuyển đổi quan trọng của sản xuất lúa dẫn đến thay đổi thực hành nghi lễ, cụ thể là:
i) Chuyển đổi về loại hình sản xuất lúa: từ trồng lúa rẫy sang trồng lúa nước
ii) Chuyển đổi về kỹ thuật sản xuất lúa: từ kỹ thuật gieo trồng của người Hrê sang ứng dụng kỹ thuật sạ lúa, bón phân và sử dụng máy móc của người Kinh.
Tùy theo địa vực cư trú, người Hrê có thể trồng lúa nước ở vùng thấp hoặc sản xuất nương rẫy ở vùng cao. Lúa nước là một loại hình sản xuất được người Hrê du nhập từ rất lâu đời với phương pháp dẫn thủy nhập điền và chịu ảnh hưởng từ người Chăm và người Kinh (Lưu Hùng, 1981, 1982). Theo thông tin hồi cố của ông Đinh Văn Xiêng và Đinh Văn Bui, lúa nước xuất hiện từ đầu thế kỉ XX hoặc trước đó rất lâu. Giữa thế kỉ XX, gia đình ông Xiêng sản xuất song song giữa lúa nước và lúa rẫy, so với diện tích trồng lúa nước, diện tích nương rẫy rất hạn chế, dùng để trồng lúa rẫy và một số cây hoa màu. Khi trồng lúa nước, người Hrê sử dụng kỹ thuật gieo mạ, cấy lúa, gặt lúa và sử dụng cuốc, cày giống người Kinh. Họ còn làm mương dẫn nước và sử dụng nguồn nước mưa tự nhiên. Trong một năm, người Hrê trồng hai vụ chính là đông - xuân và hè - thu. Hình thức canh tác lúa nước đã giúp người Hrê thu hoạch năng suất cao hơn, đảm bảo đủ ăn và không lo thiếu đói. Mặc dù vậy, họ vẫn sử dụng các thực hành nghi lễ mô phỏng từ trồng lúa rẫy. Từ giai đoạn chuẩn bị gieo mạ, cấy lúa cho đến thu hoạch, người Hrê đều thực hiện nghi lễ. Khác với trồng lúa rẫy, ruộng lúa nước gần nhà và gần đường đi, dễ dàng mang lúa về nhà, gia đình không cần phải giăng dây để dẫn thần lúa nhập kho thóc. Họ vẫn dựng các chòi canh lúa, song không sử dụng kỹ thuật đánh dấu vị trí của ruộng lúa. Đặc biệt, trong các ruộng lúa nước, không có khóm ruộng thiêng như lúa rẫy, rất ít gia đình sử dụng ruộng thiêng, phần lớn họ cúng tế gần bờ ruộng hoặc trong sân nhà. Vì thiếu các khóm ruộng thiêng, tính tượng trưng của hành động thâu tóm linh hồn lúa của người đàn bà chủ nhà không còn thể hiện rõ. Trước khi thu hoạch lúa, người đàn bà chủ nhà sẽ gặt một ít lúa ở một nơi bất kì trong ruộng lúa để làm bữa cơm mới đãi gia đình và họ hàng. Khi chuyển đổi hình thức trồng lúa, người Hrê vẫn tiếp tục duy trì tín niệm về hồn lúa và thực hành nghi lễ để thâu tóm linh hồn cây lúa với mong muốn cây lúa phát triển tốt hơn. Tuy nhiên, điều kiện môi trường tự nhiên và kỹ thuật canh tác lúa nước khác biệt so với lúa rẫy, do đó, người Hrê đã chắt lọc một số thực hành cơ bản, từ đó làm mất dần những khóm ruộng thiêng hay nói cách khác một số không gian thiêng, đồ vật thiêng đã dần dần vắng bóng trong bối cảnh trồng lúa nước. Ngoài ra, với lúa rẫy, kho thóc là nơi người đàn bà chủ nhà có quyền đóng - mở và đó là nơi diễn ra sự liên kết chặt chẽ giữa kho thóc và ruộng rẫy qua biểu tượng hồn lúa/thần lúa; khi chuyển sang trồng lúa nước, tính biểu tượng và liên kết giữa người đàn bà chủ nhà và hồn lúa/thần lúa rất mong manh, cụ thể, kho thóc có thể được các thành viên trong gia đình sử dụng kể cả khi đóng - mở kho thóc.
Vấn đề chuyển đổi kỹ thuật trồng trọt cũng tác động đến quan niệm về tính thiêng và thực hành nghi lễ, không chỉ riêng với nghi lễ dành cho cây lúa mà còn với các nghi lễ khác. Việc chuyển đổi kỹ thuật trồng trọt xuất phát từ một số nguyên nhân như sau: thứ nhất, chương trình phát triển nông thôn mới với việc vận động bà con nông dân thay đổi giống cây trồng, vật nuôi, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và máy móc để nâng cao năng suất lao động; thứ hai, việc suy giảm lực lượng lao động nông nghiệp do nhu cầu làm ăn xa. Từ quá trình vận động của nhà nước đã đáp ứng một phần nhu cầu nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh thiếu lực lượng lao động, nhất là lao động trẻ tuổi. Việc chuyển đổi kỹ thuật của người Hrê chủ yếu diễn ra trên một vài khía cạnh như sau: sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và máy cắt gặt lúa. Cách đây khoảng trên 15 năm, vào mỗi mùa gặt, người Hrê thường huy động rất nhiều lao động trong làng để gặt lúa trong thời gian một ngày hoặc vài ngày tùy theo diện tích ruộng lúa. Tuy nhiên, từ khi ứng dụng khoa học kỹ thuật, máy móc đã thay thế một phần lớn sức lao động, vừa đáp ứng với hiện trạng thiếu hụt lao động trẻ ở một số thôn, xã của người Hrê. Bên cạnh đó, trước đây, người Hrê không sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu vì lo sợ rằng ruộng lúa bị ô uế, thần lúa sẽ giận dỗi bỏ đi và các thần linh khác sẽ quở phạt; họ cũng không dùng máy cắt hoặc máy xay xát vì lo sợ làm hồn lúa bị tổn thương và phát sinh cơn giận dữ. Từ quá trình chuyển đổi kỹ thuật trồng trọt có thể thấy rằng người Hrê đã từ bỏ một số quan niệm về tính thiêng và dần dần chối bỏ sự lệ thuộc vào thần linh trong việc trồng lúa. Sự chuyển đổi này đã làm thay đổi cách thức thực hành nghi lễ. Hiện nay, tại xã Long Hiệp, Long Mai và một số xã khác gần thị trấn Minh Long (Quảng Ngãi), nhiều gia đình đã từ bỏ nghi lễ cúng tế theo chu kỳ cây lúa, nhất là vào giai đoạn sạ lúa. Gia đình ông Đinh Văn Xiêng đã bỏ nghi lễ cúng lúa từ cách đây hơn 10 năm, nhất là khi không còn sử dụng kỹ thuật gieo mạ để cấy mà chuyển hẳn sang sạ lúa giúp tiết kiệm thời gian và công sức. Tuy nhiên, khi thu hoạch lúa, gia đình ông vẫn thực hiện một nghi lễ cúng cơm mới để ăn mừng và tỏ lòng biết ơn thần linh, tổ tiên. Bên cạnh ruộng lúa nước, ông Xiêng vẫn duy trì trồng trọt trên rẫy, thay vì trồng lúa, ông sử dụng đất rẫy để trồng keo nhằm đa dạng hóa sản xuất. Với cây keo, ông Xiêng không còn thực hành nghi lễ giống như khi trồng lúa rẫy. Tương tự như với cây trồng khác, các nghi lễ ma thuật đã dần mất hẳn. Tuy nhiên, ông Xiêng cũng cho biết thêm, nếu khôi phục lại ruộng rẫy chắc chắn phải thực hành nghi lễ như trước đây. Một trường hợp khác là cô Đinh Thị Thắm ở thôn Hà Bôi (xã Long Hiệp) cho biết gia đình mình không thực hiện cúng lúa từ nhiều năm nay mặc dù trước đây vào lúc gieo, cấy, trổ bông hay ăn lúa đều mời thầy cúng lúa. Như vậy, từ quá trình thay đổi về loại hình canh tác và ứng dụng kỹ thuật đã làm biến đổi cách thức thực hành nghi lễ. Cùng với quá trình này, các quan điểm về thần linh và mối quan hệ giữa con người với thần linh cũng thay đổi, từ đó dẫn đến sự thay đổi về thế giới quan về thần linh và niềm tin vào các thực thể linh thiêng.
Bên cạnh tác động của quá trình thay đổi sản xuất, việc giao lưu và tiếp xúc với người Kinh cũng ảnh hưởng đến các yếu tố xã hội của người Hrê, từ đó làm biến đổi quan niệm và thực hành trong một số nghi lễ như nghi lễ cưới xin, tang ma và cúng cầu sức khỏe. Đám cưới của người Hrê vẫn diễn ra theo trình tự và lễ tục như trước đây, tuy nhiên lễ vật trong đám cưới càng ngày càng phô trương. Nếu trước đây, hai gia đình xác lập mối quan hệ thông gia, của hồi môn của nhà gái là các bó củi và người nhà trai lấy sức lao động để hỗ trợ công việc cho nhà gái thì hiện nay, của hồi môn thường là tiền và vàng. Trước đây, người khác đến thăm hỏi và chia vui cùng gia đình đang cúng cầu sức khỏe, cúng cuối năm, cúng trâu thường mang theo gạo hoặc rượu để thể hiện sự đóng góp và quý trọng chủ nhà; hiện nay, lễ vật thay thế bằng tiền mặt.
Các phong tục cúng vào cuối năm để cầu sức khỏe và làm ăn thuận lợi hoặc cúng ốm đau được ưa chuộng vào thời điểm hiện nay khi các dấu hiệu bất trắc trong công việc, đi lại và học hành của con cái gia tăng. Tuy nhiên, việc tiếp cận với dịch vụ y tế và các nguồn lực khác trong chăm sóc sức khỏe đã ảnh hưởng đến việc nhìn nhận lại các thủ tục nghi lễ. Mặc dù vẫn giữ quan niệm sức khỏe chịu ảnh hưởng từ tác động xấu của thế giới siêu nhiên, nhưng khi ốm đau, người Hrê thường kết hợp song song giữa cúng tế và uống thuốc của trạm y tế xã. Hơn thế, việc đến bệnh viện và uống thuốc đã trở thành thói quen trong cuộc sống hằng ngày: “nay không cúng cũng làm ăn được, không cúng cũng không sao, cúng cũng đau và không cúng cũng đau. Ông Trời khiến mình đau thì mình đau chứ sao. Vì cái gì cũng cần tiền, cúng phải mua gà vịt, cho nên khi ốm đau xuống bệnh viện mua thuốc, lấy tiền để lo cho mình lợi hơn” (Bà Đinh Thị Thắm, thôn Hà Bôi, xã Long Hiệp, Minh Long).
Từ việc nhận diện một số thay đổi về quan niệm, thực hành nghi lễ và phong tục tập quán, có thể cho phép kết luận một vài xu hướng biến đổi hiện nay như sau:
- Xu hướng giảm các nghi lễ liên quan đến trồng trọt (cây lúa và các cây trồng khác trên nương rẫy), lựa chọn các giải pháp kỹ thuật để tăng năng suất và đảm bảo cây trồng phát triển tốt, thích ứng với hoàn cảnh khí hậu và môi trường hiện nay, từ đó có thể giảm bớt tâm lý lo âu trước bất lợi của thời tiết.
- Quan tâm đến lợi ích kinh tế trong sinh hoạt nghi lễ song song với tính cộng cảm của thực hành nghi lễ.
- Duy trì các tập tục cũ như tục chia của, cúng ốm đau bên cạnh các giải pháp mang tính hiện đại đối với vấn đề sức khỏe như khám bệnh, uống thuốc và đối với vấn đề sản xuất như ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trồng trọt.
Kết luận
Hệ thống biểu tượng về các thế giới, thần linh và mối quan hệ giữa con người với thực thể linh thiêng đã hình thành nên thế giới quan và nhân sinh quan của người Hrê trong văn hóa tâm linh. Cụ thể, các loại hình tín ngưỡng - tâm linh (niềm tin và thực hành nghi lễ) của người Hrê dựa trên ba cơ cấu nền tảng: khía cạnh văn hóa (tín ngưỡng là thực hành văn hóa hằng ngày diễn ra trong mối quan hệ giữa văn hóa và hoàn cảnh tự nhiên); khía cạnh xã hội (tín ngưỡng phản ánh đặc tính giới và sự phân công lao động theo giới); khía cạnh sinh học - tâm lý (nghi lễ là một phương thức chữa bệnh). Trước hết, người Hrê nhìn nhận niềm tin và thực hành nghi lễ là một trong những thực hành văn hóa thường ngày. Niềm tin và thực hành nghi lễ thể hiện thái độ ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội để đạt được mục đích tái tạo, thay đổi và chuyển hóa các yếu tố cũ không phù hợp. Tính chất của thực hành nghi lễ theo chu kỳ cũng phản ánh tính thường xuyên, liên tục của thực hành văn hóa hằng ngày, trong đó một số thực hành văn hóa này khá thiên về tính duy lý. Tiếp theo, đặc điểm giới không biểu hiện rõ nét trong biểu tượng thần linh mà chủ yếu thông qua sự phân công lao động theo giới trong thực hành nghi lễ. Mặc dù vậy, người Hrê đã quy gán tính nữ cho biểu tượng thần lúa, là một trong những biểu hiện về giới hiếm hoi trong hệ thống thần linh. Bên cạnh biểu tượng thiêng, thần lúa còn được trần tục hóa với biểu hiện giống tính cách của một cô gái, “đỏng đảnh và hay giận dỗi nếu con người có biểu hiện thiếu tôn trọng với hồn lúa”. Ngoài ra, thần lúa còn được đại diện dưới hình ảnh của người đàn bà chủ nhà. Trong các nghi lễ quan trọng như cúng cơm mới, cúng sức khỏe ở cửa giữa, người đàn bà chủ nhà đại diện để thực hiện một số nghi thức dưới sự chủ trì của thầy cúng. Như vậy, trong tín ngưỡng của người Hrê, vai trò và vị trí của người phụ nữ được khẳng định, đại diện cho tính bảo tồn, dự trữ về của cải vật chất. Cuối cùng, hệ thống niềm tin và nghi lễ phản ánh nhu cầu tìm kiếm an toàn về sức khỏe. Trong cuộc sống của người Hrê, bệnh tật là nỗi lo thường trực, từ đó một số thực hành nghi lễ trở thành các phương thức chữa bệnh mang lại hiệu quả về mặt tâm lý. Thực hành nghi lễ chữa bệnh tồn tại song song với tri thức chữa bệnh dân gian của người Hrê. Đối với người Hrê, nghi lễ vừa là thực hành văn hóa hằng ngày vừa là một giải pháp hỗ trợ giải quyết các vấn đề sức khỏe và bệnh tật. Trong bối cảnh hiện nay, trong đời sống tâm linh của người Hrê đang diễn ra quá trình chuyển đổi quan niệm và thực hành nghi lễ, phong tục tập quán và thực hành văn hóa - tri thức liên quan đến hoạt động thờ cúng dưới tác động của bối cảnh phát triển nông thôn mới và giao lưu văn hóa - xã hội với các tộc người khác. Điều này thể hiện tính thích ứng và thay đổi của hành vi nghi lễ, phù hợp với biến động của đời sống kinh tế - xã hội.
Tài liệu tham khảo
1. Ngọc Anh (1959), “Sơ lược giới thiệu dân tộc Hrê”, Tập san Dân tộc học, tr.39-59.
2. Lưu Hùng (1981), “Sự du nhập hình thái canh tác ruộng nước vào vùng dân tộc Hrê”, Sưu tập Dân tộc học 1981, tr.33-35.
3. Lưu Hùng (1982), “Vài suy nghĩ về hoạt động kinh tế ruộng của đồng bào Hrê”, Tạp chí Dân tộc học (3), tr.26-33.
4. Lưu Hùng (1983), “Góp phần nghiên cứu tính song hệ ở dân tộc Hrê”, Tạp chí Dân tộc học (3), tr.38-42.
5. Lưu Hùng (2003), “Một số ghi chép tư liệu điền dã về người Hrê ở Sơn Hà, Nghĩa Bình”, TL211, Thư viện Viện Dân tộc học.
6. Nguyen Tan (1904), “Notes diverses sur la pacification de la région des Moïs”, Revue Indochinoise 1904, p.415-796, Hanoi.
7. Nguyễn Thị Thanh Xuyên (2016), Tín ngưỡng thờ cúng thần lúa của người Hrê tại xã An Vinh, huyện An Lão, tỉnh Bình Định, Nxb. Mỹ Thuật.
[1] Theo Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Tổng Cục Thống Kê (2020).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét