Tóm tắt: Là vùng đất phát triển mạnh và đóng góp kinh tế hàng đầu trong các vùng của Việt Nam, Đông Nam Bộ nên là vùng điển hình về phát huy các giá trị nhân văn trong bảo vệ môi trường tiến tới mục tiêu phát triển bền vững. Giá trị nhân văn là khái niệm được nhắc nhiều trong các chiến lược xây dựng đời sống tinh thần hoặc truyền thông, khuyến khích ý chí,… nhằm kêu gọi sự tham gia của người dân.
Nhưng việc xác định giá trị nhân văn cần được bảo tồn, phát huy, kiến tạo hay các phân tích về cơ sở lý luận ít khi được đề cập cặn kẽ. Thông qua tổng quan lý thuyết về giá trị nhân văn, bài viết giới thiệu quan điểm chung về giá trị nhân văn, sự cần thiết của giá trị nhân văn và giá trị nhân văn trong bảo vệ môi trường. Từ đó nêu rõ sự phát triển của vùng Đông Nam Bộ không thể thiếu vai trò của bảo tồn, phát huy giá trị nhân văn đã có và kiến tạo giá trị nhân văn mới. Bài viết cũng điểm qua những hoạt động bảo vệ môi trường xuất phát từ giá trị nhân văn của người Đông Nam Bộ và để đáp ứng được yêu cầu phát triển của vùng thì những giá trị nhân văn nào nên được kiến tạo… Từ đó, một số khuyến nghị về chính sách cũng được đề xuất.
Từ khóa: bảo tồn và phát huy, kiến tạo, giá trị nhân văn, Đông Nam Bộ, bảo vệ môi trường, sinh thái.
1. Đặt vấn đề
Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành: TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh với diện tích hơn 23.560 km2, dân số hơn 18,7 triệu người (năm 2021). Mặc dù chỉ chiếm hơn 9% diện tích nhưng vùng Đông Nam bộ đóng góp khoảng 1/3 GDP và hơn 44% nguồn thu ngân sách cả nước. Tổng thu ngân sách Nhà nước 7 tháng đạt 452.000 tỷ đồng, đứng thứ 2 sau vùng Đồng bằng sông Hồng. Giá trị xuất khẩu đạt trên 59,2 tỷ USD, 31% xuất khẩu của cả nước, đứng thứ 2 sau vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm gần 35%) (Trung Kiên, 2024). Kết quả này đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của vùng là một đầu tàu kinh tế của cả nước, đi đầu trong đổi mới, sáng tạo, năng động và phát triển.
Trong các hoạt động chính trị nhằm xác định các vấn đề và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội gần đây, như ngày 05/5/2024, tại Tây Ninh, Hội nghị lần thứ ba Hội đồng điều phối vùng Đông Nam bộ đã sơ kết thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị số 24-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ số 154/NQ-CP về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Đông Nam bộ; công bố và triển khai Quy hoạch vùng Đông Nam bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; rà soát các cơ chế chính sách đặc thù vùng; tình hình triển khai các dự án quan trọng, liên kết vùng; hay ngày 10/8, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng điều phối vùng Đông Nam bộ chủ trì Hội nghị lần thứ 4 của Hội đồng, đã đặc biệt ghi nhận các đóng góp của Đông Nam Bộ, nhưng đồng thời cũng chỉ ra các vấn đề, thách thức, cụ thể:
- Tăng trưởng kinh tế vùng 6 tháng chỉ đạt 5,58%, thấp hơn mức bình quân cả nước, chỉ cao hơn vùng Tây Nguyên (3,86%). Mô hình tăng trưởng chậm chuyển đổi, động lực tăng trưởng của vùng đang chậm lại.
- Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng chưa thực sự bền vững do khả năng chống chịu và chưa có các giải pháp kịp thời trước các yếu tố tiêu cực từ bên ngoài. Công nghiệp là một trong 3 trụ cột quan trọng của vùng nhưng phát triển còn thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp, phân bổ chưa hợp lý, phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Tình trạng ô nhiễm môi trường, ngập úng là vấn đề bức xúc nhưng chậm được cải thiện, nhất là tại Thành phố Hồ Chí Minh. Môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh còn hạn chế; liên kết vùng thiếu chặt chẽ.
(Thủ tướng Phạm Minh Chính, 2024, dẫn theo Trung Kiên, 2024)
Kinh tế Đông Nam Bộ phát triển nhưng cơ cấu kinh tế của vùng là những ngành sử dụng nhiều lao động, phát thải cao... Đông Nam Bộ được xem là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước, đặc biệt là các ngành dệt may, da giày, điện tử, cơ khí và chế biến thực phẩm. Các khu công nghiệp lớn như Khu công nghiệp Biên Hòa, Khu công nghiệp Tân Bình, và Khu công nghiệp VSIP Bình Dương đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế khu vực. Hoạt động công nghiệp này thu hút lao động từ nhiều nơi, không chỉ trong nước mà cả quốc tế, tạo nên dòng dịch chuyển lao động lớn, đặc biệt là từ vùng nông thôn ra đô thị, từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ… vừa góp phần tạo sự năng động, thúc đẩy đô thị hóa nhanh chóng cho Đông Nam Bộ, tạo sự đa dạng về văn hóa nhưng đồng thời đưa đến hàng các vấn đề xã hội và môi trường như vấn đề quá tại dịch vụ công và hạ tầng, thiếu hụt nhà ở cho người thu nhập thấp, ô nhiễm do phát thải từ hoạt động kinh tế lẫn sinh hoạt,…
Các mục tiêu phát triển vẫn đặt năng về kinh tế và tăng trưởng vẫn được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Trong khi các vấn đề văn hóa tinh thần, hay giá trị nhân văn được đề cập nhưng vẫn thiếu những chiến lược cụ thể. Chẳng hạn như khi tăng trưởng kinh tế vùng 6 tháng chỉ đạt 5,58%, thấp hơn mức bình quân cả nước, thì nhiệm vụ trọng tâm đặt ra là cần đạt ở mức 8-9%. Các thành quả kinh tế cho từng giai đoạn phát triển cũng được thống kê và dự báo rõ ràng hơn, trong khi giá trị nhân văn thường khó xác định, được mô tả chung chung và thậm chí chỉ được cụ thể hóa ở dạng các khẩu hiệu…
Đại hội XIII xác định cần "khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế".
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 07/10/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đề ra quan điểm: "Xây dựng Đông Nam Bộ trở thành vùng văn minh, hiện đại, hội nhập quốc tế. Phát triển nhanh, bền vững, hài hòa giữa các tiểu vùng, các địa phương trong vùng; các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái... Phát huy mạnh mẽ truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa, tinh thần tự lực, tự cường trong xây dựng và phát triển.” Như vậy, phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ không thể thiếu sự tham gia của các giá trị nhân văn. Nhưng giá trị nhân văn là gì và đóng vai trò thế nào trong phát triển; bảo tồn phát huy giá trị nhân văn của vùng như thế nào để đạt mục tiêu phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ,… là những câu hỏi cần được làm rõ.
Để tìm kiếm các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn cho phát triển bền vững, bài viết trình bày khái quá khái niệm “giá trị nhân văn”, giá trị nhân văn vùng Đông Nam Bộ là gì và vì sao cần được bảo tồn, phát huy. Tuy nhiên, giá trị nhân văn là một phương diện rộng lớn và phát triển bền vững cũng là một mục tiêu vĩ mô, dài hạn,… Trong khuôn khổ bài viết này, giá trị nhân văn chỉ xoay quanh lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Các nguồn dữ liệu được đưa vào phân tích là dữ liệu thứ cấp, các chính sách, quy định liên quan và các báo cáo, thống kê từ các địa phương.
2. Hiểu về “giá trị nhân văn” (Humanistic value) và vai trò của bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn
“Giá trị nhân văn” thường được nghiên cứu ở dạng định tính và các giá trị được đo lường không thể hiện tính cụ thể (Friedman, 2008). Mặc dù các giá trị cụ thể được giả định có thể khác nhau giữa những người theo chủ nghĩa nhân văn, nhưng tựu trung, những người theo chủ nghĩa nhân văn đều tin rằng các giá trị đạo đức liên quan đến kinh nghiệm của con người, thậm chí xem con người "là thước đo của mọi thứ" (Abbagnano, 1967, dẫn theo Martin, 1996). Nói cách khác, mọi giá trị đạo đức nội tại được xem là dựa trên mong muốn và sở thích của con người. Tuy nhiên, có một cách giải thích khác cho tuyên bố rằng con người là thước đo của mọi thứ (Martin, 1996).
Nhìn chung, lý thuyết giá trị nhân văn nhấn mạnh tầm quan trọng của phẩm giá cá nhân và giá trị vốn có của tất cả mọi người, đưa ra giả thuyết rằng các nguyên tắc đạo đức thúc đẩy phúc lợi của con người (Adams, 2003). Niềm tin cốt lõi trong chủ nghĩa nhân văn là tập trung vào sự phát triển cá nhân và cá nhân theo đuổi không ngừng sự tự hoàn thiện.
Giá trị nhân văn đề cập đến các nguyên tắc và niềm tin tập trung vào tầm quan trọng của hạnh phúc, sự phát triển và phẩm giá của con người. Nó bao gồm việc công nhận và tôn trọng giá trị và tiềm năng nội tại của mỗi cá nhân, thúc đẩy các quyền và tự do của họ, và nuôi dưỡng ý thức cộng đồng và lợi ích chung. Giá trị nhân văn có thể được nhìn thấy trong nhiều bối cảnh khác nhau, chẳng hạn như doanh nghiệp, văn học, quyền hiến định, lãnh đạo, y học và nhiều lĩnh vực khác. Trong các doanh nghiệp, giá trị nhân văn bao gồm việc hiểu và thúc đẩy giá trị của nhân viên và sự phát triển của họ (Xu và cộng sự, 2021). Trong văn học, nó bao gồm các giá trị giáo dục và các bài học đạo đức nhằm định hướng hành vi tích cực của con người (Komalasari và cộng sự, 2022). Trong các quyền hiến định, giá trị nhân văn được phản ánh trong nhu cầu về lợi ích, tự do và dư luận (Wu, 2021). Trong lãnh đạo, nó tập trung vào việc phát triển các trải nghiệm có ý nghĩa và có mục đích của con người, được hướng dẫn bởi các giá trị cơ bản và hướng tới lợi ích chung (Rodriguez-Lluesma và cộng sự, 2014). Trong y học, giá trị nhân văn nhấn mạnh đến lòng trắc ẩn, sự đồng cảm, cứu giúp người (Little, 2002)… Như vậy, giá trị nhân văn vừa là giá trị cá nhân, vừa là giá trị cộng đồng, Vì vậy, khi xây dựng, bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn, phải luôn quan tâm đến khía cạnh cá nhân và cộng đồng. Theo đó, bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn trong bảo vệ môi trường Đông Nam Bộ, cần thiết phải chú trọng giá trị cá nhân và giá trị cộng đồng để có được sự tham gia của cá nhân và cộng đồng, sao cho cá nhân vì cộng đồng và cộng đồng quan tâm đến cá nhân.
Giá trị nhân văn có thể được hiểu là tất cả về giá trị nội tại của mỗi người, từ ý tưởng rằng mỗi cá nhân đều có phẩm giá, tiềm năng và quyền phát triển, là lòng trắc ẩn, sự đồng cảm và sự tôn trọng. Đó là động lực thúc đẩy chúng ta theo đuổi hạnh phúc của bản thân nhưng không làm ảnh hưởng hạnh phúc của người khác hoặc góp phần tạo dựng, giúp người khác hạnh phúc và xem hạnh phúc của người khác là niềm vui; tôn trọng hạnh phúc người khác và xem mỗi con người là duy nhất và có giá trị… Điểm này rất quan trọng vì các hành vi môi trường hiện nay cho thấy có sự tác động rất lớn của cá nhân lên cộng đồng, ví vụ xả rác bừa bãi, chặt phá rừng,… đều là những hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực từ cá nhân hay nhóm người lên cộng đồng nói chung.
Giá trị nhân văn là sự chắt lọc từ quá trình hình thành nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan, giá trị quan, là các giá trị được kiến tạo từ vận hành các mối quan hệ nội tại và ngoại tại và được cộng đồng đánh giá cao, ghi nhận, thống nhất nhau cùng xây dựng và phát triển, khi thì thông qua sự ngưỡng mộ, kính trọng, thái độ ứng xử, khi thì được thống nhất chung,… Giá trị nhân văn ở mỗi cá nhân còn là niềm tin về những điều tốt đẹp, định hướng và dẫn dắt hành động cá nhân. Và khi được thừa nhận, có thể là niềm tin chung của cộng đồng. Ví dụ ghi nhớ công ơn của người vì cộng đồng, dân tộc mà hy sinh, việc đền ơn đáp nghĩa, gieo hành động tốt cho người khác,… là những giá trị mà cộng đồng tin tưởng sẽ mang lại điều tốt đẹp.
Theo chủ nghĩa nhân chủng học, đạo đức về môi trường phải hoàn toàn dựa trên các giá trị, mong muốn và lợi ích của con người. Điều này có nghĩa là cơ sở để bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng và bảo tồn các vùng hoang dã dựa trên giá trị công cụ vì con người. Ví dụ, người ta sẽ tìm thấy lý do để bảo tồn các khu rừng trong các giá trị góp phần bảo vệ con người, giảm nhẹ thiên tai, sức khỏe… mà chúng mang lại cho con người. Hay người ta có thể đưa ra lý do để cứu cá voi từ giá trị mà nghiên cứu khoa học về tâm lý và giao tiếp của cá voi có thể mang lại để giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tâm lý và ngôn ngữ của con người. Tuy nhiên, quan điểm lấy con người làm trung tâm này đã bị chỉ trích rộng rãi (xem Taylor, 1996; Stone, 1972; Drengson, 1989). Nhiều quan điểm về giá trị nhân văn môi trường cho rằng các thực thể khác ngoài con người - ví dụ như động vật và thực vật - có giá trị nội tại và chúng nên được bảo tồn vì lợi ích của chính chúng chứ không chỉ vì giá trị công cụ của chúng đối với con người (Martin, 1996). Hay nói cách khác, các nhà môi trường đòi hỏi giá trị nhân văn là sự tôn trọng quyền tự nhiên và sự bình đẳng, công bằng giữa các loại trong tự nhiên.
Ở Việt Nam, đến nay, khái niệm và ý nghĩa thực sự của “giá trị nhân văn” thường được đề cập khá phổ biến, nhưng thiếu sự phân tích một cách thấu đáo. Giá trị nhân văn trong bảo vệ môi trường càng ít được đưa vào phân tích dù hoạt động bảo vệ môi trường thường xuyên được đề cập trong các chính sách, chiến lược và mục tiêu phát triển... Ở một số nghiên cứu, giá trị nhân văn được xem là “đóng góp của con người cho xã hội”, là “những giá trị tốt đẹp của từng cá nhân con người, trong đó bao gồm cả trách nhiệm cộng đồng, trách nhiệm xã hội” (Nguyễn Thị Mai Anh, 2021). “Nhân văn” cũng được diễn giải theo từ Hán Việt với ý nghĩa ““nhân” là người, “văn” là văn hóa, văn minh; giá trị nhân văn được hiểu là những giá trị văn hóa, văn minh của con người. Giá trị văn hóa thường được hiểu là bản sắc riêng, tinh hoa, bản lĩnh văn hóa của mỗi dân tộc”, nhân văn là “biểu hiện bản chất con người, luôn hướng đích đến sự hoàn thiện, hướng đến chân - thiện – mỹ. Giá trị nhân văn vừa là những giá trị mang yếu tố tinh thần, có sức lan tỏa mạnh mẽ, vừa góp phần tạo ra những giá trị vật chất cho sự phát triển kinh tế - xã hội (Nguyễn Thị Mai Anh, 2021). Tuy nhiên, để bảo tồn và phát huy thì cần xác định các giá trị cụ thể. Trong nhiều bài viết, “giá trị nhân văn” của người Việt nói chung hay cộng đồng của một địa phương nào đó thì giá trị nhân văn được đồng nhất với: lòng yêu nước, tinh thần tương thân tương ái, nghĩa tình… Và “Bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn” là khẩu hiệu và thậm chí là triết lý mà trong hành trình phát triển thường được nhắc tới, và khi được diễn giải, nó mang ý nghĩa là phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng đời sống nghĩa tình, tương thân, tương ái, vị tha… Nếu không làm rõ thì những giá trị nhân văn này là gì, có thể dẫn đến kết quả là không lột tả hết bản sắc riêng, mà những giá trị được nêu cũng chỉ là những giá trị phổ biến, có thể tìm thấy ở nhiều cộng đồng, nhiều địa phương và quốc gia… Sẽ có hai phương diện để nhận diện giá trị nhân văn của cá nhân và cộng đồng, đó là các giá trị nhân văn cốt lõi và cách thức thể hiện các giá trị nhân văn, hay nói cách khách là cách để cá nhân và cộng đồng được nhận diện giá trị và ghi nhận giá trị. Theo ý nghĩa đó, thì để bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn của Đông Nam Bộ, thì cần xác định các giá trị cá nhân và cộng đồng chung con người Đông Nam Bộ. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thì bảo tồn và phát huy các giá trị nhân văn gắn với tình yêu môi trường, ứng xử với môi trường và các hành động bảo vệ môi trường.
Cũng cần lưu ý rằng, bảo tồn và phát huy là với những giá trị đang có. Bên cạnh đó, có những giá trị nhân văn vì những lý do nào đó, hoặc sự không phù hợp với thời đại cụ thể bị mai một thì cần phải cân nhắc phục hồi. Cùng với sự vận hành của đời sống kinh tế-xã hội, thì việc tạo nên các giá trị mới phù hợp, đóng vai trò thúc đẩy đời sống tinh thần và cùng với sự phát triển đời sống vật chất, tạo nên chất lượng cuộc sống tốt hơn và phát triển bền vững hơn, cũng cần được chú trọng. Nói cách khác, giá trị nhân văn không phải là giá trị tĩnh, mà cần có sự khôi phục, tái tạo, tạo mới và nâng tầm…
3. Một số giá trị nhân văn tiêu biểu vùng Đông Nam Bộ trong bảo vệ môi trường
Đông Nam Bộ là vùng đất phát triển mạnh, đóng góp kinh tế lớn nhất cả nước. Đây cũng là vùng có dân đô thị nhiều nhất nước với 12,2 triệu người (2021) và mật độ dân số đông thứ hai trong các vùng (sau Đồng bằng sông Hồng). Là vùng đóng góp kinh tế nhiều nhất, có dân đô thị đông nhất và mật độ dân số cao, Đông Nam Bộ có nhiều lợi thế về nhân lực, đa dạng về văn hóa, nhưng đồng thời cũng đối mặt nhiều khó khăn về hạ tầng xã hội.
Việc xác định các giá trị nhân văn của vùng Đông Nam Bộ không dễ dàng, mặt dù các giá trị của vùng vẫn được nhận diện trong các phương diện của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực môi trường, các giá trị nhân văn càng khó được gọi tên dù tình yêu môi trường và các hoạt động bảo vệ môi trường vẫn diễn ra hàng ngày.
Một điểm cần lưu ý là bảo vệ môi trường không phải là giá trị nhân văn, mà nó là trách nhiệm của cá nhân với chính môi trường sống của mình, với chính chất lượng sống của gia đình mình và với toàn xã hội. Trong phạm vi cá nhân thì đó là trách nhiệm cá nhân, và trong phạm vi xã hội thì đó là trách nhiệm xã hội. Còn khi nói đến giá trị nhân văn trong bảo vệ môi trường, là nói đến việc xây dựng tình yêu thiên nhiên, yêu môi trường và thực hiện trách nhiệm một cách tự nhiên. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và được quy định bởi pháp luật. Nhưng với tình yêu môi trường, tinh thần vì người khác, nghĩ cho thế hệ tương lai,… thì các trách nhiệm được thực hiện một cách tự nhiên và tự nguyện, không phải chỉ vì các ràng buộc pháp lý.
Điểm qua các tài liệu về văn hóa, tinh thần, các hoạt động xã hội của từng địa phương của vùng Đông Nam Bộ và cả vùng Đông Nam Bộ nói chung, thì những giá trị nổi bật được ghi nhận như:
- Năng động, sáng tạo, lòng hiếu khách và tình đồng bào. Đây là vùng đất có lịch sử lâu đời với sự giao thoa văn hóa đa dạng, từ đó sinh ra một tính cách cởi mở và hòa đồng.
- Tinh thần làm việc chăm chỉ, khát vọng làm giàu và sẵn sàng hỗ trợ nhau khi cần đã tạo nên những cộng đồng mạnh mẽ và gắn kết. Những giá trị này giúp vùng Đông Nam Bộ phát triển kinh tế mạnh mẽ và giữ vững bản sắc văn hóa độc đáo.
- Người vùng Đông Nam Bộ có sự đa dạng văn hóa nhờ vào lịch sử giao thương và sự di dân. Tính cách cởi mở và năng động, cùng tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ đã tạo nên điểm khác biệt rõ nét. Ví dụ, người miền Bắc có xu hướng coi trọng truyền thống và lễ nghi nhiều hơn, trong khi người miền Trung nổi tiếng với sự kiên trì và chịu khó. Đông Nam Bộ, với sự phát triển kinh tế năng động và tiếp nhận ảnh hưởng quốc tế, thường mang tính cách phóng khoáng, linh hoạt, và sáng tạo. Giá trị nhân văn ở đây là tinh thần hội nhập mà vẫn giữ được bản sắc.
Các giá trị nêu trên có thể là nền tảng chung để hình thành các giá trị trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Ví dụ như, trong bảo vệ môi trường, thì năng động, sáng tạo có thể góp phần tạo ra những phương pháp bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, các sản phẩm có công nghệ thân thiện môi trường hơn; tinh thần cộng đồng mạnh mẽ và gắn kết là giá trị giúp cho việc gìn giữ môi trường sống của cộng đồng được tốt hơn; sự đa dạng văn hóa là giá trị giúp cho sự thấu hiểu, tiếp nhận văn hóa mới và chấp nhận nhau dễ dàng hơn nên quá trình chia sẻ trách nhiệm cho các mục tiêu chung trong bảo vệ môi trường của vùng vì vậy cũng tốt hơn.
Các giá trị như sự cởi mở, sáng tạo, và khả năng hội nhập quốc tế, nhưng không quên gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương cũng là những giá trị quan trọng trong bảo vệ môi trường. Tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ ở đây cũng nên tiếp tục được thúc đẩy, tạo ra môi trường kinh doanh năng động và sáng tạo, nhất là các sản phẩm thân thiện môi trường hoặc áp dụng công nghệ giảm thiểu tác động môi trường trong quá trình sản xuất. Đồng thời, cần chú trọng đến giáo dục và sự hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng, để đảm bảo sự phát triển toàn diện và bền vững. Đây chính là những yếu tố giúp giữ vững vị thế và phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.
Tuy nhiên, như đã phân tích trước đó, việc định rõ giá trị nhân văn của một cộng đồng không đơn giản, vì thường các yếu tố tích cực được tồn tại khá phổ biến ở các cộng đồng. Nếu giá trị nhân văn ở Đông Nam Bộ là lòng yêu nước, thì những vùng khác cũng không thiếu, nếu giá trị nhân văn là tính cộng đồng, tinh thần tương thân tương ái, thì giá trị này có thể tìm thấy ở các vùng khác… Trong trường hợp đó việc giữ gìn và phát huy chỉ cần theo một xu hướng chung mà không cần hoạch định riêng cho vùng Đông Nam Bộ.
Điểm đặc sắc về giá trị nhân văn Đông Nam Bộ là con người năng động và cởi mở hơn, sự nhanh nhạy về thị trường, do sự tương tác giữa điều kiện địa lý, sinh thái vùng và các hoạt động tài chính, thương mại, du lịch, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp đan xen nhau, vừa đa dạng vừa hỗ trợ thúc đẩy nhau… Qua đó, con người vừa có khuynh hướng không ngại thử thách, vừa cạnh tranh và cũng vừa hợp tác nhau để hướng đến hiệu quả và mục tiêu.
Với đặc thù là vùng kinh tế năng động nên vùng cũng thu hút lượng lao động trẻ, lao động có tay nghề cao, chuyên gia,… nên giá trị về tư duy, về tầm nhìn, về sự nhạy bén, lịch thiệp,… cũng là những đặc điểm dễ dàng tìm thấy ở con người Đông Nam Bộ.
Đối diện với những vấn đề về dân số đông đúc, kẹt xe, ô nhiễm,… người Đông Nam Bộ cũng hình thành ý thức về cộng đồng văn minh, giao thông văn minh, lối sống văn minh,… Nên việc chủ động bảo vệ môi trường và tham gia bảo vệ môi trường được chú trọng.
Đông Nam Bộ có địa hình mang tính chuyển tiếp giữa Tây nguyên với Nam bộ, nên vùng này còn có tính chất chuyển tiếp của môi trường tự nhiên với đồi núi thấp dần và những dòng chảy của sông về vùng thấp để hướng ra biển, sông Đồng Nai cùng các chi lưu sông Bé, sông Sài Gòn và cả vùng nước lợ có những điểm thuận lợi để các cư dân cổ chọn tụ cư và sinh sống. Đặc thù này còn tạo nên sự đa dạng trong sinh kế và văn hóa, trong cách sinh hoạt cũng như giao thoa giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số với người Kinh… Đông Nam bộ hiện nay có nhiều tộc người thiểu số sinh sống lâu đời và chuyển cư sau này qua nhiều giai đoạn của lịch sử. Những dân tộc thiểu số tại chỗ ở Đông Nam bộ gồm các tộc người sinh sống chủ yếu ở vùng đồi núi phía Bắc: S’tiêng, M’nông, Mạ, Chơro, K’ho, Khmer, Tà Mun… Môi trường tự nhiên với hệ sinh thái rừng cùng với quá trình cộng cư đã tạo thành những nét văn hóa độc đáo của cộng đồng tộc người này qua tập quán, phong tục và đặc biệt những lễ hội liên quan đến nông nghiệp với môi trường bán sơn địa. Các giai đoạn lịch sử về sau, nhiều tộc người thiểu số ở miền Bắc đến Đông Nam bộ sinh sống khá nhiều qua chính sách kinh tế của Nhà nước và cả di dân tự do. Sự chuyển cư của Mường, Tày, Nùng, Dao, Thái… đến Đông Nam bộ đã góp phần tạo nên bức tranh đa sắc màu. Không gian văn hóa ở Đông Nam bộ gắn với những thành tựu, dấu ấn của cộng đồng người Việt, người Hoa kể từ khi họ có mặt trên địa bàn này cách ngày nay nhiều thế kỷ (Phan Đình Dũng, 2023). Nhờ đặc điểm này, nên các giá trị tri thức bản địa được kết hợp hài hòa với tri thức du nhập, giữa sự chuyển tiếp từ vùng cao đến đồng bằng và biển,… Với đặc thù địa hình và tự nhiên đa dạng, người Đông Nam Bộ dù có tỷ lệ đô thị cao, nhưng vẫn gắn với rừng, biển, đồi núi, đồng bằng, sông suối,… Chính đặc điểm này tạo nên sự thuận tiện để tạo nên những giá trị và khơi gợi phát huy các giá trị của cộng đồng cư dân Đông Nam Bộ trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Những giá trị nhân văn về bảo vệ môi trường mà người Đông Nam Bộ cần gìn giữ, phát huy và phát triển có thể kể đến là tôn trọng và hội nhập văn hóa, tinh thần cởi mở để tích hợp văn hóa bản địa và những những cư dân mới đến để tạo nên những giá trị độc đáo riêng; yêu thiên nhiên và bảo tồn sự đa dạng của thiên nhiên; ham học hỏi và tiếp nhận cái mới; không ngừng sáng tạo…
Là vùng có tỷ lệ dân số đô thị cao nhất, những giá trị nhân văn về bảo vệ môi trường mà người Đông Nam Bộ cần kiến tạo là ứng xử trong quan hệ cộng đồng đô thị, môi trường sống đô thị (phân loại rác, thải bỏ rác đúng nơi quy định, thực hiện tiêu dùng thông minh, giảm phát thải,…), quan tâm sức khỏe chung của cộng đồng, quan tâm lối sống lành mạnh, đề cao giá trị gia đình và cộng đồng, tích cực tham gia các hoạt động thể chất, các hoạt động ngoài trời, gần gũi thiên nhiên, góp phần tái tạo môi trường sinh thái, phát huy truyền thống giáo dục gia đình và tạo gương điển hình cho con cái tham gia bảo vệ môi trường, giáo dục và tạo tình yêu môi trường cho thế hệ trẻ… Có tinh thần tiếp thu kiến thức môi trường, kiến thức về khoa học công nghệ góp phần bảo vệ môi trường, hiểu về phát triển bền vững; tham gia giao thông công cộng…
Bên cạnh đó, là vùng có số lượng doanh nghiệp lớn, tập trung nhiều khu công nghiệp, giá trị nhân văn trong bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp, các khu công nghiệp cần được kiến tạo và phát triển với sự tham gia của lực lượng lao động tại các doanh nghiệp. Những giá trị có thể được kiến tạo thông qua các chính sách, hoạt động quan tâm đến môi trường sinh thái, giảm phát thải cho môi trường của các doanh nghiệp như: áp dụng giải pháp sử dụng nguồn tài nguyên hiệu quả, sản xuất sạch; dành tối thiểu 25% diện tích khu công nghiệp cho cây xanh, giao thông, hạ tầng dịch vụ dùng chung; có giải pháp bảo đảm nhà ở và các công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động… Chính quyền địa phương cũng cần kiến tạo không gian và các điều kiện hỗ trợ cho việc kiến tạo các giá trị nhân văn của cộng đồng cư dân và doanh nghiệp nói chung, và các giá trị nhân văn hướng tới bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, lao động của các khu công nghiệp và cư dân sống quanh các khu công nghiệp… Ngoài ra, cần bổ sung chính sách ưu đãi cho các khu công nghiệp sinh thái, doanh nghiệp sinh thái… để khuyến khích doanh nghiệp và địa phương có cơ sở xây dựng kế hoạch triển khai, hưởng ứng việc chuyển đổi và xây dựng mới khu công nghiệp sinh thái1.
Đông Nam Bộ có sự đa dạng về địa hình, giàu tài nguyên thiên nhiên, không chỉ sở hữu hệ thống sông ngòi với các con sông lớn, mà có cả đồi, núi, rừng, biển… Dưới tác động của công nghiệp hóa, và mức độ dân số tăng nhanh, nguồn đất tự nhiên bị giảm,… thì hiện Đông Nam Bộ vẫn còn có 10 vườn quốc gia, khu bảo tồn, với diện tích khoảng 260.000ha. Trong số này có 4 vườn quốc gia gồm: Cát Tiên, Lò Gò Xa Mát, Bù Gia Mập, Côn Đảo; có 2 khu dự trữ thiên nhiên: Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai và Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu; có 4 khu bảo vệ cảnh quan: Căn cứ Châu Thành, Căn cứ Đồng Rùm, núi Bà Đen, núi Bà Rá. Ngoài ra, trong vùng còn có 2 khu dự trữ sinh quyển cấp quốc tế: Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ và Khu Dự trữ sinh quyển Đồng Nai. Đây được xem là những khu giúp giữ gìn, bảo tồn và phát triển thiên nhiên, đa dạng sinh học, cân bằng môi trường sinh thái. Đông Nam bộ đã và đang chịu nhiều áp lực từ công nghiệp hóa, đô thị hóa, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của cả vùng. Do đó, việc phát huy giá trị nhân văn trong bảo tồn sinh thái, bảo vệ môi trường cần mỗi địa phương trong vùng sự chủ động, tinh thần hợp tác, thiết lập liên kết giữa các địa phương với nhau để bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng, bảo tồn và tạo sự đa dạng sinh học cho các khu bảo tồn, vườn quốc gia. Việc bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và liên kết vùng không chỉ giúp vùng giải quyết các vấn đề chung của vùng hiện nay như ngập lụt do triều cường, ô nhiễm môi trường, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái, giảm tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, góp phần vào sự phát triển bền vững của vùng, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân… (Hoàng Lộc, 2023).
Xuất phát từ các giá trị nhân văn môi trường và trách nhiệm xã hội, một số hành động bảo vệ môi trường được các cộng đồng người Đông Nam Bộ thực hiện có thể nhận thấy như:
- Chiến dịch làm sạch biển, sông, kênh rạch: Các nhóm tình nguyện viên thường xuyên tổ chức các buổi làm sạch bãi biển, lòng sông để giữ gìn môi trường sống xanh-sạch-đẹp. Những hành động này không chỉ bảo vệ thiên nhiên mà còn gắn kết cộng đồng.
- Giáo dục và nâng cao nhận thức: Các chương trình giáo dục môi trường trong trường học, các buổi học ngoại khóa, hội thảo về bảo vệ môi trường được tổ chức cho học sinh, sinh viên nhằm nâng cao nhận thức và khuyến khích hành động bảo vệ môi trường ngay từ nhỏ; các chiến dịch truyền thông cộng đồng giúp người dân hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường.
- Sử dụng năng lượng tái tạo: Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, gió nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống và giảm tác động xấu đến môi trường.
- Phong trào sống xanh: Khuyến khích người dân giảm sử dụng nhựa, tái chế, và lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường. Các hoạt động này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn thúc đẩy ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với cộng đồng. Bên cạnh đó, những giá trị này còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và củng cố tinh thần đoàn kết của người dân Đông Nam Bộ.
- Trồng cây xanh: Nhiều chương trình trồng cây, tái tạo rừng được tổ chức, vừa tạo không gian xanh mát, vừa giúp bảo vệ đất và giảm thiểu biến đổi khí hậu.
- Các phong trào như phong trào “3Rs”: Khuyến khích người dân giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế (Reduce, Reuse, Recycle) rác thải, tiêu dùng thông minh,… giúp giảm gánh nặng cho bãi rác và môi trường.
- Tham gia hoạt động quốc tế: Tham gia các hoạt động môi trường quốc tế, giao lưu, học hỏi các mô hình bảo vệ môi trường tiên tiến.
Những hoạt động này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn xây dựng tinh thần cộng đồng, lòng yêu thương và trách nhiệm xã hội sâu sắc trong mỗi người dân.
4. Kết luận và khuyến nghị
Giá trị nhân văn là những giá trị đúc kết trong quá trình con người tồn tại và phát triển, được cá nhân chắt lọc, hun đúc trong từng quá trình tư duy, xây dựng tình cảm nội tại và điều chỉnh hành vi ứng xử với các mối quan hệ xung quanh. Khi giá trị nhân văn được thừa nhận chung và được thực hành phổ biến thì nó trở thành giá trị chung của cộng đồng.
Giá trị nhân văn môi trường là những giá trị hình thành trong mối quan hệ giữa con người với môi trường, tôn trọng quyền tự nhiên và ứng xử với tự nhiên văn minh, xem tự nhiên là môi trường gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như các loài, yêu quý và xem việc bảo vệ tự nhiên vừa xuất phát từ tình cảm, vừa là trách nhiệm…
Gìn giữ và phát huy giá trị nhân văn là sự cần thiết cho quá trình phát triển, nó giúp cho các mục tiêu phát triển lấy con người làm trọng tâm, và không phải là con người “ích kỷ” mà là sự hài hòa giữa con người với các loài, với tự nhiên và vũ trụ,… để hướng tới sự phát triển bền vững. Giữ gìn và phát huy giá trị nhân văn đòi hỏi nỗ lực của cả cộng đồng. Tạo điều kiện và khuyến khích sự sáng tạo, duy trì các lễ hội văn hóa và truyền thống để thế hệ sau vẫn giữ được lòng tự hào dân tộc. Giáo dục về giá trị cởi mở, năng động và hội nhập cũng nên được đưa vào chương trình học, giúp học sinh hiểu và phát huy những giá trị này từ khi còn nhỏ. Cộng đồng cần tích cực xây dựng môi trường sống thân thiện, hỗ trợ lẫn nhau, để mỗi cá nhân đều cảm nhận được tinh thần đoàn kết và yêu thương.
Để bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn trong bảo vệ môi trường nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho vùng Đông Nam Bộ, một số khuyến nghị được đề xuất như sau:
(1) Xây dựng hệ giá trị nhân văn môi trường và đồng thời chú trọng công tác giáo dục môi trường cho trẻ em.
(2) Xây dựng quy tắc ứng xử đô thị, đời sống công nghiệp, ứng xử với tự nhiên.
(3) Đưa các quy định bảo vệ môi trường vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Bảo vệ môi trường phải là một phần không thể thiếu trong hệ giá trị nhân văn của cộng đồng. Hơn thế nữa, bảo vệ môi trường còn là trách nhiệm xã hội và trách nhiệm pháp lý.
(4) Ngoài bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, việc nghiên cứu, khơi gợi, đề xuất các giá trị mới phù hợp với yêu cầu phát triển và hướng con người thống nhất ý chí, mục tiêu phát triển bền vững cho vùng Đông Nam Bộ sao cho phát triển kinh tế hài hòa với phát triển xã hội và môi trường được bảo vệ, cải thiện hơn…
Là một vùng đi đầu trong cả nước về kinh tế, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đời sống đô thị phát triển, Đông Nam Bộ cũng nên là một vùng điển hình, tiên phong trong bảo tồn, phát huy các giá trị nhân văn môi trường đã có và phát triển các giá trị nhân văn mới đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa cả về kinh tế-xã hội và sinh thái.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Adams, M. 2003. Humanistic values. International Journal for Philosophy of Religion. Vol. 54, No. 2 (Oct., 2003), tr. 65-76.
Drengson, A. R. 1989. Beyond Environmental Crisis. New York: Peter Lang.
Friedman, H. 2008. Humanistic and positive psychology: The methodological and epistemological divide. The Humanistic Psychologist, 36, 113–126.
Hoàng Lộc, 2023. Bảo vệ "hòn ngọc xanh" của vùng Đông Nam bộ. Báo Đồng Nai - baodongnai.com.vn - Đăng ngày 09/12/2023.
Komalasari, D. và cộng sự (2022). Didactic and humanistic philosophical value in literature Kabanti Buton. Doi: 10.4108/eai.8-12-2021.2322563.
Little, J.M. 2002. Humanistic medicine or values-based medicine. what's in a name?. The Medical Journal of Australia, 177(6):319-321. Doi: 10.5694/J.1326-5377.2002.TB04792.X.
Martin, M. 1996. Atheism and humanistic value theory. Copyright © 1996 by Michael Martin. The electronic version is copyright © 1997 by Internet Infidels with the written permission of Michael Martin. All rights reserved.
Nguyễn Thị Mai Anh, 2021. Khơi dậy và phát huy hệ giá trị nhân văn con người Việt Nam. Tạp chí Cộng sản, 13/12/2021. ISSN 2734-9071.
Phan Đình Dũng, 2023. Không gian văn hóa Đông Nam bộ trong công nghệ truyền thông hiện nay. Đồng Nai Online, ngày 07/9/2023.
Rodriguez-Lluesma, C. và cộng sự (2014). Humanistic leadership as a value-infused dialogue of global leaders and local stakeholders. 81-91. Doi: 10.1057/9781137471628_7.
Stone, C. 1972. Should Trees Have Standing?. Los Altos, California: William Kaufman, Inc.
Taylor, P. 1986. Respect for Nature. Princeton, N.J.: Princeton University Press.
Trung Kiên, 2024. Vùng Đông Nam bộ đóng góp hơn 44% nguồn thu ngân sách cả nước. Báo Xây dựng, 11/8/2024.
Wu, J. (2001). On Humanistic Basis of Evolution of Constitutional Value. Journal of Guangdong Business College.
Xu, Y. và cộng sự (2021). Humanistic value and management of state-owned enterprises in the new era. 739-743. Doi: 10.2991/ASSEHR.K.210806.140.
1 Từ năm 2022, Chính phủ ban hành Nghị định 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 quy định về quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế. Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đang triển khai đồng bộ các giải pháp khu công nghiệp sinh thái với mong muốn có nhiều khu công nghiệp hoàn thành việc chuyển đổi để được chứng nhận khu công nghiệp sinh thái trong thời gian tới.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét