Tóm tắt: Sử dụng dữ liệu điều tra định lượng và định tính vào năm 2019 tại hai tỉnh Đồng Nai và Bình Phước, bài viết tìm hiểu quan hệ thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa trong các cộng đồng thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong quá trình cộng cư, tiếp xúc, giao lưu với nhiều tộc người khác nhau ở Đông Nam Bộ, quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo của các cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ (Xtiêng, Châu Ro, Mnông, Mạ) đã được thiết lập lâu nay giữa các tộc người thiểu số tại chỗ với nhau, giữa các tộc người thiểu số tại chỗ với người Kinh, người Khmer, người Hoa, người Chăm và các tộc người thiểu số khác nhập cư vào vùng này chủ yếu sau năm 1975, trong đó quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo với người Kinh là chủ yếu.
Đồng thời, gia đình đa tộc người đều là gia đình mang đặc trưng của gia đình đa văn hóa, trong đó yếu tố văn hóa của tộc người đa số bằng nhiều con đường, chủ yếu là do quan hệ hôn nhân ảnh hưởng đến văn hóa của mỗi cộng đồng tộc người thiểu số. Quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo của các cộng đồng dân cư đa tộc người ở vùng đất này cũng đã thích ứng với bản sắc văn hóa và tôn giáo, góp phần kiến tạo nên những gia đình và thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa, làm sâu sắc hơn các mối quan hệ xã hội và văn hóa, sự hòa hợp giữa các tộc người và hội nhập xã hội vào một quốc gia chung hiện nay.
Từ khóa: Đông Nam Bộ, đa tộc người, đa văn hóa, thân tộc, tộc người thiểu số tại chỗ.
Đặt vấn đề
Mỗi tộc người ở Việt Nam nói chung có địa bàn cư trú của mình. Trên địa bàn đó, có thể có những điểm cư trú thuần nhất chỉ có một tộc người, cũng có trường hợp cư trú xen kẽ lẫn nhau của hai hay nhiều tộc người trên cùng một điểm cư trú. Đối với những điểm cư trú thuần một tộc người vẫn có những trường hợp tiếp giáp với những đơn vị cư trú thuần tộc người của một tộc người khác. Và, cư dân của hai tộc người khác nhau sống trong hai đơn vị cư trú độc lập nhưng tiếp giáp nhau vẫn thường xuyên có quan hệ với nhau và kết hôn với nhau. Từ thập niên 90 của thế kỷ trước, khi di dân tự do của các tộc người thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di cư tập thể vào Tây Nguyên và các tỉnh Đông Nam Bộ đã dẫn đến sự tiếp xúc và giữa các tộc người từng sống trên những địa bàn khá xa nhau hay xuất hiện những điểm cư trú tiếp giáp nhau của những tộc người trước đây sống rất xa nhau, khó có điều kiện tiếp xúc có tính cộng đồng với nhau. Thực tế trên cũng đồng thời làm cho hôn nhân khác tộc người diễn ra mạnh hơn, giữa nhiều tộc người hơn kể cả giữa các tộc người từng sống cách xa nhau trước đây. Hôn nhân khác tộc người đã làm cho trong một cộng đồng cư trú của một tộc người có những thành viên khác tộc được đưa về sinh sống với tư cách là vợ/chồng của thành viên của buôn làng hay phum sóc mình. Đồng thời, thông qua hôn nhân các quan hệ thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa đã phát huy giá trị nhân văn trong phát triển văn hóa xã hội.
1. Phương pháp và nguồn dữ liệu
Bài viết này sử dụng một phần dữ liệu của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Quan hệ hôn nhân, gia đình và thân tộc của các cộng đồng dân cư đa tộc người ở Nam Bộ” năm 2019-2020, do TS. Võ Công Nguyện làm chủ nhiệm. Đề tài thực hiện phương pháp điều tra bằng bản câu hỏi để thu thập thông tin tại các địa bàn nghiên cứu cấp xã/ thị trấn có các tộc người thiểu số Xtiêng, Châu Ro, Mnông và Mạ cư trú đông đảo, tập trung cùng cộng cư với người Kinh và các tộc người thiểu số khác hợp thành các cộng đồng dân cư đa tộc người ở Đông Nam Bộ.
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích với 280 hộ gia đình đa tộc người, 70 hộ Xtiêng, 70 hộ Châu Ro, 70 hộ Mạ và 70 hộ Mnông tại 5 xã/ phường/ thị trấn của 2 huyện thuộc 2 tỉnh Đông Nam Bộ, bao gồm Đồng Nai, Bình Phước. Tổng số mẫu khảo sát được phân bổ theo bảng thống kê dưới đây.
Bằng phương pháp này, chúng tôi sẽ thu thập một khối lượng thông tin cần thiết phản ánh thực trạng quan hệ hôn nhân, gia đình và thân tộc của các cộng đồng dân cư đa tộc người ở cả nông thôn, thành thị, miền núi và ven biên giới Đông Nam Bộ. Ngoài ra, đề tài còn phỏng vấn sâu 28 hộ gia đình Mnông, Xtiêng, Mạ, Châu Ro và phỏng vấn sâu 8 cá nhân đại diện lãnh đạo xã/ thị trấn được chọn mẫu khảo sát tại bốn (04) cộng đồng tộc người được đề cập ở bảng 1 trên đây.
Phỏng vấn sâu cá nhân đại diện hộ gia đình nhằm thu thập thông tin định tính bổ sung những “khoảng trống” của dữ liệu định lượng để nhận diện sinh động thực trạng đời sống kinh tế và sinh kế, đời sống văn hóa, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng và các mối quan hệ hôn nhân, gia đình, thân tộc của hộ gia đình trong các cộng đồng cư dân đa tộc người ở Đông Nam Bộ. Phỏng vấn sâu cá nhân đại diện cho lãnh đạo xã/ thị trấn nhằm thu thập thông tin về đặc điểm tự nhiên và môi trường; cơ cấu dân cư và thành phần tộc người; chất lượng dân số và nguồn nhân lực; việc thực thi chính sách dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và việc làm, bảo đảm an toàn sinh kế, an sinh xã hội, an ninh quốc phòng theo hướng phát triển bền vững vùng tộc người thiểu số ở Đông Nam Bộ.
2. Cấu trúc tộc người của hộ gia đình đa tộc người
Cấu trúc tộc người trong 280 hộ thuộc các tộc người thiểu số tại chỗ (Xtiêng, Châu Ro, Mạ và Mnông) ở Đông Nam Bộ thì hôn nhân đối với người ngoại tộc trong các tộc người này phổ biến hơn cả vẫn là với người Kinh, ngoại trừ trường hợp người Mnông có hôn nhân với người Xtiêng cao hơn với người Kinh.
Đối với các người Xtiêng, người Châu Ro và người Mạ, tỷ lệ hộ đa tộc người có thành phần là người Kinh chiếm ưu thế với tỷ lệ lần lượt là 60,86%, 91,43% và 65,71%. Ngay trong tộc người Mnông, mặc dù tỷ lệ hộ Mnông-Kinh không nhiều bằng tỷ lệ hộ Mnông-Xtiêng (67,14%), nhưng cũng chiếm đến 18,57%. Sự phổ biến của hộ có thành phần tộc người Kinh cao trong các tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ cũng tương tự như các trường hợp các tộc người Khmer, Hoa và Chăm là sự tiếp xúc thường xuyên của các tộc người thiểu số với người Kinh với tư cách là tộc người đa số, phân bố đều khắp trên địa bàn cư trú của các tộc người thiểu số.
Trong các hộ Xtiêng đa tộc người được khảo sát, hộ Xtiêng-Khmer, chiếm 14,49% số hộ khảo sát. Trong bốn tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ, người Xtiêng có hôn nhân với người Khmer nhiều hơn các tộc người khác do người Xtiêng và người Khmer cư trú tiếp giáp nhau trên địa phận hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước. Ngoài ra, số hộ Xtiêng đa tộc người với thành phần là các tộc người thiểu số ở các tỉnh miền Bắc di dân vào cũng khá nhiều, gồm các hộ Xtiêng-Tày (7 hộ, chiếm 10,14%), Xtiêng-Mường (4 hộ - 5,8%), Xtiêng-Nùng (3 hộ - 4,35%). Như vậy, cũng trong cộng đồng tộc người Xtiêng, tỷ lệ hộ Xtiêng - “các tộc người thiểu số ở các tỉnh phía Bắc” có tỷ lệ cao hơn ở các tộc người thiểu số tại chỗ khác ở Đông Nam Bộ. Hiện tượng này không phải phổ biến trong tộc người Xtiêng nói chung mà là biểu hiện cụ thể tại hai điểm khảo sát là xã ĐăK Ơ và xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Theo lãnh đạo xã Đăk Ơ và xã Bù Gia Mập cho biết, vào khoảng những năm từ 1992 đến năm 2000 có nhiều người thuộc các tộc người thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di dân tự do vào hai xã này (trước năm 1997, xã Đăk Ơ và xã Bù Gia Mập còn cùng một đơn vị hành chánh cấp xã là xã Đăk Ơ, thuộc huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước), thuộc địa bàn cư trú lâu đời của người Xtiêng. Các di dân tự do là tộc người thiểu số ở các tỉnh phía Bắc vào các xã Đăk Ơ và xã Bù Gia Mập phần lớn là người Tày và người Nùng, người Mường, người Dao, Sán Chay1,… Quá trình di dân và tụ cư của các tộc người thiểu số kể trên tại hai xã này mở rộng diện giao tiếp của người Xtiêng và người Mnông với các tộc người thiểu số phía Bắc và làm nảy sinh hôn nhân giữa người Xtiêng và người Mnông tại xã Đăk Ơ và xã Bù Gia Mập với những di dân là tộc người thiểu số phía Bắc như được tổng hợp tại Bảng 2. Có thể nói đây là một đặc thù trong hôn nhân đa tộc của người Xtiêng và người Mnông tại hai xã này.
Trong tộc người Châu Ro, tỷ lệ hộ gia đình Châu Ro-Kinh chiếm tuyệt đại bộ phận trong các hộ đa tộc người trong cộng đồng người Châu Ro (91,43%) xuất phát từ sự cư trú gần gũi của người Châu Ro với người Kinh từ khá lâu. Các tác giả Trần Văn Chỉ và Chu Thái Sơn đã có nhận xét “Trên những địa bàn cư trú như hiện nay, người Châu Ro sống gần gũi với người Việt và luôn tiếp xúc, gắn bó ngày càng chặt chẽ với người Việt, nên trong ngôn ngữ của mình, lượng từ tiếng Việt đã tham gia ngày càng nhiều hơn, nhất là lớp từ văn hóa” (Viện Dân tộc học, 1984, tr. 205). Hơn nữa, trong hai thập kỷ qua, một bộ phận đáng kể thanh niên Châu Ro vào làm công nhân tại khu công nghiệp Biên Hòa nên càng có điều kiện giao tiếp với bạn bè, đồng nghiệp là người Kinh. Hôn nhân giữa người Châu Ro với người Mạ cũng khá phổ biến vì họ sống khá gần gũi nhau, trên địa bàn của huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nhưng tại trong các hộ khảo sát tại xã Túc Trưng chỉ có 2 hộ Châu Ro-Mạ. Tuy nhiên, khảo sát tại điểm cư trú của tộc người Mạ tại xã Hòa Hiệp, thị trấn Định Quán thì có 7 hộ (10%) Mạ-Châu Ro. Điều này minh chứng rằng hôn nhân giữa người Châu Ro với người Mạ hay giữa người Mạ với người Châu Ro cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể (trong cả 70 hộ người Châu Ro và 70 hộ người Mạ có 12 hộ chiếm 8,57%. Tuy nhiên cụ thể trong mẫu nghiên cứu này, hôn nhân giữa nam giới Châu Ro lấy vợ là người Mạ phổ biến hơn hơn hôn nhân giữa nữ giới người Cho Ro lấy chồng là người Mạ. Do cư trú sau hôn nhân là ở nhà vợ theo phong tục của cả hai tộc người nên gia đình đa văn hóa có chồng là người Châu Ro và vợ là người Mạ thường chỉ thấy trong các điểm cư trú của người Mạ (như trường hợp xã Túc Trưng - điểm cư trú của người Châu Ro) và xã Hiệp Nghĩa (điểm cư trú của người Mạ) trong mẫu nghiên cứu.
Gia đình có thành phần là người Khmer chỉ có trong cộng đồng tộc người Xtiêng (chiếm 14,49%). Đặc điểm này bắt nguồn từ địa bàn cư trú của người Xtiêng và người Khmer tiếp giáp với nhau, kể cả trường hợp với người Khmer ở Campuchia. Chúng ta cũng biết là, địa bàn phân bố chủ yếu của người Xtiêng là tỉnh Bình Phước, giáp với tỉnh Tây Ninh, cũng là phần rìa của địa bàn cư trú của người Khmer ở Đông Nam Bộ. Tác giả Diệp Đình Hoa đã xác định địa bàn cư trú của người Xtiêng với tư cách là tộc người tại chỗ: “Tộc người Xtiêng cư trú từ rất lâu đời tại các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh nhưng chủ yếu là Sông Bé (nay là tỉnh Bình Phước và Bình Dương - PVD). […] Họ sống xen kẽ với các tộc người Việt, Khơme, Chăm Mnông…” (Viện Dân tộc học, 1984, tr.142).
Trong các hộ Mnông đa tộc người, tỷ lệ hộ Mnông-Xtiêng chiếm ưu thế với tỷ lệ 67,14%. Đây là tộc người có hôn nhân với các tộc người lân cận cao nhất nhưng chủ yếu là với người Xtiêng. Bởi vì điểm khảo sát tộc người Mnông là tại xã Bù Gia Mập, tiếp giáp với điểm khảo sát tộc người Xtiêng tại xã Đăk Ơ đều thuộc huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Cũng cần phải nói thêm là xã Bù Gia Mập cho tới cuối năm 1997 vẫn còn chung trong cùng một đơn vị hành chánh cấp xã là xã Đăk Ơ2, mới tách thành hai xã là xã Đăk Ơ và xã Bù Gia Mập tháng 12/19983. Ở hai xã này vẫn có những xóm có sự cư trú xen kẽ giữa người Mnông và người Xtiêng.
Thành phần dân cư của xã Bù Gia Mập gồm có người Mnông, Xtiêng và các tộc người thiểu số các tỉnh phía Bắc di cư vào (Tày, Mường, Nùng…). Sự đa dạng về thành phần tộc người trong dân cư của xã Bù Gia Mập cũng đồng thời tạo điều kiện cho hôn nhân với người khác tộc người trong người Mnông và người Xtiêng (ở hai xã Bù Gia Mập và xã Đăk Ơ) với tộc người thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di cư vào, nhất là với người Tày. Trong các hộ Xtiêng ở đây, hộ gia đình Xtiêng và Mnông đa tộc người với thành viên là các tộc người thiểu số từ các tỉnh phía Bắc di cư vào chiếm một một tỷ lệ đáng kể (có 14 hộ Xtiêng, chiếm 20%, có thành viên hộ là các tộc người thiểu số phía Bắc, trong tộc người Mnông có 5 hộ, chiếm 7,14% (Bảng 2).
Trong cộng đồng tộc người Mạ, chúng ta thấy có 12,86% hộ đa tộc người Mạ-Kơ Ho, cũng đồng thời là tộc người có quan hệ hôn nhân với người Kơ Ho trong khi mẫu khảo sát trong ba tộc người còn lại (Xtiêng, Châu Ro, Mnông) đều không gặp. Chúng ta cũng gặp duy nhất ở người Mạ có 2 hộ có ba thành phần tộc người, gồm một hộ Châu Ro-Kinh-Mường và một hộ Mạ-Chăm-Kinh.
Tương ứng với tỷ lệ kết hôn với người khác tộc người mà thành phần hộ đa tộc người trong các cộng đồng cư trú của các tộc người thiểu số ở Nam Bộ có tỷ lệ tương ứng. Về mặt thành phần tộc người trong dân số các hộ đa tộc người đôi khi không tương ứng với cấu trúc tộc người của hộ đa tộc người. Có nhiều lý do khiến cho thành phần dân cư trong các hộ đa tộc người không tương tứng với thành phần tộc người của hộ. Trước nhất là kiểu tổ chức gia đình mẫu hệ hay phụ hệ và điều này có ảnh hưởng đến tập quán cư trú bên chồng hay bên vợ và tính huyết thống theo phía mẹ (trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với tộc danh mẹ). Việc hộ gia đình đa tộc người cư trú trong cộng đồng cư trú bên chồng hay bên vợ mà tộc danh của con cái họ thường sẽ thuộc về. Cụ thể, trong các hộ Mạ-Châu Ro, phần lớn các hộ này là vợ là người Mạ và cư trú theo bên vợ tức là về cư trú trong bon người Mạ, nên con cái họ mang tộc danh Mạ chứ không theo tộc danh Châu Ro. Mặt khác, việc thực hiện chính sách dân tộc của Nhà nước có ưu đãi so với người Kinh nên hôn nhân giữa người Kinh với người thuộc tộc người thiểu số (ngoại trừ trường hợp với người Hoa) khi có con, thì tộc danh con thường theo phía cha hay mẹ là người thuộc tộc người thiểu số để được hưởng những quyền lợi đó.
Dân số xét theo tộc người trong các hộ đa tộc người khảo sát trong từng cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ được phản ánh cụ thể trong các biểu đồ 1, 2, 3 và 4. Tất nhiên, mẫu khảo sát đối với tộc người thiểu số nào sẽ có thành phần dân số theo tộc danh của tộc người đó có tỷ lệ dân số cao nhất cho dù tất cả các hộ khảo sát theo chọn mẫu có mục đích là đều hộ gia đình đa tộc người. Tuy vậy, vẫn có trường hợp đặc thù của hộ Mnông đa tộc người. Và, hôn nhân giữa các tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ với người Kinh đều chiếm tỷ lệ cao hơn (phần lớn là chiếm tỷ lệ cao nhất) so với các tộc người khác nên nói chung, trong cơ cấu dân số của các hộ này, dân số người Kinh thường chiếm tỷ lệ cao, đứng hàng thứ hai sau dân số của tộc người chính của tộc người được khảo sát.
Trong 70 hộ Xtiêng đa tộc người, tỷ lệ người Xtiêng chiếm 52,98%, tổng dân số các tộc người khác (Kinh, Khmer, Mnông, Tày, v.v…) chiếm 47,02% (Biểu đồ 1). Tương tự, trong 70 hộ Châu Ro đa tộc người, tỷ lệ người Châu Ro chiếm 51,11% và trong các hộ Mạ đa tộc người, tỷ lệ dân số người Mạ chiếm 64,17%.
Trong bốn tộc người tộc thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ, người Châu Ro là tộc người có các hộ Châu Ro-Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất (91,43% tổng số hộ khảo sát). Cũng vì vậy mà tỷ lệ dân số là người Kinh đứng hàng thứ hai (45,28%) sau dân số người Châu Ro (51,11%) và vẫn cao hơn so với dân số người Kinh trong dân số các hộ đa tộc người của ba tộc người còn lại (Xtiêng, Mạ và Mnông). Dân số người Kinh trong các hộ Châu Ro đa tộc người được khảo sát trong cộng đồng cư trú của người Châu Ro cho thấy tỷ lệ nam giới cao hơn so với nữ giới (96 người, chiếm 58,90% so với 67 người chiếm 41,10% trong tổng số người mang tộc danh Kinh). Dân số người Kinh trong dân số của 70 hộ gia đình Châu Ro đa tộc người cũng đồng thời cho thấy nam giới người Kinh chiếm đa số với 50,26% trong tổng số dân số nam giới (nam giới Châu Ro chỉ chiếm có 46.07%) và nữ giới người Kinh chiếm 39,64% trong tổng số nữ giới 70 hộ khảo sát (nữ giới Châu Ro chiếm 56,80%) (Biểu đồ 2). Trong đó, người đã kết hôn là 69 người, gồm 44 nam (63,77%) và 24 nữ (36,23%). Chỉ báo này cũng đồng thời phản ánh rằng trong cộng đồng cư trú người Châu Ro được khảo sát, hộ Châu Ro-Kinh có nữ giới người Châu Ro lấy chồng người Kinh cao hơn so với hộ Châu Ro-Kinh có nam giới Châu Ro lấy vợ người Kinh. Nói rằng “trong cộng đồng cư trú người Châu Ro được khảo sát, hộ Châu Ro-Kinh có nữ giới người Châu Ro lấy chồng người Kinh cao hơn so với hộ Châu Ro-Kinh có nam giới Châu Ro lấy vợ người Kinh” bởi vì điều này không phản ánh đúng thực tế tỷ lệ của nam và nữ người Châu Ro kết hôn với người Kinh. Kết quả khảo sát chung từ đề tài này với 695 hộ trong cả bảy tộc người, cung cấp tương quan về tỷ lệ nam giới người Châu Ro lấy vợ là người Kinh chiếm đến 64.86% số nam giới Châu Ro đâ kết hôn trong khi nữ giới Châu Ro lấy chồng là người Kinh là 46% trong tổng số nữ giới Châu Ro đã kết hôn. Đó còn do nữ giới Châu Ro sau kết hôn vẫn ở lại cộng đồng mình trong khi nam giới Châu Ro sau khi kết hôn thường có nhiều người rời khỏi cộng đồng cư trú của mình. Việc phân tích thành phần tộc người trong các hộ có hôn nhân khác tộc người chỉ cho chúng ta một ý tưởng quan trọng là, dù không có sự cư trú xen kẽ giữa các hộ thuộc các tộc người khác trong một điểm cư trú thì thông qua hôn nhân ngoại tộc, hình thành các gia đình đa tộc người cũng có tác động mạnh mẽ trong giao lưu văn hóa giữa các tộc người với nhau.
Xét về mặt thành phần tộc người trong dân số của 70 hộ Mạ đa tộc người thì người Mạ - tộc người tại điểm khảo sát - chiếm 64,17%, người Kinh chiếm 20,56% và các thành phần tộc người còn lại có hôn nhân với nam/nữ người Mạ chiếm chỉ có 15,27% trong tổng dân số của các hộ Mạ đa tộc người được khảo sát. Trở lại bảng 3.4 ở trên, chúng ta biết tỷ lệ các hộ người Mạ đa tộc người. Trong đó, hộ người Mạ-Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất (65,71%) cũng dẫn đến thành phần dân số người Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất (20,56%) so với dân số các tộc người khác trong các hộ người Mạ đa tộc người được khảo sát (15.27%). Hộ người Mạ đa tộc người cũng cho chúng ta thấy ở người Mạ có hôn nhân với các tộc người thiểu số tại chỗ cư trú lân cận đó là người Châu Ro và người Kơ Ho. Địa bàn phân bố cư trú chính của người Kơ Ho là tỉnh Lâm Đồng đồng thời cũng là địa bàn cư trú chính của người Mạ nên hôn nhân giữa người Mạ với người Kơ Ho là khá phổ biến nhất là tại các buôn làng người Mạ và người Kơ Ho ở Lâm Đồng. Hộ Mạ-Kơ Ho chỉ chiếm có 12,86% số hộ khảo sát và có dân số chỉ chiếm có 4,67% trong dân số các hộ khảo sát. Tương tự, hộ Mạ-Châu Ro chiếm 10% số hộ và dân số chỉ chiếm có 4,05% (xem biểu đồ 3). Sỡ dĩ có tương quan giữa tỷ lệ hộ và dân số người Mạ cũng như người Châu Ro trong dân số các hộ khảo sát bởi vì con cái của các hộ này phần lớn mang tộc danh Mạ, tộc danh của tộc người chính, tộc người chủ thể của điểm cư trú được khảo sát.
Riêng trong 70 hộ Mnông đa tộc người, tỷ lệ người Mnông chỉ chiếm có 47,73%, kế đó là người Xtiêng, chiếm 38,35% cũng là tộc người có hôn nhân cao nhất với người Mnông (67,14%) tại điểm khảo sát (xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước). Người Mnông ở xã Bù Gia Mập cũng có hôn nhân với các tộc người di dân phía Bắc tương đối cao nhưng trong cơ cấu dân cư các tộc người di dân từ các tỉnh phía Bắc vào không nhiều trong cơ cấu dân số của 70 Mnông đa tộc người được khảo sát (12 người, chiếm 3,41% dân số các hộ khảo sát). Người Mnông ở xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông và người Mnông ở xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước cùng thuộc nhóm Mnông Bù Đêh. Sống tiếp giáp với người Xtiêng nên họ nói được tiếng Xtiêng cũng như có quan hệ hôn nhân với nhau và có một số tương đồng về văn hóa với người Xtiêng. Người Mnông và người Xtiêng còn có những người đồng tộc của họ ở Campuchia và họ vẫn có quan hệ, qua lại thăm viếng nhau.
Dân số trong 70 hộ người Mạ đa tộc người có 321 người, trong đó dân số người Mạ là cao nhất (64.17%), kế đó là người Kinh (20.56%). Các tộc người khác như Kơ Ho, Châu Ro, Chăm có dân số không quá 10 người. Ngoài ra, các tộc người thiểu số ở các tỉnh di cư vào cũng có hôn nhân với người mạ nhưng không nhiều trên địa bàn khảo sát. Cơ cấu dân cư chia theo tộc người trong dân số 70 hộ người Mạ đa tộc người, được phản ánh trong biểu đồ 5.
Trên cơ sở phân tích cấu trúc thành phần tộc người trong hộ gia đình các tộc người thiểu số ở Đông Nam Bộ có thể rút ra một số điểm đáng chú ý: 1) Các tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ, tỷ lệ kết hôn giữa người Châu Ro với người Kinh là cao nhất nên gia đình đa tộc người Châu Ro - Kinh cao hơn so với người Xtiêng, người Mạ và người Mnông. 2) Các tộc người thiểu số tại chỗ, chỉ phân bố ở khu vực Đông Nam Bộ; trong đó hôn nhân với người Kinh cũng chiếm ưu thế, ngoại trừ trường hợp người Mnông. 3) Trong người Mnông và Xtiêng, hôn nhân với các tộc người thiểu số các tỉnh phía Bắc tương đối cao hơn các tộc người thiểu số khác. Điều này xuất phát từ một thực tế là trên địa bàn hai xã Đăk Ơ và Bù Gia Mập có khá nhiều người thuộc các tộc người thiểu số ở các tỉnh phía Bắc nhập cư vào.
3. Quan hệ đa tộc người và đa văn hóa của hộ gia đình đa tộc người
Trong hộ 70 gia đình đa tộc người hay đa văn hóa của người Xtiêng, hộ gia đình Xtiêng-Kinh, chiếm ưu thế (60,86%), sau đó là hộ gia đình Xtiêng-Khmer (14,49%), Xtiêng-Tày (10,14%), Xtiêng-Mường (5,8%), Xtiêng-Nùng (4,35%). Nhìn chung, người Xtiêng có quan hệ thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa ở nội vùng với người Kinh, người Khmer và quan hệ thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa liên vùng với người Tày, người Mường, người Nùng.
Trong 70 hộ gia đình đa tộc người hay đa văn hóa của người Mnông thì hộ gia đình đa tộc người Mnông-Xtiêng chiếm ưu thế (67,14%). Sau đó là hộ gia đình Mnông-Kinh (18,57%), hộ gia đình Mnông-các tộc người thiểu số ở phía Bắc (7,14%), hộ gia đình Mnông-Ê Đê (2,86%) và hộ gia đình Mnông-tộc người thiểu số khác (4,29%). Nhìn chung, người Xtiêng ở xã Đắk Ơ và người Mnông ở xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập cộng cư với người Kinh, người Khmer (chỉ có ở người Xtiêng) và các tộc người thiểu số từ các tỉnh miền núi phía Bắc (Tày, Mường, Nùng…) nên quan hệ gia đình và thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa của họ với các tộc người thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã khá phổ biến ở hai cộng đồng tộc người này: 14/70, chiếm 20% hộ gia đình Xtiêng và 5/70 hộ, chiếm 7,14% hộ gia đình người Mnông có quan hệ thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa với các tộc người Tày, Mường, Nùng...
Trong 70 hộ gia đình đa tộc người hay đa văn hóa của người Châu Ro, có đến 91,43% (64/70 hộ) Châu Ro-Kinh, 2,86% hộ gia đình Châu Ro-Mạ và 5,71% hộ gia đình hỗn hợp Châu Ro-Kinh-Mường. Số liệu trên cho thấy quan hệ gia đình và thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa của người Châu Ro với người Kinh là chủ yếu, bởi người Châu Ro ở xã Túc Trưng và xã Phú Túc, huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai đã cộng cư và tiếp xúc mạnh với người Kinh nên các mối quan hệ này đã trở nên phổ biến trong các cộng đồng dân cư đa tộc người của người Châu Ro ở vùng này từ lâu đời.
Trong 70 hộ gia đình đa tộc người hay đa vă nhóa của người Mạ, có 65,71% hộ gia đình Mạ-Kinh (46/70 hộ), 12,86% hộ gia đình Mạ-Cơ Ho (9/70 hộ), 10,0% hộ gia đình Mạ-Châu Ro (7/70 hộ), 5,71% hộ gia đình Mạ-Chăm (4/70 hộ), 2,86% hộ gia đình Mạ-tộc người khác (2/70 hộ) và 2,86% hộ gia đình hỗn hợp Mạ-Chăm-Kinh. Quan hệ gia đình và thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa của người Mạ chiếm số đông vẫn là người Kinh, sau đó với người Cơ Ho và người Châu Ro vốn là các tộc người cư trú, sinh sống gần nhau và gần gũi với nhau về nguồn gốc cư dân, ngôn ngữ và văn hóa.
4. Xu hướng và động thái quan hệ gia đình và thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa của hộ gia đình đa tộc người
Sự thay đổi phương thức sinh kế từ du canh du cư sang định canh định cư, chuyển đổi chế độ sở hữu từ chế độ sở hữu cộng đồng sang sở hữu cá thể, hộ gia đình, cùng với việc giải thể nhà dài đã khiến cho định chế đại gia đình (hay gia đình lớn) được thay bằng tiểu gia đình (gia đình nhỏ hay gia đình hạt nhân). Gần đây, sự chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp tự cung tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường với cơ cấu cây trồng từ cây lương thực (lúa, hoa màu…) sang cây công nghiệp (điều, tiêu, cao su…) và sự thay đổi niềm tin từ tôn thờ vạn vật hữu linh sang niềm tin độc thần tôn thờ Thiên Chúa đã làm cho quá trình giải thiêng diễn ra nhanh chóng trong hộ gia đình cũng như cộng đồng tín đồ Công giáo và Tin lành của các cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ với sự hợp nhất hệ thống tín ngưỡng đa thần vào duy nhất chỉ có một Chúa Trời.
Từ nền kinh tế chuyển đổi và niềm tin tôn giáo như trên đây, các loại hình tín ngưỡng cổ truyền của gia đình, dòng họ và cộng đồng liên quan đến nông nghiệp như cúng thần lúa, thần rừng và các nghi thức hiến sinh, cùng với các nghi lễ liên quan đến vòng đời như lễ đặt tên cho trẻ mới sinh, lễ cưới, lễ làm nhà mồ, chia của và đưa cơm cho người chết, lễ bỏ mả và nhiều tập tục kiêng kỵ khác nữa… đã biến đổi, hoặc mất đi khi không còn cơ sở tồn tại, hoặc được đổi mới về nội dung hành lễ, được thay thế hoặc điều chỉnh cho phù hợp với qui ước của bon, palei, luật pháp của Nhà nước, luật đạo của Công giáo và Tin Lành. Một số nghi lễ cổ như lễ cưới và lễ tang chẳng hạn đã có sự dung hợp các nghi thức cổ truyền với cách thức tổ chức đám cưới, đám tang của tộc người đa số, hoặc “cộng sinh” với các định chế tôn giáo trong việc thực hành nghi thức đám cưới, đám tang...
Quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo của các tộc người thiểu số tại chỗ (Xtiêng, Châu Ro, Mạ và Mnông) ở Đông Nam Bộ có ưu thế và được ứa thích trước đây là quan hệ hôn nhân giữa các tộc người thiểu số tại chỗ có chung nguốn gốc cư dân, ngôn ngữ và văn hóa với nhau. Tuy nhiên, quá trình cộng cư, chung sống với người Kinh và các tộc người thiểu số khác miền núi ở Đông Nam Bộ, ngoài mối quan hệ hôn nhân khác tộc người theo truyền thống, họ cũng đã mở rộng quan hệ hôn nhân khác tộc người với người Kinh, người Khmer, người Hoa, người Chăm và các tộc người thiểu số di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó phổ biến nhất là kết hôn với người Kinh, hợp thành gia đình đa tộc người có người Kinh chiếm ưu thế và sự dung hợp văn hóa của tộc người đa số có tính nổi trội trong gia đình, thân tộc và kể cả cộng đồng của các cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ.
Mặt khác, sự du nhập của Công giao và Tin Lành, đặc biệt là đạo Tin Lành đã được đông đảo các cộng đồng tộc người thiểu tại chỗ ở Đông Nam Bộ tin theo. Sự điều chỉnh các quy định theo luật đạo của Công giáo và Tin Lành đã làm biến đổi không chỉ đời sống tinh thần, tâm linh, đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa, mà còn trong hôn nhân và gia đình với các nghi lễ đám cưới, đám tang và quy tăc kết hôn đồng tôn giáo của các hộ gia đình là tín đồ của hai tôn giáo này.
Ngoài ra, mối quan hệ tương tác giữa vợ/ chồng, cha mẹ/ con cái trong gia đình, kể cả gia đình đồng tộc và gia đình đa tộc người hay đa văn hóa của các tộc người thiểu số ở Đông Nam Bộ để thực hiện các chức năng của gia đình cũng đã biến đổi theo xu hướng bình đẳng giới và trao quyền quyêt định về hôn nhân, hướng nghiệp… cho con cái trong gia đình.
Kết luận
Quá trình cộng cư, tiếp xúc, giao lưu với nhiều tộc người khác nhau ở Đông Nam Bộ, quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo của các cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ (Xtiêng, Châu Ro, Mnông, Mạ) đã được thiết lập lâu nay giữa các tộc người thiểu số tại chỗ với nhau, giữa các tộc người thiểu số tại chỗ với người Kinh, người Khmer, người Hoa, người Chăm và các tộc người thiểu số khác nhập cư vào vùng này chủ yếu sau năm 1975 (Tày, Thái, Nùng, Hmông, Dao, Cơ Ho, Ê Đê…), trong đó quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo với người Kinh là chủ yếu. Ngoại trừ trường hợp cộng đồng người Mnông ở xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước kết hôn với người Xtiêng láng giềng có tỷ lệ cao hơn nhiều so với kết hôn với người Kinh.
Là tộc người đa số, tiếp xúc mạnh với các tộc người thiểu số ở các địa bàn cư trú khác nhau ở Đông Nam Bộ nên quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo với người Kinh của các cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ luôn chiếm ưu thế. Vì thế, gia đình và thân độc đa tộc người hay đa văn hóa của các cộng đồng dân cư đa tộc người ở Đông Nam Bộ phổ biến nhất vẫn là gia đình và thân tộc đa tộc ngưới có người Kinh. Gia đình đa tộc người đều là gia đình mang đặc trưng của gia đình đa văn hóa, trong đó yếu tố văn hóa của tộc người đa số bằng nhiều con đường, chủ yếu là do quan hệ hôn nhân ảnh hưởng đến văn hóa của mỗi cộng đồng tộc người thiểu số. Quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo của các cộng đồng dân cư đa tộc người ở Đông Nam Bộ thường bị ràng buộc bởi một nền văn hóa hay một tôn giáo nhất định. Quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo, hợp thành gia đình và thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa của các tộc người ở Nam Bộ nhìn chung vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ thiếu bền vững, có thể dẫn đến mâu thuẫn, xung đột với nhau nếu không thấu hiểu sự khác biệt về văn hóa và tôn giáo của nhau. Dù vậy, quan hệ hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo của các cộng đồng dân cư đa tộc người ở vùng đất này cũng đã thích ứng với bản sắc văn hóa và tôn giáo, góp phần kiến tạo nên những gia đình và thân tộc đa tộc người hay đa văn hóa, làm sâu sắc hơn các mối quan hệ xã hội và văn hóa, sự hòa hợp giữa các tộc người và hội nhập xã hội vào một quốc gia chung hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Viện Dân tộc học, 1984. Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Tập 2. Các dân tộc phía Nam). Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.
1 Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, dân số xã ĐăK Ơ là 12.972 người, trong đó người Kinh là 8.070 người, chiếm 62,21% dân số của xã; người Xtiêng là 3.732người, chiếm 28,77%; người Tày: 484 người, chiếm 3,73 %, Nùng: 457 người, chiếm 3,52%, Mường: 70 người, 0,53%; Khmer: 55 người, 0,42%. Số còn lại thuộc các TNTS khác như Mạ, Mường, Sán Chay…
Cũng vào thời điểm này, xã Bù Gia Mập có 6.112 người, trong đó người Kinh là người (25,02%), Xtiêng 1997 người (32,67%), người Mnông: 1.184người (19,37%); người Tày: 616 người (10,08%, Nùng: 331 người (5,42%), Dao: 210 người (3.44%), Sáng Chay: 90 người (1.47%), Hoa: 80 người (1,31%). Số còn lại thuộc các TNTS khác như Ê đê, Mường, Thái, Sán Dìu…
2 Xã Đăk Ơ được thành lập từ 1976 trên cơ sở vận động các buôn người Xtiêng phân bố rải rác và sống du canh du cư ở vùng rừng núi trên địa bàn của xã (lúc bấy giờ thuộc huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé). Họ được vận đưa về địa điểm định cư và nay là các bon Bù Du Nga, Bù Bưng, Bù Khơn, Bù Nung và bon Bù Srê.
3 Xã Bù Gia Mập được thành lập vào năm vào này 1.02.1998 theo Nghị định số 19 ngày 26/12/1997, Tách xã Đắk ơ thành 2 xã là Đắk Ơ à Bù gia Mập. Các thôn ở xã Bù Gia Mập. Phân định các thôn và thành phần dân cư trong xã Bù Gia Mập vào thời điểm thành lập (tháng 2/1998) như sau:

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét