Tóm tắt: Bình Định có ba dân tộc cùng sinh sống đó là Bahnar (người Bahnar Kriêm), Hre và Chăm (người Chăm Hroi). Người Bahnar Kriêm cư trú chủ yếu ở huyện Vĩnh Thạnh, một số ít ở An Lão, và Vân Canh; Người Hre cư trú chủ yếu ở huyện An Lão; Người Chăm Hroi cư trú ở huyện Vân Canh. Mỗi một tộc người đều mang một sắc thái văn hóa sản xuất riêng. Người Bahnar sản xuất nương rẫy là chính, canh tác ruộng nước chỉ mới xuất hiện gần đây; người Hre do địa bàn cư trú theo các dòng sông nên họ rất thạo trong việc sản xuất ruộng nước; người Chăm Hroi cư trú ở nơi khô hạn nên sản xuất chủ yếu là ruộng khô.
Các hình thức sản xuất khác như săn bắn, hái lượm, chăn nuôi vẫn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống các dân tộc thiểu số ở Bình Định.
Nghề thủ công truyền thống vẫn tồn tại trong các dân tộc Bahnar, Hre, Chăm. Nghề dệt, chủ yếu do phái nữ đảm nhiệm. Đan lát chủ yếu do phái nam đảm nhiệm. Ngày nay, ngành nghề thủ công gần như đang bị thu hẹp dần, có nghề như rèn gần như không còn.
Từ lâu đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, ở Bình Định nói riêng đã có những hình thức trao đổi mua bán các sản vật cần thiết cho mình, dù rất sơ khai. Họ đổi thứ mình có, lấy thứ mình thiếu hoặc không có.
Từ khóa: Văn hóa sản xuất, dân tộc miền núi, tỉnh Bình Định.
1. Các loại hình kinh tế
Cũng như các dân tộc thiểu số khác ở Trường Sơn - Tây Nguyên, các dân tộc Chăm, Bahnar, Hrê ở Bình Định trong quá trình tồn tại và phát triển đã tạo ra nhiều hoạt động kinh tế khác nhau: sản xuất nương rẫy, làm vườn, chăn nuôi, canh tác nà thổ (ruộng khô), ruộng nước, săn bắn, đánh cá, hái lượm, làm nghề thủ công (đan lát, dệt, rèn), trao đổi mua bán... Trong các hoạt động kinh tế đó, có những hoạt động mang dấu ấn của loại hình kinh tế chiếm đoạt như săn bắn, hái lượm, đánh cá, cũng có những hoạt động của loại hình kinh tế sản xuất, như nông nghiệp ruộng nước, ruộng khô, chăn nuôi... Sở dĩ có sự đan xen tồn tại của nhiều loại hình kinh tế khác nhau là do sự tác động của yếu tố tự nhiên, sự cách biệt với thế giới bên ngoài, sự khác nhau trong xuất phát điểm giữa các dân tộc. Sự không thống trị của một loại hình kinh tế chủ đạo nào trong đời sống kinh tế đã buộc các dân tộc Chăm, Bahnar, Hrê phải chọn giải pháp thực hiện nhiều loại hình kinh tế để đảm bảo cuộc sống của mình.
Tuy nhiên, thứ tự ưu tiên của các loại hình kinh tế ở mỗi dân tộc là khác nhau. Đối với dân tộc Chăm, hoạt động kinh tế chiếm vị trí hàng đầu là canh tác trên ruộng khô (đất nà thổ); người Hrê lại gắn bó lâu đời với ruộng nước; người Bahnar vẫn trung thành với hoạt động kinh tế nương rẫy vốn gắn bó lâu đời với đồng bào. Sau đây chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu các hình thái kinh tế của người Chăm, Bahnar, Hrê ở Bình Định.
2. Hình thái kinh tế nương rẫy
Do cư trú trên địa hình vùng núi nhấp nhô, nhiều khe suối, chia cắt, uốn lượn nên đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Định đã chọn cho mình một loại hình kinh tế phù hợp đó là kinh tế nương rẫy. Đây là loại hình kinh tế chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống của các dân tộc Chăm, Bahnar, Hrê ở Bình Định trong những thời kỳ trước đây. Hiện nay, hoạt động kinh tế nương rẫy ở các dân tộc này đã có sự thay đổi. Đối với người Hrê, kinh tế nương rẫy chỉ xếp hàng thứ hai sau ruộng nước, đối với người Chăm sau ruộng khô, riêng người Bahnar vẫn chiếm vị trí quan trọng. Có thể nói kinh tế nương rẫy là loại hình kinh tế có từ lâu đời trong các dân tộc ở Bình Định và hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên (đất đai, khí hậu, thời tiết). Cho nên tất yếu sẽ dẫn đến các hệ quả như coi trọng kinh nghiệm, coi trọng người già, tạo nên tính cộng đồng thể hiện trên nhiều lĩnh vực từ cấu trúc làng bản, sự chia sẻ nguồn lợi kinh tế giữa các cá thể (lúc đói kém, mất mùa), đến vấn đề sở hữu, chiếm hữu đất đai, rừng núi. Kinh tế nương rẫy gắn liền với tính di động, đa canh, luân canh nên là cơ sở đầu tiên và quan trọng để hình thành yếu tố tự quản trong cộng đồng làng.
Việc sản xuất nương rẫy đòi hỏi phải trải qua một quá trình lâu dài, gian khổ với nhiều công đoạn từ: chọn đất, phát cốt, đốt, trỉa, dọn cỏ, bảo vệ đến thu hoạch và chọn giống...
Việc tìm chọn rẫy thường bắt đầu vào khoảng cuối tháng Giêng, đầu tháng Hai âm lịch. Quy trình chọn rẫy có đôi chỗ khác nhau giữa các làng của các dân tộc Chăm, Bahnar, Hrê do sự chi phối của điều kiện tự nhiên, luật tục, tín ngưỡng. Nhưng cái chung là mở đầu cho công việc sản xuất nên được cân nhắc tương đối kỹ. Việc chọn rẫy thường là công việc của người đàn ông. Khi chọn rẫy, yếu tố kinh nghiệm là cực kỳ quan trọng. Rẫy được chọn phải là vùng đất nhiều mùn, theo hướng mặt trời mọc, ứng với sự sinh sôi nảy nở nhưng không bị nắng quá gay gắt. Đồng bào thường tránh tìm những sườn đồi, nơi chỉ nhận được ánh nắng buổi chiều, hoàng hôn hay nơi thường có gió thổi mạnh..., vì những nơi này không tốt cho mùa vụ.
Sau khi tìm thấy mảnh đất vừa ý và chưa có chủ sử dụng, chủ nhà sẽ xác định quyền sở hữu của mình bằng cách phát một đám nhỏ, cắm chéo hai thanh cây hoặc phát một vòng tròn để làm dấu. Nếu hai, ba đêm sau đó, chủ nhà nằm mộng tốt, như thấy con gái, con trai, gặp đám cưới... thì rẫy sẽ được phát. Ngược lại, nếu thấy mộng xấu, như thấy nước đỏ, đất lở, núi sập... đất chọn đó sẽ bị bỏ, bởi không ai đủ tự tin để sản xuất trên mảnh đất mà thần linh đã cảnh báo.
Hoàn tất công việc chọn đất, vào khoảng đầu tháng Ba bắt đầu công việc phát rẫy - khâu nặng nhọc nhất trong quy trình kỹ thuật canh tác, chiếm nhiều thời gian và công sức nhất. Dụng cụ dùng để phát rẫy là rìu, rựa... Đàn ông sử dụng rìu chặt hạ những cây to, còn phụ nữ dùng dao, rựa phát những cành nhỏ và dọn dẹp.
Phát rẫy xong, rẫy được để khô từ một đến hai tháng. Đốt rẫy cũng là công việc đòi hỏi có kỹ thuật cao, nhất là việc chọn đúng hướng gió vì ngoài việc an toàn đối với rừng, rẫy bên cạnh, cây chặt phải cháy đều và cháy hết. Tro than khi đốt sẽ là nguồn phân bón cần thiết và quan trọng cho cây trồng.
Khoảng cuối tháng Ba, công việc trỉa lúa được bắt đầu với sự góp sức của cả gia đình, dòng họ. Trước khi trỉa lúa, đồng bào... làm lễ trỉa lúa. Người Bahnar gọi lễ này là Chỏ mul ba. Lễ vật cúng gồm có cau trầu, lợn và con gà. Đồng bào mang toàn bộ lễ vật cùng với giống lúa ra rẫy cúng và cầu xin thần linh phù hộ cho mùa màng tốt tươi, chim thú không tàn phá, mang lại sự ấm no cho dân làng. Khi cúng họ chọc vài lỗ tra hạt, làm phép và ngày hôm sau mới tiến hành trỉa lúa. Cũng như phát cốt, kỹ thuật trỉa được bắt đầu từ dưới chân rẫy đi lên theo hàng ngang từ bên trái sang. Đây là một kinh nghiệm có giá trị kỹ thuật nổi bật ở các tộc người thiểu số ở Bình Định. Điều này cho thấy họ phải luôn đối diện với dạng địa hình canh tác dốc, cách thức này sẽ tạo nên những hàng ngang theo sườn đồi, hạn chế phần nào sự cuốn trôi đất và hạt lúa theo dòng nước. Mỗi lỗ được trỉa từ ba đến bốn hạt. Đối với rẫy mới phát lần đầu, đồng bào trỉa thưa, còn những rẫy đã qua nhiều năm sử dụng đồng bào trỉa dày hơn.
Ngoài sử dụng phân tro tự nhiên, việc chăm sóc, làm cỏ lúa hay dựng hàng rào quanh rẫy là những cố gắng của người Bahnar, Hrê, Chăm để hạn chế sự phá hoại của thú rừng và chim chóc, giảm thiểu nguy cơ mất mùa. Trong quá trình chăm sóc, đồng bào thường có những lễ cúng thần lúa (người Bahnar gọi là Pơm anhet). Lễ vật gồm có gà, hương, hoa, trầu, rượu... công việc cúng được tiến hành ngay tại rẫy. Chủ nhà khấn cầu thần linh cho lúa tốt tươi, được mùa.
Việc thu hoạch vụ mùa sẽ được tiến hành vào khoảng tháng 9 - 10. Vào những ngày đó, một không khí thiêng liêng và quan trọng bao trùm lên làng bản. Các lối mòn quanh làng và khu rẫy đều xuất hiện những dấu cấm người lạ. Nhiều lễ cúng được tiến hành nhằm tạ ơn thần linh như lễ cúng cơm mới (người Bahnar gọi là Samơk). Sau lễ ăn cơm mới, đồng bào mới tiến hành thu hoạch lúa. Sau khi thu hoạch xong, lúa được cất giữ trong nhà kho và tiến hành lễ rước hồn lúa về kho. Trước đây, kho lúa của người Bahnar thường làm ngay ở rẫy và đó cũng chính là chòi canh giữ rẫy. Ngày nay, đa số đồng bào đều làm kho chứa lúa ngay xung quanh nhà của mình.
3. Hoạt động kinh tế làm ruộng
Làm ruộng được coi là hoạt động kinh tế quan trọng của các dân tộc Chăm, Hrê, nhất là giai đoạn hiện nay. Đối với hai dân tộc này, canh tác ruộng đã có từ lâu đời và đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế trồng trọt. Còn đối với người Bahnar, làm ruộng là một hình thức kinh tế mới được tiếp thu từ người Chăm, người Việt. Dù thế trong những năm gần đây ở người Bahnar việc canh tác lúa nước lại rất được coi trọng và đề cao.
Ruộng của người Chăm, Bahnar, Hrê ở Bình Định được phân thành hai loại ruộng nước và ruộng khô (đất nà thổ).
+ Ruộng nước
Đối với người Hrê, do cư trú ở những vùng tự nhiên thuận lợi, nhất là ở các thung lũng bằng phẳng, gần các con sông, nên từ lâu người Hrê đã biết trồng lúa nước.
Tùy theo địa hình của từng vùng đất, người Hrê chia ruộng thành các loại sau: ruộng hóc, ruộng k'rô dat, ruộng rộc. Trong khi đó, người Chăm và người Bahnar, ruộng nước chủ yếu khai phá được là loại ruộng bậc thang, hoặc các đám ruộng nhỏ hẹp, ven các con suối. Ruộng bậc thang ở người Chăm, Bahnar thường bị rửa trôi, còn các đám ruộng nhỏ hẹp, ven các sông suối lại hay chua phèn, thiếu nước nên năng suất thường thấp so với ruộng của người Hrê.
Để có một đám ruộng nước, khâu đầu tiên là phải chọn đất. Khi chọn đất, người đàn ông đi dọc sông suối, thấy những nơi nào có khả năng cải tạo thành ruộng nước, họ liền chặt cây làm dấu: dọn sạch một khoảng đất hoặc nhặt đá chất thành một đống to người khác nhìn thấy biết đất này đã có chủ phải chọn nơi khác, ai cố tình vi phạm sẽ bị phạt.
Quy trình canh tác ruộng nước của các dân tộc thiểu số ở Bình Định bị sự chi phối bởi điều kiện sản xuất và điều kiện tự nhiên. Ruộng thường được cuốc ải đến đầu vụ đồng bào tháo nước vào ruộng "ngâm ải". Sau đó tiến hành "sục đất" bằng trâu, bò hoặc người dẫm. Khâu cuối là san phẳng mặt ruộng để chờ ngày cấy. Lúa trước khi cấy được gieo vào các ruộng mạ, sau đó mới cấy. Hiện nay đồng bào đã tiến hành gieo thẳng.
Các công trình “dẫn thủy nhập điền” ở vùng các dân tộc Chăm, Bahnar, Hrê còn rất thô sơ, mang những nét của thuở ban đầu khi con người biết khai mương, đắp đập. Có thể nói, công tác thủy lợi của đồng bào chỉ là việc tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên, địa hình của khu vực.
Trước đây, đồng bào không có thói quen bón phân vì sợ bẩn cây lúa. Theo quan niệm của đồng bào nếu bón phân "mẹ lúa" sẽ giận và bỏ đi. Gần đây, nhờ sự vận động tích cực của Đảng bộ và chính quyền điạ phương nên đồng bào Chăm, Bahnar, Hrê đã làm quen với việc bón phân, phun thuốc trừ sâu bệnh nhưng nhìn chung việc này tiến triển còn chậm.
+ Ruộng khô (đất nà thổ)
Ruộng khô là loại đất trồng bán định canh, không có nước, phân bố chủ yếu dọc các con sông, suối (những con sông, suối này đã bị đất cát lấp mất dần dòng chảy lâu ngày tạo thành những bãi bồi). Đất nà thổ còn là những vùng đất pha cát, đá khô cằn. Đất nà thổ mặc dù có độ ẩm, bằng phẳng nhưng cằn cỗi, độ phì nhiêu kém và năng suất cây trồng thấp.
Đất nà thổ mặc dù ổn định hơn nương rẫy nhưng vẫn là đất "chờ mưa", năng suất cây trồng hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên không thể làm hệ thống thủy lợi để đưa nước vào. Tuy nhiên, đây là loại ruộng không thể thiếu đối với đồng bào, do nó có thể cho phép thâm canh tăng suất và canh tác lâu dài.
Do đặc tính khô ráo của đất nà thổ cũng như để đáp ứng nhu cầu cuộc sống nên người dân thường trồng trên đó nhiều loại cây như lúa, mía, ngô, sắn, kê, đậu, mè... Tùy theo loại cây trồng mà có thể trồng một vụ/năm hoặc hai vụ/năm.
Quy trình sản xuất ruộng khô bao gồm khâu làm đất (cày, bừa) sau đó gieo, trồng, chăm sóc, làm hàng rào bảo vệ, cuối cùng là thu hoạch.
Sản xuất ruộng khô tuy năng suất thấp, phụ thuộc vào thiên nhiên, nhưng là một hoạt động kinh tế có khả năng thâm canh, tăng năng suất và có điều kiện để sản xuất lâu dài, góp phần thực hiện tốt công tác định canh định cư, hạn chế phần nào việc phá rừng làm nương rẫy. Trong điều kiện ruộng nước ở vùng rừng núi còn hạn chế, đây là một hướng sản xuất cần đặc biệt chú ý trong công tác phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Định.
4. Hoạt động kinh tế vườn
Do tập quán chăn nuôi thả rông và nặng nề về kinh tế nương rẫy nên các dân tộc ở Bình Định kinh tế vườn không phát triển. Dù thế, trong những năm gần đây, nhờ tác động của quá trình định canh định cư mà loại hình kinh tế này của người Chăm, Bahnar, Hrê đã có những bước tiến mạnh mẽ, với sự hình thành các loại vườn khác nhau như vườn thổ cư, vườn nương rẫy và vườn rừng.
+ Vườn thổ cư
Vườn thổ cư là vườn nhà. Vườn nhà có thể trồng nhiều loại cây từ cây lương thực (ngô, sắn) đến các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả như chuối, dứa, đu đủ, chè, cà phê, và các loại rau... Việc sử dụng vườn nhà trong các dân tộc ở Bình Định có hai ưu điểm:
- Có cây cối che phủ tạo nên không khí trong lành cho khu vực cư trú.
- Góp phần cải thiện cuộc sống hằng ngày, tạo nên sản phẩm hàng hóa.
Nhưng phát triển vườn nhà sẽ gây ra những trở ngại cho việc phát triển chăn nuôi của đồng bào do không có không gian để làm chuồng trại. Thêm vào đó, do chuồng trại không vệ sinh, thường gây ra dịch bệnh, vì vậy nên chăng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định, vườn thổ cư chỉ nên trồng các loại cây ăn quả và đặc biệt các loại rau để vừa cải thiện đời sống cho nhân dân đồng thời vừa phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi đồng bào nên khoanh vùng thành những khu đất rộng để vừa có khu chuồng trại, vừa có khu thả rông. Khu chăn nuôi có thể là một phần của khu vườn.
+ Vườn rẫy
Gồm vườn rẫy lúa và vườn rẫy hoa màu. Ở vườn rẫy, đồng thời với việc trỉa lúa, đồng bào trồng các loại bầu bí, chuối, mướp, sắn... xung quanh rẫy, có tác dụng tạo hàng rào bảo vệ lúa và để tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Trên vườn hoa màu đồng bào trồng tất cả các loại cây từ cây lương thực như lúa ngô, khoai, sắn, cây ăn quả cho đến các loại rau quả như bầu, bí, dưa, ớt, cà, gừng... Chính nhờ cách làm này đã tăng thêm nguồn lương thực, thực phẩm cho đồng bào, góp phần cải thiện cuộc sống.
+ Vườn rừng
Đây là loại vườn mới xuất hiện trong những thập niên 90 của thế kỷ XX. Việc Nhà nước giao đất, giao rừng cho đồng bào được coi là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự ra đời của vườn rừng. Loại vườn này có diện tích thường từ 1 - 2ha hoặc nhiều hơn. Trên những mảnh vườn này, đồng bào trồng các loại cây công nghiệp được hỗ trợ từ các dự án trồng rừng của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.
Vườn rừng có hai loại:
- Vườn rừng thứ sinh: là những khu rừng còn tương đối nguyên vẹn. Đồng bào tiếp nhận, tu bổ, chăm sóc, trồng bổ sung cây lấy gỗ, cây vừa lấy gỗ vừa cho quả như tràm, trấu hoặc trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, ca cao, đào, quế...
- Vườn rừng trồng mới: là những khu rừng bị khai thác hết, hoặc đồng bào chặt hết cây cũ sau đó trồng lại cây mới. Cây được trồng thường là những cây lấy gỗ như bạch đàn, bồ đề, mơ, tràm, keo... hoặc những cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản như quế,... Trong lúc cây lấy gỗ chưa khép tán, đồng bào thường trồng xen cây lương thực. Nếu như trước đây, đồng bào còn xa lạ với kinh tế vườn rừng thì trong những năm gần đây đồng bào đã chú trọng phát triển các loại hình khác nhau của kinh tế vườn rừng, giảm dần nạn phá rừng làm rẫy và cho thu nhập đáng kể.
Phải nói rằng, hoạt động kinh tế vườn của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Định rất đa dạng. Đồng bào có nhiều loại vườn khác nhau như vườn thổ cư, vườn rẫy, vườn rừng. Hoạt động kinh tế vườn luôn có mối quan hệ mật thiết với các hoạt động kinh tế khác do đồng bào luôn thực hiện sự thâm canh, xen canh.
Hoạt động kinh tế vườn rất phát triển trong những năm gần đây khi Đảng và Nhà nuớc ta thực hiện chính sách giao đất, giao rừng đến từng hộ lao động. Điều đó phản ảnh việc phát triển kinh tế vườn của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Định là một hướng đi thích hợp, có tác dụng to lớn trong việc phát triển nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân, cải tạo môi trường và góp phần thực hiện tốt công tác định canh định cư của Đảng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Tuy việc phát triển kinh tế vườn của các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định còn chưa được nhân lên ở diện rộng. Nhiều gia đình không giải quyết được mâu thuẫn giữa chăn nuôi thả rông và phát triển vườn thổ cư, vườn nà thổ, vườn ruộng, vườn nương rẫy... Việc giao đất, giao rừng còn tiến hành chậm, nhiều vùng rừng núi vẫn chưa có chủ. Điều đó làm hạn chế việc phát triển kinh tế vườn rừng - một hướng đi đúng để bảo vệ và phát triển nguồn lợi rừng, ngăn chặn việc phá rừng làm nương rẫy.
Kinh tế vườn ở các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định còn chưa chú trọng kết hợp đồng bộ giữa vườn - ao - chuồng (mô hình VAC) để nâng cao hiệu suất kinh tế và chưa phát triển những vùng cây chuyên canh giống cây trồng đặc sản, để tạo nên những sản phẩm hàng hóa với số lượng cao, đặc biệt chưa có thị trường thuận lợi cho việc trao đổi mua bán hàng hóa, nhiều vùng sâu, vùng xa sản phẩm hoa quả của đồng bào còn bị ứ đọng, ế thừa. Điều đó hạn chế phần nào sự phát triển kinh tế vườn của đồng bào.
5. Hoạt động chăn nuôi
Vùng núi tỉnh Bình Định có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chăn nuôi đó là thảm thực vật phong phú, cạnh các triền suối với các đồi cỏ tranh, nguồn thức ăn tại chỗ. Hơn nữa, do nhu cầu cấp bách của bữa ăn hàng ngày, công việc cúng tế, trao đổi hàng hoá, nhu cầu về sức kéo phục vụ cho làm ruộng nên chăn nuôi ngày càng được phát triển ở hầu hết các dân tộc miền núi Bình Định.
Các dân tộc Chăm, Bana, H’rê rất chú trọng phát triển chăn nuôi gia súc như trâu, bò, lợn. Ngoài ra, đồng bào còn nuôi các loại gia cầm như vịt, gà, ngan, ngỗng... Trung bình mỗi hộ gia đình Chăm, Bana, H’rê có từ 2 - 4 con trâu, bò, nhà nhiều nhất có đến hàng chục con.
Dù vậy, kỹ thuật chăn nuôi của đồng bào Chăm, Bana, H’rê còn hết sức thô sơ. Trước đây, đồng bào hay thả rông trong rừng hay xung quanh nhà, khi nào cần chủ nhà mới đi bắt về. Trong thời gian gần đây, nhờ tiếp cận với kỹ thuật chăn nuôi mới nên đồng bào đã biết làm chuồng trại nhốt gia súc nhưng vẫn còn tiến triển chậm. Thường thì đồng bào vây kín khoảng không gian dưới sàn nhà để làm chuồng thả, hoặc tiến bộ hơn là đồng bào nuôi gia súc trong những khu đất được vây bằng gỗ, hoặc bằng tre, nứa theo hình chữ nhật. Loại hình chuồng trại đơn sơ này đôi khi còn được lợp mái trong mùa mưa bão.
Trong điều kiện cư dân nông nghiệp sống ở vùng rừng núi, chăn nuôi là một hoạt động kinh tế góp phần cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, muốn phát huy vai trò của ngành nghề này đòi hỏi đồng bào phải:
- Có kế hoặc chăn nuôi hợp lý, khoa học, không tùy tiện trong việc sử dụng, chăm sóc các loại gia súc, gia cầm.
- Phải chấm dứt tình trạng thả rong trong chăn nuôi cũng như hạn chế việc sử dụng thành quả của hoạt động này vào mục đích cúng lễ. Nên chú trọng hơn tới việc chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, dê) ở những nơi có điều kiện.
6. Săn bắn, đánh cá, hái lượm
Săn bắn, đánh bắt cá, hái lượm thuộc hình thái kinh tế khai thác. Đây là hình thái kinh tế nguyên thủy, tồn tại lâu đời. Đối với các dân tộc thiểu số ở Bình Định, hiện nay hình thái kinh tế này vẫn còn đóng vai trò nhất định trong đời sống người dân.
Nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại lâu dài của các hình thái kinh tế khai thác ở các dân tộc tỉnh Bình Định là do sự giàu có của tự nhiên, của rừng núi, sự phong phú của các giống loài động vật, sự đa dạng về thảm thực vật. Mặt khác do hình thái kinh tế chủ đạo là sản xuất nương rẫy không đủ khả năng đảm bảo nhu cầu cuộc sống, vì vậy đồng bào Chăm, Bana, H’rê phải dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để bổ sung thêm nguồn thực phẩm hàng ngày.
Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên cũng như trình độ kinh tế của mỗi dân tộc Chăm, Bana, H’rê là khác nhau nên vị trí của các hình thái kinh tế khai thác trong đời sống kinh tế của mỗi dân tộc là khác nhau. Người H’rê ở gần sông suối, làm ruộng nước nên đánh bắt cá phát triển hơn người Chăm, Bana; ngược lại người Chăm, Bana săn bắn phát triển hơn người H’rê.
+ Săn bắn
Săn bắn là hoạt động kinh tế đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Chăm, Bana, H’rê ở Bình Định về nhiều mặt như kinh tế (cung cấp nguồn thực phẩm, cải thiện bữa ăn), quân sự (rèn luyện lòng dũng cảm, tháo vát, mưu trí), tín ngưỡng (cung cấp lễ vật hiến tế, các nghi lễ liên quan đến săn bắn), bảo vệ hoa màu, mùa màng, làng mạc, giáo dục cho các thành viên hiểu biết về phạm vi quản lý đất đai, rừng, sông, suối, cố kết cộng đồng (tổ chức hoạt động), phân chia nguồn lợi... Săn bắn còn cung cấp thực phẩm dự trữ cho mùa mưa, giáp vụ và đặc biệt là trong các bữa ăn mang tính cộng đồng.
Vùng cư trú của các dân tộc Chăm, Bana, H’rê đã tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của nghề săn bắn. Với địa bàn rừng núi, dân cư thưa thớt, miền núi tỉnh Bình Định rất thuận lợi cho các loài động vật sinh sôi nảy nở. Ở đây có rất nhiều loài thú như mang, nai, heo rừng, khỉ, vượn, chồn, cọp...
Việc săn bắn là việc của đàn ông bởi đây là việc nặng nhọc, đòi hỏi sự gan dạ, tính nhanh nhẹn, kỹ thuật cao. Hình thức săn bắn chủ yếu ở đồng bào các dân tộc thiểu số Bình Định là săn bắn tập thể và cá nhân.
Là những "đứa con của núi rừng", người Chăm, Bana, H’rê nắm rất rõ mùa vụ và thời điểm xuất hiện từng loài thú để tổ chức những cuộc đi săn. Trước đây, việc săn bắn tập thể khá phổ biến, thu hút thanh niên lẫn người già trong làng. Thường vào dịp thu hoạch mùa màng xong, đồng bào tổ chức các cuộc săn tập thể.
Trong những trường hợp này thường có sự tham gia của chó săn và thường được áp dụng với các loài thú lớn. Săn tập thể thường diễn ra với 2 hình thức mang tính nguyên thuỷ: săn đón và săn vây. Săn đón được tiến hành như sau: Một toán người hò hét đuổi con thú, một toán khác đón thú ở hướng đã định. Khi con thú chạy đến họ dùng lao, cung tên để bắn, chém chết hoặc đặt bẫy bắt sống. Săn vây là khi con thú xuất hiện ở một địa điểm nào đó, đồng bào vây chặt nó lại và ép dần cho đến khi tiếp cận nó, rồi dùng dao, cung tên bắn chết hoặc bắt sống.
Tính cộng đồng trong săn bắn là một trong những yếu tố góp phần duy trì sự cố kết của xã hội một cách bền vững. Sản phẩm luôn được chia đều cho tất cả các thành viên, kể cả khách, trẻ sơ sinh hoặc đang còn trong bụng mẹ, ưu tiên cho những người dũng cảm với những chú chó săn thuần thục. Ngoài ra, với vai trò của mình, các vị già làng và chủ làng cũng được hưởng những khẩu phần tương xứng: ưu tiên phần thịt đầu.
Bên cạnh việc săn bắn tập thể, săn bắt cá nhân của từng gia đình cũng được tiến hành thường xuyên, cùng với hoạt động sản xuất nương rẫy. Công việc này ngoài mục đích cải thiện bữa ăn hàng ngày cho gia đình, còn hạn chế bớt sự phá hoại nương rẫy của thú rừng. Hình thức săn bắn này ngày càng chiếm ưu thế. Hình thức này chủ yếu dùng cung tên, ná để bắn và đặt bẫy.
Lao và ná là những công cụ đa năng và rất hiệu quả được sử dụng phổ biến trong săn bắn. Ngoài ra, đồng bào còn dùng bẫy để săn bắt, chủ yếu là các loài thú nhỏ. Các tộc người thiểu số ở Bình Định có rất nhiều loại bẫy với những nguyên lý hoạt động khác nhau, được sáng tạo dựa trên những tập tính sinh học của các loài thú, không dựa vào sự điều khiển trực tiếp của con người. Hệ thống bẫy phong phú cho từng loại thú gồm bẫy sập, bẫy đập, bẫy phóng, bẫy đá, bẫy hầm dùng để bắt các loài thú có kích thước lớn. Bẫy chuồng; bẫy chông bắt các loài thú vừa và nhỏ; bẫy thắt, bẫy dây có nhiều loại cho từng loài thú có kích thước lớn nhỏ khác nhau; bẫy dính bắt chim. Các loại bẫy này đặc biệt có nhiều ở người Bana.
Hiện nay, hình thái kinh tế săn bắn bị thu hẹp về quy mô và phạm vi hoạt động do sự khan hiếm của thú rừng, cũng như những quy định mới của Nhà nuớc, của buôn làng. Ngày nay, đồng bào chỉ săn những con vật nhỏ, hoặc đặt bẫy ở cửa rẫy nhằm bảo vệ cây trồng.
+ Đánh bắt cá
Đánh bắt cá là hoạt động kinh tế có vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và ở Bình Định nói riêng. Nó góp phần cải thiện bữa ăn, tăng nguồn dinh dưỡng hàng ngày, đồng thời cung cấp nguồn thực phẩm cho các dịp lễ hội, các nghi lễ tôn giáo.
Việc đánh bắt cá được các thành viên trong làng tổ chức thực hiện bằng nhiều hình thức: đánh bắt tập thể, bằng vỏ cây, rễ cây độc, đánh lưới. Hằng năm, luật tục bản làng quy định một số ngày khai thác thuỷ sản trên quy mô lớn. Vào dịp này, chủ làng tiến hành các lễ cúng thần nước, thần suối.
Trong phạm vi từng gia đình, dân làng đánh bắt cá bằng những phương pháp và dụng cụ, như câu, đâm cá, vợt cá, đặt các loại bẫy, lưới hoặc dùng tay để bắt cá, ếch hay mò ốc suối.
Đánh bắt cá là công việc thường xuyên của từng cá nhân, không phân biệt nam, nữ. Phụ nữ chủ yếu mò cua, bắt ốc, bắt tôm, cá nhỏ trong các hốc đá ở dọc sông, suối. Đàn ông đánh bắt cá bằng chài lưới, dùng mũi dao có bịt sắt nhọn đâm cá, hoặc dùng vỏ cây có chất độc để “thuốc” tôm, cá trên một đoạn suối đã được ngăn lại.
Việc bảo quản và chế biến cá bắt được ở đồng bào Chăm, Bana, H’rê ở Bình Định còn rất thô sơ, phần nhiều cá được nướng khô, muối làm thức ăn dự trữ trong vài ngày.
+ Hái lượm
Hái lượm có thể xem là công việc được tiến hành thường xuyên trong đời sống thường nhật của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Định, góp phần không nhỏ cho bản làng vượt qua những lúc khó khăn về lương thực, hoặc bổ sung thường xuyên cho các bữa ăn của mỗi gia đình.
Miền núi Bình Định có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, không những là nguồn thực phẩm như mật ong, trái cây rừng, rau rừng, củ rừng mà cả những nguồn dược liệu quý như sâm nam, sâm trúc, dương quy, sa nhân, ngãi trời, măng giang, củ hoài sơn, thiên niên kiện... Điều đó đã góp phần to lớn cho sự tồn tại và phát triển của nghề hái lượm.
Hái lượm là công việc thường xuyên của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Với những công cụ đơn giản, như dao, cuốc người phụ nữ có thể nhặt nhạnh từ rừng nhiều thứ có thể sử dụng được. Sản phẩm hái lượm rất đa dạng, góp phần cung cấp một lượng lớn nguồn lương thực, thực phẩm cho nhu cầu hàng ngày của con người trong việc giải quyết vấn đề thiếu đói. Ngoài ra, hái lượm còn tạo ra nguồn sản phẩm cho hoạt động trao đổi; chẳng hạn đối với làng Canh Giao (Canh Hiệp, huyện Vân Canh) khai thác sản phẩm trong rừng là nguồn thu nhập chính. Từ bao đời nay, đàn ông trong làng đi đốt dầu rái, phụ nữ lượm chai cục (nhựa của cây dầu), hoặc đi lấy đót. Dân làng cho biết hôm nào "trúng" có thể kiếm đầy một gùi chai bóng (loại chai tốt nhất), nặng gần chục kg, bán được 40.000 – 50.000 đồng1.
Tóm lại cho đến nay, kinh tế khai thác tự nhiên (săn bắn, hái lượm, đánh cá) vẫn còn đóng vai trò to lớn trong đời sống của đồng bào dân tộc Chăm, Bana, H’rê. Dù vậy, giữa các dân tộc và giữa các vùng sinh thái, mức độ của hoạt động này là khác nhau. Hiện nay ở người Bana và ở các địa phương vùng cao, hoạt động hái lượm còn tương đối phát triển; còn ở người Hrê, ở vùng thấp, hoạt động này đã bị giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, trong việc duy trì kinh tế khai thác, cần phải tính đến vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rừng, hệ sinh thái tự nhiên của vùng rừng núi và có hướng tiêu thụ sản phẩm của hình thái kinh tế này cũng như cần tổ chức khai thác theo kế hoạch những sản phẩm của tự nhiên.
7. Các ngành nghề thủ công truyền thống
+ Nghề dệt
Nghề dệt là nghề thủ công có mặt lâu đời ở các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định. Đa phần người phụ nữ Chăm, Bana, H’rê đều biết dệt. Họ dệt các loại áo, khố, chăn, mền để dùng cho cuộc sống hàng ngày và làm tài sản để bắt chồng chia của, tiễn đưa người chết, làm vật trao đổi.
Nguyên liệu dùng để dệt vải của các dân tộc Chăm, Bana, H’rê chủ yếu là bông. Ngoài ra, một số gia đình còn dùng cả đay, lanh, gai hoang dại (hiện nay đồng bào mua sợi có sẵn).
Đối với các dân tộc Chăm, Bana, H’rê cây bông có vị trí rất quan trọng. Có được sợi vải từ bông phải trãi qua nhiều công đoạn: Chọn rẫy, trỉa hạt, làm cỏ và thu hoạch. Bông được đem phơi, tách, bật, quay sợi, cuốn sợi. Dụng cụ quay sợi là một khung gỗ có trục quay. Sợi được kéo ra cuốn vào khung nứa nhỏ. Sau khi cuốn xong, đồng bào lấy sợi nấu với nước cơm và phơi khô.
Khác với cây bông phải trồng, ở miền núi Bình Định, cây gai tự mọc thành từng bụi lớn ven các bờ suối hay nương rẫy. Sau khi chặt gai đem về nhà, đồng bào dùng dao cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài vỏ gai, rồi đập dẹt vỏ và phơi khô. Sau đó dùng tay xé nhỏ vỏ gai và xoắn hai hoặc ba sợi với nhau. Công việc tiếp theo là nhúng sợi vào nước cơm cho các sợi kết dính chặt hơn và nhuộm sợi theo màu tuỳ thích. Các dân tộc thiểu số Bình Định từ lâu đã biết sử dụng nhiều màu để nhuộm sợi, vải rất bền, đẹp. Đồng bào thường nhuộm màu bằng những loại lá, vỏ, củ và rễ cây rừng. Các loại vỏ cây, củ, rễ cây này khi được nấu sẽ tạo ra những màu nhất định. Khi nhuộm, sợi được ngâm vào nước màu từ 3 - 4 ngày và được đun sôi để cho màu bám chặt vào.
Từ sợi chỉ màu trắng, người Chăm nhuộm thành nhiều màu. Muốn có màu đen thì nấu nước cây Kơ gul (cây bút hoặc cây châm), màu xanh đậm dùng cây châm, màu vàng dùng cây nhàu và cây nghệ, màu nâu dùng cây dẻ, màu đỏ dùng lá trầu cay, cây thăng dừng và vôi. Muốn sợi đủ cứng thì cho sợi vào nồi vo gạo, ngâm khoảng một tiếng đồng hồ.
Công việc cuối cùng là dệt vải. Dụng cụ dệt vải gồm có: Đốc sau lưng, cây ngang, cày đạp chân, cày dùng để đạp các sợi chỉ cho chặt và một cái thoi. Khi dệt người phụ nữ ngồi trên nền đất, hai chân duỗi thẳng, đạp lên một thanh gỗ nằm ngang, để căng mặt sợi trên khung dệt. Tất cả những sợi chỉ được gập lại, buộc vào một cây cột nhà hay một gốc cây, người thợ dệt dùng chân và lưng của mình căng giàn sợi, một tay giật go, tay kia luồn thoi. Loại khung dệt và kỹ thuật dệt này phổ biến ở các dân tộc nói ngôn ngữ Nam Á.
Tuy khung dệt do người đàn ông chế tạo, nhưng dệt vải là công việc dành cho người phụ nữ, thể hiện sự đảm đan và tài khéo từ khâu làm bông, gai, nhuộm, cuốn sợi cho đến dựng khung cửi, luồn từng sợi chỉ cho đến khi dệt thành tấm vải. Dệt là cả một quá trình lao động kiên trì, miệt mài của người phụ nữ.
Để tạo ra các thứ hoa văn, người thợ dệt sắp xếp màu sắc của các sợi vải thành thảm dọc theo một công thức nhất định, ứng với một kiểu trang trí được lựa chọn. Trong quá trình đan, những sợi ngang dài hoa văn sẽ hiện lên. Các môtíp hoa văn trên áo, váy, khố, chăn mền... đều gần gũi với thiên nhiên và cuộc sống sinh hoạt của đồng bào, đó là những dãy núi chập chùng, nước sông lượn chảy, mưa rơi, hình con cá, lông chim, cụm hoa, lá mía, tổ ong... được cách điệu. Mô típ hoa văn những mũi tên bay nối đuôi nhau cũng là loại phổ biến, bên cạnh còn có hoa văn kỷ hà.
Ngày nay, do tác động của kinh tế thị trường, nghề dệt đang ngày càng bị mai một dần. Nhiều nơi (nhất là vùng thấp) nghề dệt không còn tồn tại nữa. Ở vùng cao, nghề dệt tuy vẫn còn nhưng không được chú trọng như trước.
+ Đan lát
Nghề đan lát phổ biến trong mọi gia đình các dân tộc thiểu số ở Bình Định. Đan lát xuất hiện từ rất sớm và tồn tại lâu dài trong đời sống của đồng bào. Qua đôi bàn tay của người đàn ông, nghề đan tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu cuộc sống thường nhật và kể cả những vật phẩm cần thiết trong những nghi lễ tiếp xúc với thần linh, hay quà tặng cho người con gái.
Công việc đan lát không phân biệt nam, nữ. Thường đàn ông đảm nhiệm các khâu chính như chặt, chẻ, vót nguyên liệu tre, nứa, mây; còn đan là công việc chung của tất cả thành viên trong gia đình, trong đó chủ yếu là người đàn ông. Nghề đan lát phổ biến trong từng gia đình Chăm, Banna, Hrê nhưng nên không hình thành tầng lớp thợ chuyên môn hay những người học nghề.
Sản phẩm đan lát có mặt ở khắp các lĩnh vực sản xuất, đời sống cộng đồng. Sản phẩm đan bao gồm: Dụng cụ phục vụ nông nghiệp, như thúng, sàng, nia, bồ lúa, giỏ đựng, dụng cụ đánh bắt trên cạn (bẫy chuồng) hoặc dưới nước (nơm, dò), chuồng gà, ổ gà đẻ... Chiếm số lượng ít hơn những cũng không kém phần phong phú là những đồ dùng sinh hoạt: Vĩ ruồi, chổi quét, dàn bếp, rổ đựng thức ăn, mâm cơm, rế, giỏ đựng dao, ống tên, hộp đựng xôi, gối, chiếu, trong đó tiêu biểu nhất là sự đa dạng và tinh xảo của các loại gùi. Gùi có những kích cỡ khác nhau với công dụng đựng lúa ở nhà hay vận chuyển lúa, sắn, ngô từ nương rẫy về... Sự tinh xảo, nét thẩm mỹ trong kỹ thuật đan lát được biểu hiện rõ nhất ở đây. Gùi rất quan trọng trong đời sống sản xuất sinh hoạt: Phương tiện vận chuyển rất hữu ích trong điều kiện đi lại khó khăn, đắc dụng đối với hoạt động canh tác nương rẫy truyền thống. Gùi có mặt trong tất cả các khâu đoạn canh tác, theo bước đi của người phụ nữ khi trỉa, cùng bước chân người đàn ông mang giống về làng, trai tráng lên rừng săn bắn, thiếu nữ xuống suối mò cua bắt ốc...
Trong quy trình đan lát, khâu nặng nhọc nhất là khai thác nguyên liệu. Chúng được sơ chế, chẻ thô, đem phơi nắng hoặc xông khói trên giàn bếp để tạo độ chắc, bền. Trước khi đan, nguyên liệu được chẻ nhỏ, vót mảnh thành sợi, thành nan to, nhỏ, dày, đều khác nhau, đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như ý đồ của người đan. Những vật dụng có kích thước lớn, người Chăm, Bana, H’rê thường đan thưa bằng các thanh mây, tre, vót to bản và dày, vừa tiết kiệm thời gian lại tạo được sự chắc chắn cho sản phẩm. Riêng đối với loại nguyên liệu dùng để đan chiếu, gối như dứa rừng, cây gai, khâu sơ chế rất quan trọng, liên quan đến độ bền và tạo nên nét thẩm mỹ cho sản phẩm.
Sản phẩm hoàn thành được đưa lên giàn bếp nhằm tăng độ bền, chống mối mọt và cũng là kỹ thuật nhuộm màu cho sản phẩm.
Hiện nay, các dân tộc thiểu số Bình Định vẫn duy trì nghề thủ công đan lát của mình. Nhưng sản phẩm làm ra không nhiều, chủ yếu đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình và nhất là các sản phẩm đan chưa trở thành hàng hoá.
+ Nghề rèn
Trong rất nhiều tư liệu, nghề rèn được nhắc đến như là thế mạnh của một số làng các dân tộc thiểu số Bình Định, nhưng trên thực tế khảo sát, hiện nay nghề rèn gần như không tồn tại, vắng bóng thợ chuyên nghiệp, nguyên vật liệu và có chăng là một vài công cụ còn sót lại.
Do nền kinh tế mang nặng tính tự cung, tự cấp nên nghề rèn có vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào. Nó góp phần tạo ra những công cụ sản xuất, sinh hoạt cho đồng bào. Tuy nhiên, do tính chất chuyên môn hoá cao, tính phức tạp, công phu của nó nên nghề rèn không phổ biến trong từng gia đình.
Dụng cụ rèn của các dân tộc Chăm, Bana, H’rê bao gồm đe, búa (búa to, búa nhỏ), kềm, ve chặt, ống thổi... Trước đây, đồng bào dùng đá cứng làm búa, đe và dùng tre tươi để làm kẹp. Ngày nay họ đã dùng búa, đe, kẹp bằng sắt.
Sản phẩm rèn chủ yếu vẫn là những đồ dùng, công cụ lao động bằng sắt như dao, rựa, lao, cuốc nhỏ, rìu... và sau này là cuốc, xẻng, dùng trong nông nghiệp lúa nước.
Quy trình và kỹ thuật này khá đơn giản. Đầu tiên người thợ quay lửa thật đỏ. Sau đó bỏ thanh sắt cần rèn vào nung cho đến khi đỏ, lấy thanh sắt ra đặt lên đe rồi dùng búa đập lại thanh sắt theo hình dạng công cụ cần chế tạo. Khi sản phẩm rèn hoàn tất đồng bào lấy máu trâu, bò hoặc máu con mang tưới lên sản phẩm nhằm tăng thêm độ sắc của nó.
Hiện nay, với sự mở rộng của mạng lưới trao đổi, các công cụ bằng sắt luôn được ưu tiên đã đáp ứng phần nào những yêu cầu và công cụ sản xuất và sinh hoạt. Hơn nữa, với sự góp mặt của các thợ rèn người Kinh tại các điểm trao đổi vùng cao. Bên cạnh việc tạo cơ hội cho đồng bào tiếp xúc và học hỏi những kỹ thuật, kinh nghiệm rèn mới cũng làm cho nghề rèn truyền thống của người Chăm, Bana, Hrê bị mai một và không phát triển.
8. Các hình thức trao đổi, mua bán
Vào những thập niên trước thế kỷ XIX, những người Việt định cư ở Bình Định đã vượt những ngọn đồi thấp dưới chân núi và xâm nhập vào những vùng lãnh thổ xa lạ và nguy hiểm ở các tộc người thiểu số. Có thể nói, lúc bấy giờ, mối quan hệ buôn bán đã phát triển ở những vùng giáp ranh lãnh thổ do người Việt chiếm giữ. Mối quan hệ buôn bán đó do những người vừa là quan chức, vừa là thương nhân, được gọi là "các - lái" đứng ra làm trung gian dàn xếp.
Thời bấy giờ, chính quyền phong kiến Việt Nam rất mong muốn chính thức hoá mối quan hệ với người thiểu số, bao gồm việc cố gắng thiết lập mối quan hệ triều cống với những tù trưởng. Mối quan hệ này được "các - lái" kiểm soát một cách khó khăn ở cấp địa phương. Cuối cùng chúng đã bị gián đoạn, không chỉ vì khó có thể lập quan hệ chính trị với những dân tộc có cơ cấu chính trị nói chung không vượt quá cấp làng xã, mà còn vì những giao động về quyền lực Nhà nuớc và triều đại ở Việt Nam. Mãi cho đến khi triều Nguyễn tái lập nền thống trị thì họ mới xây dựng được một chính sách mở rộng và "Bình Định" nhất quán hơn ở những vùng người thiểu số1.
Như vậy, đã từ lâu đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, ở Bình Định nói riêng đã có những hình thức trao đổi mua bán các sản vật cần thiết cho mình, dù rất sơ khai. Họ đổi thứ mình có, lấy thứ mình thiếu hoặc không có.
Trước đây, trao đổi của đồng bào được thực hiện thông qua hình thức vật đổi vật. Về sau họ tiến tới trao đổi vật ngang giá với quy cách cụ thể để xác định giá trị khi trao đổi. Giá trị của các vật ngang giá thường thống nhất trong từng vùng và xê dịch ít nhiều theo các vùng khác.
Tuy nhiên, “trong tuyến trao đổi hàng hoá Đông - Tây, miền xuôi - miền ngược, trên từng vị trí cụ thể, quy mô và tính chất trao đổi mua bán của từng bản làng diễn ra không đồng đều và không giống nhau. Những bản làng toạ lạc trên vị trí cực Tây - phía núi rừng hoặc xa tuyến trao đổi (A), quy mô và tính chất trao đổi sẽ khác so với những bản làng ở vùng đồng bằng hoặc gần tuyến trao đổi (B). Ở những bản làng (A), hình thức vật đổi vật sẽ diễn ra phổ biến và mỗi cá nhân tự trao đổi vật phẩm tương ứng, cần thiết với nhu cầu của mình. Điều này khác biệt với bản làng có toạ độ thuận lợi (B). Khi nơi đây bắt đầu xuất hiện những nậu làng - những người đứng ra tập trung, tích cóp vật phẩm dành cho những đợt trao đổi quy mô trong phạm vi làng hoặc ở chợ Phiên. Và tất nhiên, tính cộng đồng trong trao đổi ở những làng (A) bao giờ cũng lớn hơn làng (B), khi từng đoàn người cùng nhau đi đổi hoặc chia sẽ cho nhau những phẩm vật cần thiết trong thời gian chờ đợi làn trao đổi tiếp theo”2.
Tuy nắm giữ nguồn hàng quan trọng và cần thiết nhưng tính chất trao đổi ở những bản làng người thiểu số ở Bình Định trước đây chỉ dừng ở mức đồ vật đổi đồ vật, điều này cũng đồng nghĩa với việc trong bản làng không hề tồn tại yếu tố kinh tế thương nghiệp và không có bản làng nào giàu lên từ thương nghiệp. Vị trí của người dân tộc thiểu số cũng chỉ dừng lại ở mức thoả mãn nhu cầu của cá nhân và cộng đồng bản làng mình đang sống, chứ không phổ biến loại thương lái chuyên nghiệp luôn tính toán tích luỹ và lợi nhuận từ sự chênh lệch giá cả hay giá trị hàng hoá. Sự phân hoá không diễn ra gay gắt trong bản làng ở những người thực hiện việc trao đổi mua bán với người phi thương nghiệp bởi sự chi phối của tính cộng đồng.
Địa điểm trao đổi hàng hoá của đồng bào thường là ở chợ, nhưng chủ yếu vẫn là ở nhà. Ngoài ra, đồng bào cũng thường xuyên tiến hành các đợt đi trao đổi hàng hoá ở các vùng dân tộc khác.
Sản vật trao đổi của đồng bào thường là quần áo, chăn chiếu, muối, lương thực, dụng cụ sản xuất...; tính chất của việc trao đổi phụ thuộc vào giá trị của mặt hàng trao đổi. Hầu hết các sản phẩm quý giá như chiêng ché, mã não, vàng, bạc thường mang tính trao đổi giá trị chứ không phải trao đổi nhu cầu như các sản phẩm lương thực, muối...
KẾT LUẬN:
Đối với các dân tộc thiểu số Bình Định do tập quán sản xuất nương rẫy, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm, đánh cá kết hợp một số nghề thủ công do phụ nữ đảm trách như dệt, đan lát...cùng tác động của môi trường thiên nhiên nên đã hình thành các tập quán văn hóa được thể hiện trong không gian cư trú, nhà ở, trang phục, phương tiện đi lại, hôn nhân gia đình, tín ngưỡng cùng các sinh hoạt tinh thần khác.
Về văn hóa vật thể: Văn hóa cư trú bao gồm làng và nhà ở của người Chăm, Bana, H'rê ở Bình Định có đặc trưng riêng của cư dân có tập quán sản xuất và sinh sống ở vùng cao. Do để thích nghi với địa hình, tập quán và sở thích của từng dân tộc nên cấu trúc làng của các dân tộc rất đa dạng. Nhưng đặc điểm chung là ngôi làng thường mang tính liên kết cư trú và phòng thủ vững chắc, đảm bảo tính độc lập, tự quản về kinh tế và tương tác về xã hội. Làng là nơi ẩn chứa thiêng liêng, gắn bó cả cuộc đời nên đồng bào dân tộc luôn tự hào và tâm huyết với quê hương làng bản của mình.
Nhà sàn là ngôi nhà thích hợp cho địa hình, khí hậu và cuộc sống của các dân tộc ở vùng cao. Ngôi nhà là biểu hiện mức sống và trình độ thẩm mỹ của chủ nhân. Nhà của người H'rê có vẻ đẹp thanh thoát, chắc chắn; nhà của người Chăm cân xứng, thoáng mát; nhà của người Bana mộc mạc, ấm cúng. Ngôi nhà Rông của người Bana là đặc trưng của kiến trúc truyền thống mang tính cộng đồng của cư dân vùng cao, là nơi lưu giữ văn hóa cổ truyền, là niềm tự hào của các thành viên trong làng.
Y phục các dân tộc thiểu số Bình Định, nam đóng khố, quấn khăn; phụ nữ mang váy có nhiều hoa văn trang trí. Nam nữ đều mặc áo, giản dị. Đồ trang sức được bà con các dân tộc rất chuộng với tất cả lứa tuổi, giới tính đó là chiếc vòng cổ, vòng tay, vòng chân, phụ nữ có đeo tằm hoặc vòng tai bằng đồng hay bạc. Theo quan niệm của bà con, chiếc vòng đeo cho trẻ em còn trừ được ma quỷ.
Bữa sáng và tối là hai bữa ăn chính của người dân tộc, còn bữa trưa được ăn tại nương rẫy chỉ đạm bạc, qua loa. Mỗi dân tộc thường có món ăn độc đáo riêng cho khẩu vị của mình. Người Chăm có món cháo chua, người Bana thích ăn phèo bò, phèo dê. Rượu cần là đặc sản và uống rượu cần là sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc trưng của cư dân miền núi Bình Định.
Do địa hình trắc trở của miền núi nên chiếc gùi trên lưng để bà con dân tộc vượt núi băng rừng là phương tiện tối ưu và phổ biến của các dân tộc thiểu số ở Bình Định.
Tài liệu trích dẫn và tham khảo
1. Lê Ngọc Ái, Một số nét về xã hội người Ba Na, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12, 1969.
2. Trần Thị Mai An, Vai trò của người phụ nữ Chăm (tỉnh Bình Định) trong hôn nhân và gia đình hiện nay, Tạp chí Dân tộc học, số 2, 2000.
3. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Văn hoá Chăm, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.
4. Clive J.Christie, Lịch sử Đông Nam Á hiện đại, Nxb. Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000.
5. Kim Hà, Kết quả khả quan từ thực hiện xóa đói giảm nghèo ở Vân Canh, Báo Bình Định, số 2.533, ngày 4 tháng 9/1999.
6. Nguyễn Trắc Dĩ, Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Sài Gòn, 1970.
7. Thu Hà, Chuyện của làng Canh Giao, Báo Bình Định điện tử, ngày 29/04/2006.
8. Vũ Hoàng Hà, Tỉnh Bình Định đầu tư phát triển kinh tế chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, trong www.cema.gov.vn, 2005.
9. Võ Tấn Hoà, Huyện An Lão thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết” gắn với chủ trương xoá đói giảm nghèo, Báo điện tử của UBMTTQVN, 2006 (www.mattran.org.vn).
10. Nguyễn Xuân Hồng, Trịnh Thị Hồng Lan, Đan xen văn hoá Chăm – Bana ở huyện Phước Vân, tỉnh Nghĩa Bình, Tạp chí Dân tộc học, số 4, 1989.
11. Nguyễn Xuân Hồng, Trần Thị Mai An, Về xu thế hôn nhân hỗn hợp dân tộc ở miền núi tỉnh Bình Định hiện nay, Kỷ yếu HTKH “Sự phát triển của phụ nữ các dân tộc ít người ở Việt Nam”, Hà Nội, 1998.
12. Nguyễn Xuân Hồng, Đan xen văn hoá qua ngôn ngữ ở huyện Vân Canh, Bỉnh Định. Kỷ yếu hội thảo “Văn học và ngôn ngữ học các tỉnh miền Trung”, Huế, 1998.
13. Nguyễn Xuân Hồng, Văn hoá các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Bình, Nxb. Thuận Hoá - Huế, 2000.
14. Lương Hùng, Cuộc sống mới của đồng bào Chăm ở Vân Canh. www.cema.gov.vn.
15.Trịnh Thị Hồng Lan và các tác giả, Chuyện cổ Chăm, Sở Văn hoá thông tin Nghĩa Bình, 1986.
16.Trịnh Thị Hồng Lan, Một số suy nghĩ về cộng đồng và văn hoá ở Vân Canh, Văn nghệ Nghĩa Bình, số 12.
17. Robert Lowie, Luận về xã hội nguyên thuỷ, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
18. Nguyễn Văn Mạnh, Kinh tế vườn của các dân tộc ít người tỉnh Bình Định, Báo Nhân Dân, số ngày 6/10/1998.
19. Quách Tấn, Non nước Bình Định, Sài Gòn, 1965.
20. Đoàn Măng Téo, Văn hoá cổ truyền của gia đình Chăm H’roi Vân Canh – Vĩnh Thạn, Hội Văn nghệ dân gian Việt, 2003.
21. Rahchơilan Măng Téo, Văn hoá văn nghệ Chăm H’roi Vân Canh – Bình Định, Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định, 2000.
22. Rahchơlan Măng Téo, Núi chúa Hòn ông. Chi hội VNDG Bình Định (Công trình tài trợ lao động sáng tạo của Hội VNDG Việt Nam).
23. Rahchơlan Măng Téo, Tục ngữ - ca dao dân ca - nhạc cụ dân gian của người Chăm Hroi, Chi hội VNDG Bình Định xuất bản, 2004.
24. Lang Ngọc Tú, Phong trào xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở Vân Canh. Báo Bình Định, số ngày 21/11/2006.
25. Viện Dân Tộc Học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb. Khoa học xã hội, 1984.
26. Lê Thế Vịnh, Người Chăm ở Phú Yên, Hội văn nghệ dân gian và Văn hoá các dân tộc Phú Yên, 2003.
1 Thu Hà (2006), “Chuyện của làng Canh Giao”, Báo Bình Định điện tử, ngày 29/04/2006.
1 Clive J.Christie (2000), Lịch sử Đông Nam Á hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.155 - 156.
2 Nguyễn Hữu Thông (2005), Văn hoá làng miền núi Trung bộ Việt Nam - Giá trị truyền thống và những bước chuyển lịch sử (Dẫn liệu từ miền núi Quảng Nam), Nxb. Thuận Hoá, tr.129-130.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét