Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2024

MỐI TƯƠNG QUAN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI SA HUỲNH CỔ VÀ DÂN TỘC H’RÊ Ở QUẢNG NGÃI (Nhà nghiên cứu Tạ Thị Di Hà)

Tóm tắt: Cách đây khoảng 2.000 - 3.000 năm, trên vùng đất Quảng Ngãi, những con người tiền sơ sử đầu tiên đã xuất hiện tại Sa Huỳnh. Di sản của cư dân Sa Huỳnh cổ có mối liên quan với văn hóa dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi trên nhiều phương diện như: địa bàn cư trú, kinh tế, phong tục tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, ngôn ngữ…

Bằng phương pháp sử dụng tài liệu, khảo sát điền dã, với phương pháp tiếp cận liên ngành khảo cổ học - dân tộc học, chúng tôi cố gắng chỉ ra những nét tương đồng giữa văn hóa dân tộc Hrê ở Quảng Ngãi với văn hóa Sa Huỳnh. Điều này cho thấy sự kế thừa của dòng chảy văn hóa giữa nền văn hóa khảo cổ cho đến đời sống văn hóa tộc người hiện tồn ở Quảng Ngãi.

Từ khóa: Tương quan, người Sa Huỳnh cổ, người Hrê ở Quảng Ngãi.

Dẫn nhập: Trong dòng chảy giữa các nền văn hóa cổ đến văn hóa dân tộc ít người, chúng ta nhận thấy có sự tương quan với nhau. Ở Quảng Ngãi, người Sa Huỳnh cổ và người Hrê có những mối tương quan sâu sắc, góp phần tạo nên những di sản văn hóa có giá trị khảo cổ học và dân tộc học.

1. Các nội dung tương quan giữa người Sa Huỳnh cổ và người H’rê Quảng Ngãi

1.1. Sự tương quan về địa bàn cư trú, phương thức sinh tồn

Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa cổ, đại diện cho miền Trung Việt Nam, trải dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận và mở rộng lên vùng Trường Sơn Tây Nguyên. Tại Quảng Ngãi, từ cuộc khai quật đầu tiên vào năm 1909 của nhà khảo cổ học người Pháp M.Vnet tại Sa Huỳnh đến các cuộc khai quật của La Barre (1923), H.Parmentier (1924), M.Colani (1934), O.Janse (1960), M.Malletret… Sau này là các cuộc khai quật do các nhà khảo cổ Việt Nam. Các di tích Văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện với số lượng, mật độ phân bố dày đặc có niên đại Tiền Sa Huỳnh - Sa Huỳnh (giai đoạn sơ kỳ đồng thau - sơ kỳ sắt, cách nay 2.000 - 3.000 năm) như: Long Thạnh, Phú Khương, Thạnh Đức (Đức Phổ), Bình Châu, Gò Quê, Gò Nà, Bình An (Bình Sơn), Núi Sứa (Tp. Quảng Ngãi), Tịnh Thọ (Sơn Tịnh), Gò Quánh (Nghĩa Hành), Gò Văng (Sơn Hà), Trà Xuân, Trà Phong, Trà Veo 2, Trà Veo 3, Thôn Tre 1, Thôn Tre 3, Thôn Tre 4 (Trà Bồng), Xóm Ốc, Suối Chình (Lý Sơn)… Quảng Ngãi được xem là một trong những trung tâm của người Sa Huỳnh cổ sinh sống. Họ cư trú khắp nơi, từ trung du miền núi, đến đồng bằng duyên hải, ra đến đảo Cù Lao Ré (Lý Sơn).

Ở khu vực đồng bằng duyên hải, cư dân văn hóa Sa Huỳnh trải đều từ Bắc chí Nam. Phía Bắc có các di tích tiêu biểu như Bình Châu II, Bình Châu I, Gò Quê. Qua các cuộc khai quật thăm dò vào các năm 1977, 1978, di tích Bình Châu I nằm ở vùng gò trảng cát lớn thuộc mũi Ba Làng An, xa biển nhưng gần cửa sông. Thổ nhưỡng nơi đây là sự kết hợp giữa đất cát, đất bazan với đất đầm lầy ven sông nên thuận lợi cho người Sa Huỳnh cổ trong việc khai thác thủy sản và canh tác nông nghiệp. Di tích Bình Châu II được phát hiện vào tháng 1/2000, phân bố ở vùng thấp ven sông Châu Me cổ. Tại tầng văn hóa này, lớp cư trú có vỏ nhuyễn thể và xương động vật cùng đó còn phát hiện các di vật đặc trưng bằng đá (bàn nghiền, chày nghiền và bộ sưu tập cuốc 15 chiếc), đồ đồng (muôi rót, mảnh nồi và khuôn đúc), đồ gốm (bát bồng, bình con tiện,…). Nằm ở thôn Sơn Trà, xã Bình Đông, di tích Gò Quê là cồn cát cổ giáp suối Bàu Đá về phía Đông chảy ra vịnh Dung Quất, phía Bắc tiếp giáp với vùng cửa biển Sa Cần thuộc sông Trà Bồng, phía Tây trước đây là đầm Đồng Kẽm và núi Hòn Lũy, nơi có nhiều di tích Chăm. Di tích được phát hiện khi xây dựng nhà máy đóng tàu Dung Quất vào năm 2004 với 21 mộ chum, 10 mộ đất được chôn trong lớp cát trắng chứa tàn tích thực vật, cùng 60 hiện vật đồ tùy táng bằng đá, kim loại đồng sắt, gốm và thủy tinh có niên đại sơ kỳ sắt. Qua đó phản ánh hoạt động khai thác biển, săn bắn và nông nghiệp trồng trọt của cư dân Sa Huỳnh cổ. Đồng thời, khu vực cư dân Sa Huỳnh cổ sinh sống rất thuận lợi trong giao thông đường thủy.

Phía nam với các di tích Long Thạnh, Thạnh Đức, Phú Khương, nơi có các cửa biển lớn, vũng nước sâu như Mỹ Á, Sa Huỳnh. Các di tích này phân bố quanh đầm An Khê, đầm Thạnh Đức, Lạch An Khê, sông Cửa Lỗ với nguồn thủy sản phong phú, đa dạng (cá, tôm, ốc, sò). Tính từ năm 1909 đến hiện nay, trong các cuộc khai quật, đặc trưng di vật của các di tích và chiếm số lượng lớn khoảng hàng nghìn là mộ táng (mộ chum, mộ nồi, mộ vò) cùng các bộ sưu tập đồ đá, đồ xương, đồ gốm, đồ kim loại bằng đồng, sắt và đồ trang sức (cuốc đá lưỡi mèo, rìu đá, bôn đá hình răng trâu, dọi xe sợi, lục lạc đồng, bình hoa, bát bồng, nồi minh khí bằng gốm, khuyên tai ba mấu, khuyên tai hai đầu thú, chuỗi hạt bằng chất liệu thủy tinh, đá nephrit).

Khu vực đảo gần bờ, qua các đợt thám sát và khai quật khảo cổ học năm 1978, 1996, 1997, 1999, 2001 tại đảo Lý Sơn do các nhà khảo cổ học Diệp Đình Hoa, Đoàn Ngọc Khôi, Phạm Thị Ninh, Chử Văn Tần, Trịnh Sinh thực hiện. Trong tầng văn hóa cư trú và mộ táng của cụm di tích Xóm Ốc - Suối Chình, các nhà khoa học phát hiện các vỏ nhuyễn thể (ốc cừ, ốc hoa, ốc tai tượng, sò trơn, vú nàng…) và xương động vật, xương chim (trâu bò , hươu cà tong, lợn rừng, chim (Aves sp.) do cư dân Sa Huỳnh bỏ lại hai bên bờ suối nước ngọt, suối Ốc và suối Chình (An Hải). Ngoài di cốt người, các hiện vật đồ đá, đồ gốm, đồ kim loại, đồ trang sức nhưng đa dạng về loại hình và số lượng là công cụ và đồ trang sức bằng vỏ nhuyễn thể. Điều này chứng minh, môi trường cư trú, nhu cầu sinh hoạt đời sống vật chất lẫn tinh thần (đánh bắt thủy sản, nhu cầu làm đẹp) của cư dân văn hóa Sa Huỳnh tại Lý Sơn đều gắn với biển.

Vùng miền núi trung du, các cuộc thăm dò nhà khảo cổ học Nguyễn Vạn Thuận năm (1982), Đoàn Ngọc Khôi (2002) thuộc thung lũng sông Tang, dọc sông Đakxàlò, suối Nước Niêu, suối Nước Biếc, sông Riềng (Trà Bồng) suối Nước Nia, Sông Rhin (Sơn Hà). Bao quanh là rừng già Cà Đam. Vì vậy, thổ nhưỡng nơi đây có lượng phù sa màu mỡ, lòng sông có rất nhiều cá cùng các loại thủy sản khác, rừng già có nhiều thú rừng và lâm thổ sản. Từ năm 2010 -2012, trong cuộc khai quật khảo cổ mặt bằng xây dựng công trình hồ chứa nước Nước Trong với 20 hố tại 5 địa điểm Trà Veo 2, Trà Veo 3, Thôn Tre 1, Thôn Tre 3, Thôn Tre 4 thuộc thung lũng sông Tang (huyện Trà Bồng) đã phát hiện các di vật đặc trưng, chiếm số lượng lớn là sưu tập đá (410 hiện vật) gồm bàn nghiền, hòn nghiền, rìu, bôn, những hạt thóc cháy… Ngoài ra, người Sa Huỳnh cổ còn biết dệt vải, may quần áo đẹp với hàng khuy đồng được khâu đính dọc các tà áo .

Các di tích thuộc các cửa biển Sa Cần, Sa Kỳ, Sa Huỳnh, Mỹ Á, Đầm An Khê (H1), Lạch An Khê, sông Cửa Lỗ, suối Ốc, suối Chình, vùng thung lũng sông Tang... cùng các di vật như bàn nghiền, chày nghiền bằng đá (H2), kim xương cá, lưỡi câu đồng, liềm sắt, dao sắt, vỏ sò, vỏ ốc, xương cá,... đã minh chứng những khu vực gần biển, gần sông suối hay hải đảo trở thành không gian sống lý tưởng và chủ yếu của cư dân Sa Huỳnh cổ. Họ cư trú thành những cộng đồng, để sinh tồn và giao thông đường thủy thuận lợi; hoạt động các nghề làm gốm, nghề luyện kim, nghề chế tác đồ trang sức, nghề dệt vải nhưng quan trọng nhất đó là nông nghiệp trồng lúa nước và khai thác các nguồn lợi từ biển (ngư nghiệp); góp phần tạo nên nét đặc trưng rõ nét, rất riêng của văn hóa Sa Huỳnh - sắc thái văn hóa biển.

Cùng với khu vực đồng bằng duyên hải, hải đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi chiếm ¾ diện tích đồi núi, nơi cư trú lâu đời của ba tộc người thiểu số chính: H’rê, Cor và Ca dong. Tộc người H’rê là một hợp phần của các tộc người ở vùng Trường Sơn, Tây Nguyên thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer và ngữ hệ Nam Á. Theo thống kê ngày 01/4/2019, dân tộc H’rê ở Quảng Ngãi cư trú chủ yếu ở các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long. Trước đây, người H’rê có các tên gọi khác nhau như Mọi Đá Vách, Chăm Rê, Thượng Ba Tơ… Họ định cư thành từng làng (plây) với quy mô lớn nhỏ khác nhau; dọc ven triền đồi, trên gò đất cao, dọc các con sông lớn trong vùng và một số sông, suối nhỏ khác như sông Liên, sông H’rê, sông R’vá, sông K’rế, suối nước Nẻ, suối Nước Lá, suối nước Lếch… Vì vậy, việc lấy tên những con sông lớn đặt tên cho nhóm người đã phản ánh phần nào đặc trưng nơi cư trú của họ. Minh Long có sông R’vá gọi là người R’vá, Ba Tơ có sông Liêng gọi là người nước Liêng, sông H’rê gọi là người H’rê, Sơn Hà có sông Krế gọi “người Krế” hay Bình Định có sông Dinh gọi là người nước Dinh... Sau Cách mạng tháng Tám 1945, các nhóm dân cư H’rê liên kết với nhau, dùng tên con sông lớn nhất là sông H’rê làm tộc danh của mình là người H’rê.

Từ xa xưa, người H’rê đã biết chăn nuôi, săn bắn (H7), đan lát, dệt vải, đánh bắt cá (H8) thì nghề chính của người H’rê trồng lúa nước ở gần các con sông, khe suối, bằng các phương tiện thô sơ (cuốc, cày, bừa, giáo, nơm, lờ, lưới…). Thần Lúa (Yang sri) rất quan trọng trong đời sống người H’rê. Vì vậy, người H’rê có lễ cúng cơm mới. Người phụ nữ của gia đình lấy lúa từ ruộng, rẫy về giã gạo, nấu cơm, chịu lễ và ăn một mình riêng trong chiếc nồi thiêng (gook đinh). Bà cũng là người duy nhất mới được tỉa lúa, gieo cấy làm phép khởi đầu và là người đem gùi thóc lúa đầu tiên về kho. Vì vậy, người H’rê có rất nhiều nghi lễ gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp như cúng cầu nắng, cúng cầu mưa, cúng máng nước, cúng gieo mạ, cúng cấy lúa, cúng lúa mới, cúng cầu may…

Ngoài các lễ cúng, người H’rê còn có các truyện cổ, câu ca cổ liên quan đến môi sinh, đời sống sản xuất nông nghiệp. Trong truyện Y Róc mô tả cuộc sống của người H’re "...Y Róc... Ngày lên rừng hái rau, xuống suối mò cua, mò ốc về nuôi mẹ, tối ngồi vá lại tấm chài, một con trăng đi qua thì anh vá xong tấm chài cũ". Địa bàn cư trú, lối sống sinh hoạt của tộc người H’rê còn được ghi trong dân ca cổ của họ rất đa dạng, được dịch nghĩa: “Tôi muốn về với xóm làng/ Tôi muốn về với núi rừng/ Muốn về với sông suối...”, “Các con, các cháu…/ Cái dây bừa mình làm phải cho khéo/ Cái cày này phải đóng cho chặt/ Cái cày, bừa phải bào cho đẹp/ Củ mì ta phải trồng…/ Đừng lười nhát ngủ trưa...” .

1.2. Sự tương quan về phong tục tín ngưỡng

Người Sa Huỳnh cổ có táng thức mộ táng. Các quan tài chum bằng gốm (chum hình trứng, chum hình trụ), mộ nồi chôn úp nhau (H10), mộ vò có nắp đậy hình nón cụt (H9), mộ đất. Táng thức mộ chum phản ánh rõ nét phong tục tín ngưỡng của cư dân văn hóa Sa Huỳnh như làm nhà cho người quá cố, phong tục chia của, sự phân hóa giàu nghèo hay thân phận, vị trí xã hội của chủ nhân của ngôi mộ và tín ngưỡng phồn thực. Theo quan niệm của cư dân Sa Huỳnh cổ, người chết sẽ sống ở một thế giới khác, ở đó có cuộc sống tương tự như cuộc sống trần gian . Những ngôi mộ chum giống như những ngôi nhà để linh hồn người chết trú ngụ trên quê hương bản quán. Trên một số quan tài gốm còn có hình tròn nhỏ ở phần thân hoặc chọc thủng đáy quan tài được gọi là cửa thông thiên để linh hồn người chết đi ra đi vào .

Cùng với tục làm nhà, người Sa Huỳnh còn có tục chia của cho người quá cố. Đồ tùy táng chôn theo là những gì thân thuộc của họ. Chủ nhân ngôi mộ là người giàu có thì đồ tùy táng chiếm số lượng nhiều, đa dạng về loại hình và chất liệu hoặc có mộ lại chẳng có hiện vật nào. Tại các mộ, một số ít đồ tùy táng đặt bên trong chum, một số ít đặt bên ngoài, theo phương nằm nghiêng hoặc úp, ghè vỡ đối với chất liệu gốm; bị bẻ gãy mũi hoặc bẻ cong đối với chất liệu kim loại bởi cư dân Sa Huỳnh cổ cho rằng "vật cũng giống con người đều có linh hồn, một khi đã vỡ hay bẻ cong mũi thì xem như đã chết và theo người chết về thế giới khác". Điển hình, mộ táng Long Thạnh được khai quật năm 1994, trong đó có loại mộ vò có nắp đậy hình nón cụt, bên trên đặt đồ tùy táng (cuốc đá, rìu đá, bát bồng (H11), nồi minh khí (H12),…) đã ghè vỡ chân đế và theo phương nằm nghiêng. Mộ đất Bình Châu có các cụm gốm vỡ của các loại bình, nồi, bát bồng; một số mũi tên đồng và lưỡi câu bị gãy mũi. Còn các đồ tùy táng thuộc mộ táng Gò Quê được chôn đặt nghiêng lẫn đặt úp, hầu hết các nồi, bát bồng, bình đều bị đập vỡ hay được ghè chân đế, hiện vật vũ khí đồng và sắt đều bị bẻ cong mũi. Mộ đất Xóm Ốc (An Vĩnh, Lý Sơn) còn được gọi mộ song táng, phát hiện năm 2002 và đang trưng bày tại Bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi. Ngôi mộ gồm hai di cốt của một người nam và nữ đặt trong tư thế nằm nghiêng và hai gối chân gập lại. Đồ tùy táng gồm các bát bồng, bình, nồi bị vỡ và được rải đều xung quanh đáy mộ.

Đặc biệt, các nhà khảo cổ học tìm thấy bộ sinh thực khí nam và nữ (linga-yoni) bằng gốm (H13) tại di tích Long Thạnh (Đức Phổ) (1994), chày nghiền tại thung lũng sông Tang (Trà Bồng) (2012) đã chứng minh cư dân Văn hóa Sa Huỳnh không chỉ là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước mà tín ngưỡng phồn thực đã hình thành, mang theo ước vọng của con người về mùa màng bội thu và cuộc sống no đủ. Sau này, người Chăm-pa - hậu duệ của cư dân Sa Huỳnh cổ đã tạo tác ra vật thiêng mang tính điển hình, đậm nét nhất đó chính là bộ ngẫu tượng linga-yoni được thờ tự trong các đền tháp Chăm

Nếu như người Sa Huỳnh cổ chôn người chết thành cụm, bãi với hàng trăm quan tài gốm (chum) trên cồn cát và được đặt tên là “Kho chum Sa Huỳnh (Despot à Jarres Sa Huỳnh) thì người H’rê cũng có một khu mộ địa ở mỗi làng (ka-ràng hnăng) mà chỉ có bà con, họ hàng mới được mai táng ở đây. Trong tang ma, người H’rê luôn có một sự công bằng giữa người sống và người quá cố nên họ có tục dựng nhà mồ (H14) và chia của cho người chết. Quan tài của người H’rê được làm bằng thân cây đục rỗng ruột rất công phu, giống một chiếc thuyền độc mộc và có nắp đậy gọi là “váng thiêng”. Đồ tùy táng là những gì thân thuộc, họ sử dụng hằng ngày và đều được đâm thủng đáy trước khi chôn. Đồ tùy táng treo trên nóc nhà (chinh, gùi, xoong, nồi, nón, giỏ rựa, lưới đánh cá…); đặt trên mặt đất đất (ché, hủ sành, nồi đồng, gà…) và đặt trong quan tài (quần áo, cơm, thịt…).

Thân phận, vị trí xã hội và giới tính của người đã khuất sẽ được xác định qua kiến trúc nhà mồ và đồ tùy táng (vật được chia). Đối với đàn ông, vật được chia treo phía trước ngôi nhà; còn phụ nữ treo phía sau ngôi nhà. Nhà mồ của những người có chức quyền, giàu có thì sẽ được trang trí nhiều màu sắc, hoa văn (cây nêu, hàng rào,…), số lượng đồ tùy táng nhiều, có giá trị về mặt kinh tế, nhất là chinh (chiêng). Chinh đóng một vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người H’rê. Không chỉ là tài sản của một gia đình, một làng, chinh chính là thần linh (yang chinh) và rất linh thiêng. Nhạc khí của chinh là tiếng nói, câu hát của thần linh. Theo tập tục của người H’rê, khi chia chinh thì phải khác giới tính: Cha mất thì chia chinh mẹ, mẹ mất chia chinh cha, còn đối với người con thì có thể chia chinh cha hoặc chinh mẹ. “Trước khi chôn chinh cho người chết, người thân dùng một đoạn gỗ đánh mạnh vào bụng chinh cho rạn nứt nhằm báo người chết biết gia đình đã chia cho một chiếc chinh” .

Tín ngưỡng phồn thực của người H’rê thể hiện rõ nét nhất qua nhạc cụ và ngôn ngữ. Nhạc cụ thể hiện rõ yếu tố phồn thực là đàn B’rooc hai dây đực và cái (H15) hay sáo Tà Vố giống hình ảnh người phụ nữ. Về ngôn ngữ, người H’rê có một số cách gọi như: Đực cái (trai gái), Kari (giống cái), Kalo (giống đực).

3. Sự tương quan về nghệ thuật trang trí hoa văn và màu sắc

Nét đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh là các mộ chum (mộ chum hình trứng, mộ chum hình trụ, mộ vò, mộ nồi) và các đồ tùy táng bằng gốm (bình hoa, bát bồng, nồi gốm…). Các di vật đồ gốm không chỉ phản ánh đời sống, sinh hoạt mà là còn là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, mang tư tưởng, tình cảm, trình độ, óc thẩm mỹ, sáng tạo của chủ nhân tạo ra chúng. Các đồ gốm của người Sa Huỳnh cổ đặc sắc về loại hình, hoa văn trang trí, màu sắc. Về loại hình, người Sa Huỳnh chế tác các đồ gốm phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày (bát bồng, nồi, bình,…) và cho người quá cố (nồi minh khí). Hoa văn trang trí trên đồ gốm gồm các đồ án hình chữ S dạng sóng biển (H16), khắc vạch, hình tam giác (H17), hồi văn, hình học, các đường vạch chéo song song, các vòng tròn, hình in của dấu răng, của mép vỏ sò. Làm nổi bật các hoa văn hơn nữa là màu sắc trên gốm, người Sa Huỳnh cổ thuộc giai đoạn Long Thạnh sử dụng các màu tương phản vàng sẫm-da cam-đen, đỏ-đen.

Điển hình, bộ sưu tập 18 bình gốm giai đoạn Long Thạnh (H18) (cách ngày nay khoảng 3000 năm) đang được lưu giữ tại Bảo tàng tổng hợp Quảng Ngãi. Bộ bình hoa có dáng uyển chuyển, miệng hơi loe, thon dần về cổ, nở dần phần bụng. Bình hoa có hai dạng: loại cổ cao, có chân đế và loại cổ thấp miệng đáy bằng không có chân đế. Nhìn chung, ba phần miệng - thân - chân đế của các bình hoa được tạo dáng với tỷ lệ cân xứng. Gốm có màu đỏ gạch kết hợp tô chì. Hoa văn trang trí trên gốm khá phong phú, điển hình giai đoạn sơ kỳ đồng thau, với kỹ thuật khắc vạch, văn thừng mịn, văn lăn chấm, in miệng vỏ sò… Đặc biệt, các đồ án thường xuyên trang trí trên gốm là đồ án hình chữ S dạng sóng biển, đồ án hình tam giác kết hợp nhiều hình, hoa văn hình vuông kết hợp các rạch ngắn song song (H19), đồ án bọt biển phản ánh rõ đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần của người Sa Huỳnh cổ gắn liền với biển. Ngoài ra, cư dân văn hóa Sa Huỳnh còn trang trí, khắc vạch hình bông lúa, đường cong, xiên, zích zắc, hình vẩy cá, in chấm rải… (gốm Bình Châu I).

Cũng giống với cư dân Văn hóa Sa Huỳnh, người H’rê thể hiện trình độ thẩm mỹ, tính sáng tạo nghệ thuật cũng như khía cạnh văn hóa vùng miền của người dân tộc thiểu số miền Tây Quảng Ngãi. Hiện nay, làng Teng ở xã Ba Thành, huyện Ba Tơ; là ngôi làng duy nhất có khoảng 40 người biết dệt thổ cẩm. Các sản phẩm của người H’rê rất đa dạng, phong phú như khố, tấm choàng (kpen), váy, áo (H20), địu, khăn choàng đầu, túi đeo… Đặc biệt, trang phục dành cho lễ hội thường có nhiều hoa văn và màu sắc sặc sỡ như đen, trắng, đỏ, xanh lá cây, xanh nước biển, màu vàng, màu nâu… Bởi người H’rê quan niệm mặc đẹp trong lễ hội không những làm đẹp cho mình và lễ hội mà còn thể hiện sự tôn kính đối với thần linh “Đúng ngày thần tới/ Cho tôi mặc áo đẹp/ Đợi tôi buộc tóc dài/ Để vui lòng thần…” .

Màu chủ đạo của vải thổ cẩm là đen, đỏ, trắng; trong đó, màu đỏ tượng trưng cho thần linh, tính dương, thuộc về nam giới; màu đen và trắng tượng trưng cho đất và nước, tính âm, thuộc về nữ giới. Khi đề cập đến sự khác biệt, ngoài màu sắc chủ đạo thì nét đặc sắc thổ cẩm làng Teng của người H’rê là hoa văn trang trí trên vải thổ cẩm.

Các hoa văn tượng trưng, phản ánh môi trường, địa bàn cư trú đời sống sinh hoạt của người H’rê như: dòng nước xoáy (Kế R'Vênh) (H21), tam giác (H22), đường kẻ song song (Troang hoát) (H23), chân chó (Zềnh Cọ), răng lược, đường, vạch đứng (K’rái), hình vuông,… Bên cạnh đó, mô tả thiên nhiên, núi rừng nơi cư trú (hoa kol , trái mây, bàn chân con vịt, khiên, nơm, mái nhà sàn); hoạt động sinh hoạt hằng ngày (đan lát, móc áo).

Điểm chung của cư dân Sa Huỳnh cổ và người H’rê ở Quảng Ngãi thông qua các sản phẩm bằng gốm và vải thổ cẩm, các hoa văn thể hiện rõ giá trị vật chất nhưng quan trọng hơn phản ánh rõ thế giới quan về vũ trụ và con người, quan niệm tín ngưỡng được xử lý thông qua đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo, tính thẩm mỹ của họ. Màu sắc chủ đạo là màu đỏ, màu đen. Bố cục hoa văn đều theo từng mảng, cụm, hoặc nhóm dày đặc nhưng đều thể hiện rõ tính đối xứng. Mỗi mảng trang trí đều mang mỗi đề tài khác nhau như đối với gốm tập trung phần miệng, thân, đế. Thổ cẩm tập trung ngực, chân váy, tay áo… Các mô típ hoa văn trang trí nổi bật như hoa văn sóng biển (nước) hướng về môi trường sống (sông, suối, biển); hoa văn hình học (hình tam giác, khắc vạch, ô vuông, đường zích zắc, đường song song), hoa văn hướng về hiện tượng tự nhiên (mặt trời, sóng nước, núi non, bông lúa).

4. Kết luận

Trên đây là những đối sánh giữa Di sản văn hóa Sa Huỳnh và di sản Văn hóa dân tộc H’rê ở Quảng Ngãi bằng những luận cứ của khảo cổ học và dân tộc học phần nào gợi mở các hướng nghiên cứu để làm rõ nguồn gốc của tộc người H’rê; liệu rằng có phải là tiền nhân của người Sa Huỳnh cổ hay chăng đó chỉ mang tính kế thừa, giao lưu, hòa huyết?. Quá trình nghiên cứu này rất cần thiết để tạo nên những nút mở để thực hiện các hướng nghiên cứu góp phần bảo tồn các di sản văn hóa tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.


Tài liệu tham khảo

1. Chử Văn Tần (1997), “20 năm sau phát hiện Long Thạnh, một lần nữa nhìn lại Sa Huỳnh”, Tạp chí Khảo cổ học, số 1.

2. Đoàn Ngọc Khôi (2015), Báo cáo tổng quát kết quả nghiên cứu đề tài “Văn hóa Sa Huỳnh trên đất Quảng Ngãi”, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Quảng Ngãi.

3. Đinh Xăng Hiền (1985), Truyện cổ H’rê, Nxb. Văn hoá.

4. Hà Văn Tấn (1999), “90 năm văn hóa Sa Huỳnh - Điều đã biết và điều chưa biết”, Hội thảo khoa học 90 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh.

5. Lâm Thị Mỹ Dung (2019), “Phát hiện và nghiên cứu Văn hóa Sa Huỳnh (1909-2019)”, Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt, tập 9, số 3.

6. Nhiều tác giả (2022), Tham luận Hội nghị tham vấn về “Vai trò đầm An Khê gắn với không gian văn hóa - sinh tồn của cư dân Sa Huỳnh cổ và đánh giá tác động dự án Nhà máy Điện mặt trời trên đầm An Khê, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi”, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi.

7. Nhiều tác giả (2022), Kỷ yếu Hội thảo báo cáo tổng kết Dự án Chỉnh lý kết quả khai quật khảo cổ học tại khu vực mặt bằng xây dựng công trình Hồ chứa nước Trong, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi.

8. Nguyễn Thế Truyền (2019), Âm nhạc dân gian của tộc người H’rê ở Quảng Ngãi (sách chuyên khảo), Nxb. Giáo dục Việt Nam.

9. Nguyễn Ngọc Trạch (2012), Nhà ở và nghề dệt truyền thống của dân tộc H’rê, Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ngãi.

10. Trịnh Sinh (2015), “Người Quảng Ngãi thời Văn hóa Sa Huỳnh và biển”, Tạp chí Cẩm Thành, số 81+82.

11. Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Ba Tơ (2022), Ba Tơ đất nước con người, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

12. Viện Dân tộc học (2015), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...