Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2024

Kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh qua tư liệu mộ táng ở lòng hồ Nước Trong (NNC Huỳnh Chí Cường)

Tóm tắt: Nghiên cứu hệ thống mộ táng ở vùng lòng hồ Nước Trong đã góp thêm tư liệu nhận thức sự chuyển biến nhiều mặt từ Tiền Sa Huỳnh sang Sa Huỳnh ở vùng núi Quảng Ngãi, thông qua các loại hình mộ, vị trí đặt mộ, văn hóa ứng xử của người sống với người quá cố qua đồ tùy táng, làm rõ thân phận chủ nhân mộ và dấu hiệu phân hóa xã hội qua hệ thống đồ tùy táng vùng này.

Từ khoá: Di tích khảo cổ, Mộ táng, hồ Nước Trong, lịch sử, văn hoá.

1. Các hoạt động kinh tế - xã hội

Môi trường vùng núi Quảng Ngãi

Hệ thống và xâu chuỗi các di tích khảo cổ ở vùng lòng hồ Nước Trong gồm các di chỉ Núi Rách, Mang K’Muồng, Hà Riềng, Trà Veo 2, Trà Veo 3, Thôn Tre 1, Thôn Tre 2 và Thôn Tre 4 thuộc các xã Trà Phong, Trà Thọ, Trà Xinh, Sơn Bao và Di Lăng là các xã miền núi của hai huyện Trà Bồng và Sơn Hà. Các di tích này thuộc loại hình di chỉ cư trú và mộ táng. Những thông tin tư liệu về di tích và di vật khu cư trú, cùng mộ đất, mộ quan tài gốm và đồ tùy táng là nguồn sử liệu chính để phác dựng các hoạt động kinh tế, kết cấu xã hội và đời sống văn hóa cộng đồng cư dân tiền sử ở đây trong mối tương thích với môi trường vùng núi Quảng Ngãi.

Cộng đồng cư dân ở vùng lòng hồ Nước Trong chiếm cư ở vùng núi và thung lũng, dạng hình chuyển tiếp từ cao nguyên phía Tây Nguyên xuống đồng bằng biển đảo với độ cao trung bình 550m so với mực nước biển. Địa hình vùng này được thành tạo trên cơ sở các tệp đá biến chất, magma, phun trào có tuổi thành tạo khác nhau, với các sườn dốc, thung lũng hẹp, phân cắt mạnh, trên mặt có lớp phủ thực vật nhiệt đới ẩm khá đa dạng.

Trong lòng một số thung lũng hẹp và sâu ở huyện Trà Bồng và Sơn Hà là hệ thống sông suối khá dày đặc, đều đổ nước vào sông Tang. Sông Tang bắt đầu từ vùng núi phía Bắc của dãy Ngọc Linh, được bổ sung nguồn nước từ các sông suối khác như sông Riềng trước khi nó vào khu vực di tích khảo cổ. Tại điểm tiếp nhận nước sông Riềng và suối Nước Niêu là nơi phân bố di chỉ Trà Phong, sông Tang chảy đến phía đông của xã Trà Thọ lại nhập thêm phụ lưu suối Nước Biếc, nơi phân bố các di chỉ ở xã Trà Xinh, rồi khúc dưới sông Tang hợp lưu với Suối Rách, rồi suối Nước Nia là nơi phân bố tập trung cao nhất các di tích vùng lòng hồ Nước Trong. Sau đó, sông Tang hợp lưu với sông Rhin đổ vào sông Trà Khúc - con sông lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi xẻ một đường từ Tây sang Đông, từ vùng núi qua đồng bằng biển - đảo.

Thung Lũng sông Tang với hệ thống ngã ba sông suối nói trên là địa bàn cư trú chính của cư dân ở vùng hồ Nước Trong, tỉnh Quảng Ngãi. Nơi ấy xuất hiện các bãi bồi nhỏ ven sông, chân núi với lớp trầm tích phù sa thích hợp cho trồng trọt, nhất là trồng lúa. Ngày nay, dọc bờ sông một số người dân Hrê, Cor, Cadong vẫn canh tác ruộng nước và hoa màu.

Rõ ràng, cư trú ở vùng núi, trong thung lũng sông Tang là một điều khác biệt của cư dân cổ ở vùng lòng hồ Nước Trong với hầu hết các cộng đồng cư dân văn hóa Sa Huỳnh khác ở miền Trung Việt Nam, nơi con người cư trú trên thuyền hoặc các đụn cát và để mộ trên các cồn cát chạy dài ven biển.

Hoạt động kinh tế xã hội

Dựa vào vết tích cư trú và mộ táng, có thể hình dung những nét chính về diện mạo kinh tế, xã hội và đời sống cư dân cổ Sa Huỳnh.

Nghiên cứu đồ tùy táng hai giai đoạn văn hóa tiền sử ở vùng lòng hồ Nước Trong gợi ý đôi điều về kinh tế - xã hội và văn hóa của cư dân thời này. Trước hết, đây là giai đoạn con người phát triển cao của nền nông nghiệp dùng cuốc. Trong các đồ tùy táng chôn theo các mộ này là cuốc hình tứ giác, có vai vuông; cuốc hình răng trâu, đây là loại nông cụ làm đất có hiệu xuất cao thời bấy giờ.

Ngoài cuốc, ở đây còn có đá gia trọng vốn là viên cuội tròn, dẹt hình bánh xe, có lỗ xuyên tâm, làm gậy chọc lỗ, tra hạt trong sản xuất nổng nghiệp. Rất nhiều chày và bàn nghiền, dụng cụ tất yếu của nền nông nghiệp có sản phẩm là quả hạt, có thể là lúa, và thực tế đã tìm thấy hạt thóc trong gốm và trong mộ giai đoạn Sa Huỳnh. Một loạt đồ gốm mộ kích thức lớn, cùng đồ gốm gia dụng và chôn theo phản ánh nghề thủ công chế tạo đồ gốm phát triển cao, có tác động nhiều mặt kinh tế xã hội thời này.

Sang giai đoạn Sa Huỳnh, bên cạnh công cụ đá đã xuất hiện công cụ kim loại, đó là những lưỡi rìu có họng tra cán, những con dao bằng sắt, chiếc vằng sắt liên quan đến dụng cụ cắt gặt, những chiếc thuổng có kích thước lớn thích hợp cho việc khai phá đất đai trồng trọt, đào củ trên rừng.

Trồng lúa là hoạt động nông nghiệp cơ bản của cư dân cổ ở vùng lòng hồ Nước Trong. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những hạt thóc cháy đen tại nơi cư trú Tiền Sa Huỳnh, hạt thóc trong vò gốm mộ táng và cả trên mảnh gốm giai đoạn Sa Huỳnh.

Bên cạnh trồng lúa, các hoạt động săn bắt, thu hái sản vật tự nhiên xung quanh ở cư dân Nước Trong vẫn giữ vị trí hết sức quan trọng. Cộng đồng cư dân thời này triển khai các hoạt động khai thác động thực vật làm thức ăn hằng ngày trên các đồi, gò xung quanh, vốn là những mảng rừng thưa xung quanh ở vùng lòng hồ Nước Trong. Trong các di tích khảo cổ thời này chưa tìm thấy dấu tích xương cốt động vật và các loài thảo mộc, có thể chúng đã bị tiêu hủy hết do thời gian dài trải qua hàng nghìn năm.

Những hoạt động thủ công chế tạo công cụ lao động bằng đá, bằng kim loại, đồ trang sức bằng thủy tinh, mã não và đá ngọc, chế tạo đồ gốm làm quan tài và gốm gia dụng, gốm tùy táng ở đây khá phát triển.

Việc chế tạo công cụ đá ở đây đã đạt đỉnh cao kỹ thuật. Những lưỡi cuốc lớn dáng cân đối, mài toàn thân, những chiếc rìu tứ giác, rìu có vai, bôn hình răng trâu kích thước nhỏ nhắn, được làm từ đá cứng như đá opal, đá phtanit, đá silic, được mài và đánh bóng nhẵn toàn thân. Trong di tích đã tìm thấy những phác vật cuốc, rìu, những mảnh tước nhỏ tách ra trong quá trình chế tác và những chiếc bàn mài vết mài lõm hình lòng chảo hoặc mài rãnh để mài chúng. Đó là bằng chứng cho thấy, cuốc và rìu bôn nói trên được chế tạo tại chỗ và thực tế, những công cụ này đã qua sử dụng, có chiếc bị vỡ và bỏ lại di tích.

Trong một số mộ táng giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh đã tìm thấy rìu đồng, loại có dạng tra cán, một số mũi dùi sắt, dao dắt, liềm sắt, thuổng sắt. Hầu hết những di vật này bị mủn nát, không nhận dạng được hình dáng và chức năng của chúng. Các nhà khảo cổ chưa tìm thấy các lò luyện kim đúc đồng, luyện sắt ở vùng lòng hồ Nước Trong, nên chưa thể khẳng định hoạt động thủ công luyện kim chế tác kim loại đồng, sắt đã có mặt ở vùng này. Nhưng việc sử dụng công cụ bằng kim loại và dùng chúng làm đồ tùy táng là rõ ràng. Cách khu di tích ở vùng lòng Nước Trong không xa là hệ thống di chỉ Lung Leng, huyện Sa Thầy, Kon Tum các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng chục lò luyện sắt, hàng chục khuôn đúc rìu đồng và đầy đủ sản phẩm từ hoạt động luyện kim, chế tác kim loại này[1]. Không loại trừ khả năng, nông cụ bằng kim loại ở đây được trao đổi với cư dân văn hóa Lung Leng ở Tây Nguyên.

Chế tạo đồ gốm ở vùng lòng hồ Nước Trong đã đạt đến đỉnh cao kỹ thuật làm gốm tiền sử. Ngoài các gốm lớn dùng cho mai táng như nồi, vò, chum hình trụ, chum hình trứng, chum hình lọ hoa ở đây còn xuất hiện gốm gia dụng và gốm tùy táng. Để chế tác đồ gốm, nhất là những đồ gốm lớn đòi hỏi nhiều thợ thủ công cùng tham gia trong các khâu làm đất nguyên liệu, khâu tạo dáng, khâu trang trí hoa văn, khâu nung và khâu trao đổi trên thị trường. Yếu tố hợp lực, yếu tố cộng đồng, yếu tố gia đình trong sản xuất là rất quan trọng, nếu chúng ta quan sát các lò thủ công làm gốm hiện nay ở chính vùng lõi của di sản văn hóa Sa Huỳnh.

Bên cạnh chế tác công cụ, làm gốm, cộng đồng cư dân ở đây còn có các hoạt động khác như dệt vải, mà một số dọi xe sợi tìm thấy ở đây; đan lưới, đánh bắt cá mà dấu tích chì lưới bằng đá cuội khắc rãnh đã tìm thấy. Các hoạt động chế tác đá và làm gốm không chỉ đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống của cộng đồng cư dân ở đây, mà còn được giao lưu trao đổi với khu vực xung quanh. Có thể những sản phẩm này được cư dân ở đây sử dụng trao đổi với cư dân có đồ đồng, đồ sắt, đồ đá ngọc, mã não mà ở đây chưa làm được.

2. Diện mạo văn hóa - xã hội

Tư liệu mộ táng ở vùng lòng hồ Nước Trong góp phần tìm hiểu những thay đổi về văn hóa ứng xử giữa người sống và người chết trong cộng đồng cư dân từ Tiền Sa Huỳnh sang Sa Huỳnh ở đây.

Nếu như trong giai đoạn Tiền Sa Huỳnh tồn tại nhiều kiểu táng thức như: mộ đất kè gốm xung quanh, mộ huyệt tròn chèn những mảnh gốm; mộ quan tài gốm dạng chum hình trứng, hình trụ, mộ nồi, mộ vò, mộ nồi - nồi vò úp miệng vào nhau, thì sang giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh ở đây đã có sự thay đổi, chỉ còn gặp mộ quan tài gốm, đa số là mộ chum hình trứng, chum hình trụ, đôi khi có nắp đậy hình nón cụt. Có thể sự biến đổi ấy gắn liền với quá trình thay đổi táng thức từ hung táng (tử thi chôn trực tiếp vào đất), sang cải táng (lấy xương cho vào quan tài gốm) sang hỏa táng (thiêu lấy than) ở giai đoạn sau[2].

Cùng với quá trình đó là sự thay đổi vị trí nghĩa địa. Ở giai đoạn Tiền Sa Huỳnh cư dân ở vùng lòng hồ Nước Trong để mộ ở khu vực cư trú, nhưng sang giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh, mộ táng được chôn trong nghĩa địa riêng, ngoài nơi cư trú. Việc thay đổi này gắn liền với nhận thức cái sống và cái chết của các lớp cư dân ở đây. Mộ để ở nơi cư trú vốn tồn tại lâu dài trong thời tiền sử, phản ánh sự tín ngưỡng: người chết cần được ở bên cạnh, được bảo vệ, được thăm nom. Cái sống và cái chết ở đây hầu như không có ranh giới cứng nhắc. Nhưng ở giai đoạn sau, khi dân số tăng, nơi cư trú chật hẹp, táng thức hỏa thiêu là chính thì nghi lễ làm ở ngoài nơi cư trú, và mộ chum, mộ nồi vò đựng than tro cũng được tập trung trong nghĩa địa xa làng, cũng có trường hợp rìa của khu di tích cư trú.

Đồ tùy táng và cách bài trí giữa hai giai đoạn cũng có một số thay đổi đáng chú ý. Nếu như ở giai đoạn Tiền Sa Huỳnh ở vùng lòng hồ Nước Trong, đồ tùy táng thường gặp là công cụ lao động bằng đá, tiêu biểu như cuốc, rìu, bôn đá, bàn nghiền lớn cùng một số ít đồ gốm thường nhật như nồi, bát bồng, lọ hoa bị ghè vỡ miệng với ý niệm “chia của” cho người chết và đến thế giới mới họ có những thứ đó để tiếp tục cuộc sống.

Nhưng sang giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh đồ tùy táng ít gặp là công cụ lao động bằng đá mà bằng đồng, sắt, đồ trang sức bằng thủy tinh, mã não, thậm chí bằng kim loại quý. Những chiếc bàn nghiền chôn theo giờ có hiện tượng chặt nhỏ, chôn theo người chết một phần. Đáng lưu ý, giai đoạn này xuất hiện nhiều dụng cụ liên quan đến làm gốm như bàn đập hòn kê và những thỏi cuội nhỏ. Trong khi đó, đồ gốm chôn theo không được chau chuốt như vùng đồng bằng ven biển, mà chủ yếu là gốm nặn tay, dáng thô, trang trí không cầu kỳ. Đồ tùy táng bắt đầu đánh dấu thân phận thợ thủ công làm gốm, người có tài sản hoặc không, tục “chia của” cho người chết có vẻ chi li hơn trước, đồ gốm chôn theo mang tính biểu trưng, không cầu kỳ, trau chuốt như vùng đồng bằng ven biển, nơi có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với cư dân giao thương trên biển.

Tư liệu mộ táng của cư dân Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh ở vùng lòng hồ Nước Trong chưa thấy có sự tồn tại khác biệt giữa những mộ quá nhiều đồ tùy táng với mộ quá ít đồ tùy táng, giữa mộ đồ tùy táng toàn đồ đồng, đồ sắt với mộ không có đồ tùy táng nào trên từng một bình tuyến niên đại. Điều này gợi ý rằng, việc phân tầng xã hội chưa sâu sắc, nhất là giai đoạn Tiền Sa Huỳnh.

Về văn hóa, cư dân Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh ở vùng lòng hồ Nước Trong đề cao tính thẩm mỹ trong đời sống sinh hoạt. Các loại hình công cụ đá được chế tác và mài khá hoàn chỉnh, các sản phẩm đồ gốm có kiểu dáng độc đáo, mặt ngoài vừa tô màu (đỏ hoặc tô ánh chì) vừa trang trí hoa văn đẹp mắt mà ít thấy trong các di tích khảo cổ vùng duyên hải miền Trung. Qua thống kê và phân loại hoa văn trong bộ sưu tập mảnh gốm trong đợt khai quật ở vùng lòng hồ Nước Trong có nhiều đồ án hoa văn khác nhau thông qua kỹ thuật in chấm tròn hoặc khắc vạch thành các họa tiết như sóng nước, hình chữ S nằm ngang nối tiếp nhau…Kinh tế ổn định góp phần nâng cao đời sống tinh thần, cư dân Sa Huỳnh ở vùng lòng hồ Nước Trong đã biết chế tác đồ trang sức bằng đá như khuyên tai hai đầu thú, chuỗi hạt bằng đá, mã não để làm đẹp cho mình và cho người chết mang theo về thế giới bên kia.

Với các hiện tượng xếp đá thành từng cụm bên trên và bên dưới những ngôi mộ huyệt đất với các hiện vật tùy táng như nồi, vò, bình, bát bồng, rìu, cuốc… còn nguyên dạng tại chỗ thể hiện táng thức của cư dân Sa Huỳnh cổ ở vùng lòng hồ Nước Trong. Các hiện vật như bát bồng chân cao, rìu cuốc được tìm thấy trong các mộ táng có thể xem như những sản phẩm mang ý nghĩa thờ tự chứ không phải những vật dụng trong sinh hoạt thông thường.

Cư dân cổ văn hóa Sa Huỳnh ở vùng lòng hồ Nước Trong tin rằng có “thế giới bên kia” và thế giới ấy cũng như thế giới thực tại. Điều này thể hiện qua các hiện vật đồ tùy táng ở vùng lòng hồ Nước Trong, đây được xem như là sự “chia của” của người sống đối với người chết.

Những phát hiện tại các di tích ở vùng lòng hồ Nước Trong đã mở ra cho các nhà khoa học một hướng tiếp cận mới về táng thức, về đời sống sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân thời tiền sử xưa trên vùng đất này.

3. Kết luận

Những cứ liệu này góp phần khôi phục diện mạo văn hóa, lịch sử vùng đất, giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của cư dân cổ nơi đây. Người cổ ở vùng lòng hồ Nước Trong đã có một hoạt động kinh tế đa dạng không chỉ sản xuất nông nghiệp mà còn kết hợp kinh tế khai thác. Sự phát triển của các ngành nghề thủ công chưa thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp nhưng đã hỗ trợ đắc lực cho cư dân cổ ở nơi này trong quá trình lao động, sản xuất. Bên cạnh đó, xã hội thời kỳ này bước đầu manh nha sự phân hóa giàu nghèo cũng như nghi thức chôn cất phần nào thể hiện tín ngưỡng của người cổ ở vùng lòng hồ Nước Trong.


Tài liệu tham khảo

1. Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi (2022), Báo cáo chuyên đề chỉnh lý tư liệu đồ đá vùng lòng hồ Nước Trong, tư liệu Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi.

2. Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi (2022), Báo cáo chuyên đề chỉnh lý tư liệu mộ táng vùng lòng hồ Nước Trong, tư liệu Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi.

3. Đoàn Ngọc Khôi, Nguyễn Đăng Vũ, Nguyễn Tiến Hùng, Nguyễn Kim Sơn, Huỳnh Chí Cường, Trịnh Sinh, Võ Quý, Nguyễn Sơn Ka, Ngô Thế Phong (2012), “Ba mùa thăm dò, khai quật khảo cổ tại vùng thung lũng sông Tang khu vực hồ Nước Trong (Quảng Ngãi)”, trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2011, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.280-283.




[1] Nguyễn Khắc Sử, (2010), “Văn hóa Sa Huỳnh - Văn hóa Lung Leng, những mối liên hệ”, Tạp chí Khảo cổ học, số 5, tr.64-78.


[2] Nguyễn Khắc Sử, nnk (1999), “Dấu ấn Sa Huỳnh và Tiền Sa Huỳnh ở Tây Nguyên”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học 90 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh, Tư liệu Viện Khảo cổ học. tr.97-108.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...