Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2024

KHẢO VỀ ĐỊA DANH THÀNH LỒI VÀ CHÙA PHẬT LỒI (Nhà nghiên cứu Phan Anh Dũng)

Tóm tắt tiếng Việt
Bài viết tìm hiểu về các từ Lồi, Mlồi hay Ma Lôi dùng chỉ người Chăm và nước Chiêm Thành, và đi đến nhận định đó vốn là từ mưnwiss nghĩa là “người” trong tiếng Chăm, gốc từ Phạn ngữ mana. Từ đó giải thích một số tên địa danh như Thành Lồi, chùa Phật Lồi, làng Truồi.

Từ khóa tiếng Việt: Mlồi, Ma Lôi, Ma La, Thành Lồi, Phật Lồi, làng Truồi.

Tóm tắt tiếng Anh:

The article explores the words Loi, Mloi or Ma Loi used to designate the Cham people and the Chiem Thanh country, and comes to the judgment: they are originally from "mưnwiss" meaning "people" in Cham language, originating from Sanskrit "mana". From there, explain some place names such as Loi citadel, Phat Loi pagoda, Truoi village.

Từ khóa tiếng Anh: Mưnwiss, Hroi, Champa, Harivarman, Loi citadel, Phat Loi pagoda, Truoi village.

1. Dẫn nhập

Ở tỉnh Thừa Thiên Huế có hai địa danh liên quan đến người Chăm mà trong tên gọi có chữ Lồi:

- Thành Lồi nằm tại khu vực tiếp giáp giữa xã Thủy Xuân, Thủy Biều và phường Phường Đúc, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 4km.Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Ở xã Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy, tương truyền chúa Chiêm Thành có xây một tòa thành gọi là thành Phật Thệ. Nền cũ nay vẫn còn, tục gọi là thành Lồi”. Về niên đại, theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì thành Lồi không thua kém gì thành Trà Kiệu (Quảng Nam), thành được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ V – VI.

- Chùa Phật Lồi hay còn gọi là chùa Ưu Điềm ở làng Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa nằm trên gò cao khoảng 2m, hiện có 13 hiện vật điêu khắc Champa được thờ cúng tại chùa, tiêu biểu là một Yony hình vuông, cạnh 1,1m, vòi nhô ra 0,36m, dày 0,23m và một Linga hình khối, chia hai phần, phần dưới hình bát giác, phần trên hình trụ tròn, đặc biệt có một tấm tựa trên mặt khắc hình ảnh hai vị thần cưỡi bò Nandin, bên trái phía trên là hình ảnh vị thần ngồi trên tòa sen, phía dưới là hình ảnh người hầu tay cầm gậy, bên phải phía trên là vị thần cưỡi chim thần Garuđa.

2. Khảo luận về tên “Lồi”
2.1. Lai nguyên của “lồi”

Lồi là từ khá phổ thông để chỉ những cái thuộc về người Chăm (Champa, Chiêm Thành), không chỉ ở Thừa Thiên Huế như đã dẫn trên mà cả các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cũng dùng chữ Lồi để đặt tên cho địa danh, ví dụ ở Quy Nhơn, Bình Định cũng có một chùa gọi là chùa Phật Lồi.

Từ điển Việt Bồ La của A.D.Rhodes (1651) chú giải rất rõ ràng: MLồi, Nước MLồi là Vương quốc Champa, cũng là Trì Trì, Chiêm Thành. Xem bản chụp nguyên bản:

Phụ âm cổ ml- của tiếng Việt có hai dạng biến chuyển là l- và nh-; ví dụ mlầm => lầm/nhầm, mlỡ => lỡ/nhỡ , mlanh => lanh/nhanh; vậy MLồi ở Từ điển Việt Bồ La chuyển thành Lồi như hiện nay là hợp quy luật.

Tuy nhiên, do không hiểu sự chuyển biến ngữ âm này, nên nhiều người đã giải thích Lồi là “trồi lên”, xin trích một vài đoạn (xem link [8]) :

“Lồi có thể được hiểu là "trồi lên", "từ dưới đất lồi lên". Đây là từ người Việt dùng để gọi các đối tượng, di tích, di vật liên quan đến người Champa, khá phổ biến ở miền Trung. Chính vì vậy mới có thành Lồi (thành của người Champa) ở Huế, Quảng Bình; miếu Bà Lồi, chùa Phật Lồi, tượng bà Lồi, tượng Phật Lồi (tượng Champa được đào lên)... Khi khảo sát thực địa ở miền Trung mà gặp các địa danh có từ "Lồi" thì nhiều khả năng liên quan đến di tích, di vật Champa. Thành Lồi được xây dựng dựa trên các ngọn đồi cao bên bờ nam sông Hương, giữa những sải đồi cao bằng phẳng tự nhiên mọc lên một toà thành, có một thành gồ lên mà trong tiếng Việt hiện tượng như vậy gọi là "Lồi (lên)". Khi người Kinh từ Bắc di cư vào mảnh đất Thừa Thiên Huế sinh sống, ban đầu có thể họ chưa hiểu gì về Thành Lồi cũng như văn hóa Chăm nên khi nhìn thấy thành hiện lên như vậy, chưa biết được tên của nó và họ tạm gọi là "Lồi" để dễ phân biệt, dễ gọi. Cũng như chùa Phật Lồi ở Phong Điền, trên cơ một công trình đổ nát, trên một gò cao của người Chăm, theo người dân thì sau một đêm mưa bão sáng dậy người dân thấy trên gò cao đó tự nhiên có một bức tượng Phật hiện ra, tọa lạc trên trên đỉnh đồi, hiện tượng vậy người Việt thường gọi là lồi lên, gồ lên.”

2.2. Nguồn gốc và ý nghĩa của MLồi

Ở đây thử tìm hiểu Mlồi có nguồn gốc từ đâu (từ tiếng Chăm hay tiếng Việt), và ý nghĩa gốc của nó là gì ?

Theo hướng giải thích bằng tiếng Việt thì có thể mlồi tức là “nồi” vì từ “nhọ nồi” tức muội than ở trôn nồi ở một số địa phương nói là “nhọ nhồi”, phù hợp với dạng biến âm thứ hai của mlồi là “nhồi”, cũng phù hợp việc người Chăm thạo nghề gốm, làm nồi.

Còn hướng giải thích qua tiếng Chăm ban đầu người viết nghĩ rằng MLồi là phiên âm của H’roi là tên gọi của một nhóm Chăm định cư ở vùng núi hai tỉnh Bình Định, Phú Yên, tuy nhiên việc chuyển từ âm đầu h- sang m- thì chưa tìm thấy căn cứ ở các tài liệu nên tác giả đã loại khả năng này.

Để tiếp tục tìm hiểu sâu hơn hãy chú ý một số đặc điểm của Tiếng Chăm:

1- Tiếng Chăm vốn không có thanh điệu, cách đọc một số từ với thanh điệu khu biệt có lẽ mới có gần đây do ảnh hưởng từ tiếng Việt và tiếng Hán vì vậy mlồi nên viết không có dấu thanh, tức là mlôi.

2- Tiếng Chăm đa âm tiết nhưng trong các từ song tiết thì vai trò của âm tiết thứ nhất khá mờ nhạt, toàn bộ ý nghĩa của từ nằm ở âm thứ hai, âm đầu có thể bị đọc lướt phần nguyên âm chỉ còn phần phụ âm, hay thậm chí bỏ hẳn âm tiết đầu, như vậy khả năng từ nguyên gốc của mlôi có thể là ma-lôi hay mâ-lôi hay mư-lôi. Hiện tượng thay đổi khá tự do của âm tiết đầu cũng có dấu vết trong tiếng Việt cổ vì Từ điển Việt Bồ La ghi nhận có sự bất định (dùng lẫn) trong nhóm các phụ âm đầu kép bl, kl, tl.

3- Tiếng Chăm khi nói thì cácnguyên âm -a và -ư(-â) ở âm tiết đầu là hay bị nuốt nhất, bản thân chữ viết Chăm (gọi là Akhar Thrah) cũng có một đặc điểm “kỳ dị” là không viết rõ hai nguyên âm này ra, chỉ viết độc mộtchữ cái chính tức là phụ âm đầu mà thôi, riêng các chữ cái ghi phụ âm đầu m-, n-, ng-, nh- lại có hai dạng viết khác nhau để đọc ra -a hay ra -ư(-â), ví dụ ma ꨠ và mư ꨟlà hai phụ âm khác nhau trong chữ chăm[2].

Tổng hợp các thông tin trên chúng tôi cho rằng nếu M-Lồi là tiếng Chăm thì tiền âm tiết M- có khả năng đã bị nuốt nguyên âm, vì vậy đề xuất phục nguyên cho âm tiết đầu tiên là : ma hay mư, tức phục nguyên là ma-lôi hay mâ-lôi, còn âm tiết thứ hai “lôi” sẽ phân tích sau.

Đến đây phát hiện ra điều thú vị là chữ Hán Ma Lôi 麻雷 dùng ghi tên người Chăm từng được chính sử Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép trong một sự kiện từ đầu đời Trần:

Kỷ Sửu, [Kiến Trung] năm thứ 5[1229], (Tống Thiệu Định năm thứ 2, Nguyên Thái Tông Oa Khoát Đài năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 3, nhật thực.
Nguyễn Nộn ốm chết.
(…)
Đến khi ốm nặng, vua sai nội nhân tới hỏi thăm, Nộn cố gượng ăn cơm, phi ngựa để tỏ ra còn khoẻ mạnh, không bao lâu thì chết. Người dưới quyền là Phan Ma Lôi ngầm phóng ngựa chạy trốn, không biết là đi đâu.

Ma Lôi là người Chiêm Thành, buôn bán ở Ai Lao, được Nộn nhận làm nô, có tài chủ động đánh thắng, dùng binh như thần. Sau khi Nộn chết, thiên hạ lại quy về một mối. (Bản kỷ toàn thư, Kỷ nhà Trần, Thánh Tông hoàng đế, trang 5b)

Trong Tô Đài Trung nghĩa Đại Vương Tụng (tài liệu tham khảo [7]) là một bản diễn ca chữ Nôm về Tô Hiến Thành, đại thần thời vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông, cũng thấy nhắc đến tên một tướng Chiêm Thành là Ma Lôi:
Chúa Chiêm ba tháng khởi binh
Ma Lôi dẫn đến gần quanh Ái thành

Trong Ngọc phả Tô Hiến Thành (tài liệu tham khảo [6]) thì có chép rõ hơn rằng Ma Lôi là đại tướng của vua Chiêm, sau bị Tô Hiến Thành đánh bại và giết chết.

Các thông tin trên cho thấy tên Ma Lôi ghi bằng chữ Hán hay MLồi ghi bằng chữ Quốc ngữ dùng chỉ người Chăm có lẽ đã được sử dụng từ rất lâu rồi, có thể ngay từ thời Đinh, Tiền Lê hay Lý đã quen gọi người Chăm như thế.

Bây giờ tìm hiểu xem từ Ma Lôi trong tiếng Chăm có ý nghĩa gì ? Tra từ điển Chăm Việt (tài liệu [1]) có một số từ gần âm như Maleng nghĩa là sáng sủa, đẹp hay Mala nghĩa là chuỗi, vòng nguyệt quế, lại có một làng Chăm có tên Mlon… tuy nhiên xem xét ý nghĩa thì không có từ nào trong số đó có tính đại biểu cao để sử dụng ở tầm một tộc danh cho người Chăm cả.

Đến đây người viết nghĩ đến ý kiến của GS Trần Trí Dõi (tài liệu [5]) cho Cao Lỗ 皐魯 là một cách ghi phiên âm của Cao Nỗ 高弩- ý là kẻ tài giỏi chế ra nỏ thần, tức có sự lẫn lộn l- và n- khi phiên âm. Việc dùng chữ Hán thanh mẫu lai (來, phụ âm đầu l-) phiên các từ có phụ âm đầu n- không phải là quá hiếm, ngay trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã có đoạn ghi chép sau: “Mậu Tý, Thiên Phúc năm thứ 9 (988, Tống Đoan Củng năm thứ 1). Vua nước Chiêm Thành là Băng Vương La Duệ ở Phật thành tự đặt hiệu là Câu Thi Lị Ha Thân Bài Ma La...” (Bản kỷ toàn thư, Kỷ nhà Lê, trang 18b-19a), bản dịch của Viện Khoa học Xã hội chú rằng vị vua Chiêm Thành đó là Sri Harivarman II (ở ngôi 988-999). Đối chiếu thì Ha Thân Bài Ma La là phiên âm của Harivarman(mấy chữ Hán khoanh đỏ ở hình dưới).

Như vậy Ma La là phiên âm chữ cuối “man” ở tôn hiệu Harivarman.

Theo ý kiến của một bạn người Chăm của tác giả là Thạch Trung Tuệ Nguyên, thì Harivarman là một từ tiếng Phạn (Sankrit) trong đó âm cuối man vốn tựu ý Mạt-Na (cái tự ngã) của Phật giáo, các từ như Manas, Mana, Man cũng đều mang nghĩa đó, trong đó Man chính là từ chỉ Người, còn varman hay varma, hay varmadeva chỉ lãnh chúa, vua. Trong tôn hiệu Harivarman thì “man” có thể được đọc dạng đầy đủ cả hai âm tiết là ma-na nên sinh ra cách phiên âm ma-la.

Thành tố đuôi -varman phiên ra chữ Hán là Bài Ma La có lẽ rất phổ biến trong các tên Chăm, chẳng hạn tra trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng thấy có tên Ma La: “Kỷ Tỵ, [Đoan Khánh] năm thứ 5 [1509]… Đến sau bắt được bọn người Chiêm Ma Mạc phiêu giạt ngoài biển, giam ở thừa chế, họ lại cung khai rằng năm trước, Trà Phúc đã trở về nước sai con là Ma Lasang cầu viện nhà Minh, lại đóng nhiều thuyền, chứa nhiều lương…” (Bản kỷ thực lục, Uy Mục đế, trang 48a).

Tóm lại có chứng cứ rõ ràng của việc n- khi phiên ra chữ Hán có thể bị đổi thành l- . Mà nếu đã có sự phiên âm lẫn lộn l- và n- như vậy thì thay vì tìm kiếm từ ma-lôi hay mâ-lôi trong tiếng Chăm chúng ta thử tìm kiếm ma-nôi hay mâ-nui:

Kết quả người viết đã tìm thấy trong Từ điển Chăm Việt do Bùi Khánh Thế chủ biên có từ ꨟꨗꨶꨪꩋ - mưnwiss nghĩa là“người”, âm đọc gần với mâ-nui mà chúng ta muốn tìm kiếm. Theo ý kiến của Thạch Trung Tuệ Nguyên, thì từ này là một từ gốc tiếng Phạn, cũng chính là man hay mana đã đề cập trong tôn hiệu Harivarman ở trên, từ này người Chăm đọc như “Ma núi”. Trong tiếng Chăm còn một từ khác chỉ người là Urang ꨂꨣꩃ, đây mới đúng từ gốc Nam Đảo hoặc Nam Á, gần với từ lang, chàng của tiếng Việt vốn cũng dùng chỉ người (đàn ông).

Việc dùng từ chỉ người trong ngôn ngữ một dân tộc làm tộc danh cho chính dân tộc đó là rất thông thường, điều này giới nghiên cứu ngôn ngữ đã quá quen thuộc. Như tên gọi người Mon trong ngữ hệ Mon-Khmer cũng chính là từ chỉ người trong tiếng Mon, hay người Mường thường tự xưng là Con Mol, Mol tiếng Mường cũng là người, cũng có gốc Mon-Khmer mà qua tiếng Việt đã biến âm ra Mọi. Cả cái từ man 蠻 mà người Trung Quốc dùng để gọi nhóm Nam man trong số “tứ di” (bốn nhóm mọi rợ) cũng gốc từ mon, man, mol … mà nhiều nhóm tộc phía Nam Trung Quốc dùng để chỉ người.

Từ chỉ người của một dân tộc nhiều khi cũng trở thành tên nước hay vùng đất mà dân tộc đó chiếm hữu, như tên Mường Bi là vùng đất trung tâm của người Mường, hay tên nước Văn Lang của người Việt cũng có chữ Lang vốn chỉ người, theo phục nguyên của tác giả bài viết này thì cả chữ Văn vốn cũng chỉ người, từ nguyên của nó vốn là man, mon, mol trong ngữ hệ Nam Á mà đại biểu là nhóm Mon-Khmer[3].

Có thể tham khảo thêm sách Nguồn gốc người Việt- người Mường của tác giả Tạ Đức về việc dùng từ chỉ người trong ngôn ngữ của một dân tộc làm tộc danh hay tên nước của chính dân tộc đó.
Riêng ở Thừa Thiên Huế có thể mở rộng xem xét thêm trường hợp địa danh Truồi, nhà báo Minh Tự ở báo Tuổi Trẻ có bài viết về địa danh này:

Bài báo đó đưa ra các kiến giải về hai địa danh Nong và Truồi ở Huế, riêng về địa danh Truồi tác giả bài báo dẫn ý kiến của các nhà nghiên cứu Trần Văn Sáng, Nguyễn Hữu Thông cho rằng từ này có gốc Bru-Vân Kiều nghĩa là con gà như sau:

...Theo ông Sáng, trong tiếng Bru-Vân Kiều có từ "Ntruôi" (đọc là Ầng Truôi) nghĩa là "con gà", tiếng Tà Ôi "Atruôi" cũng là "con gà". Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông, một người nghiên cứu rất nghiêm cẩn của Huế, cho biết ông cũng nghiêng về giả thuyết này...

Xét về nguyên tắc viết chữ Nôm thì chữ “lôi” có thể dùng ký âm cho từ mà tiếng Việt đọc là mlôi, blôi, tlôi, klôi .v.v. có thể mlồi từng có một biến âm là tlồi sau đó chuyển thành Truồi (do nhóm phụ âm đầu kép ml-, bl-, tl-, kl- có thể dùng lẫn như đã nêu ở phần trên). Chứng cứ xác đáng nhất về việc Truồi có thể là Lồi hay Mlồi nằm chính trong chữ Nôm Truồi 㑍, vì nó có bộ phận chỉ nghĩa là chữ “nhân 人” tức là người, chứ không dùng bộ điểu 鳥 hay truy 隹 để chỉ con gà như ý kiến các tác giả trên.

3. Kết luận
Từ các phân tích trên tác giả nhận định các tên Lồi, Mlồi hay Ma Lôi dùng chỉ người Chăm và nước Chiêm Thành xuất xứ từ chữ ꨟꨗꨶꨪꩋ mưnwiss, mà người Chăm đọc gần như ma-núi, nghĩa là “người” trong tiếng Chăm, và từ này vốn gốc từ tiếng Phạn mana.

Tài liệu tham khảo
1- Từ điển Chăm-Việt. Bùi Khánh Thế chủ biên, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995.
2- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. NXB Khoa học Xã hội - Hà Nội, 1993.
3- Từ điển Việt Bồ La. A.D. Rhodes. Bản dịch của nhóm Thanh Lãng. NXB Khoa học Xã hội. 1991.
4- Nguồn gốc người Việt- người Mường. Tạ Đức, NXB Tri thức, 2013.
5- Tên Hán Việt của tướng Cao Lỗ 皐 魯 thời Âu Lạc – An Dương Vương: từ góc nhìn ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Trần Trí Dõi. Kỷ yếu hội thảo “Nghiên cứu giảng dạy ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam – Trung Quốc” lần thứ IV (Hà Nội 14 tháng 12 năm 2013). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2014, tr 87 - 95 .ISBN:978604621229-4).
6- Ngọc phả Tô Hiến Thành. Tài liệu chữ Hán của tác giả sưu tầm ở đền Thánh Nguyễn (xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình)
7- Tô Đài Trung nghĩa Đại Vương Tụng. Tài liệu chữ Nôm của tác giả sưu tầm ở đền Thánh Nguyễn (xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).
Link các trao đổi dẫn trên mạng :https://www.facebook.com/groups/821608398013602/permalink/1784987201675712/
[1] Nhà nghiên cứu ở Huế
[2]Trong hệ thống phiên âm của Từ điển Chăm Việt [1], phân biệt“ma” hay “mư” thực ra chỉ là quy ước ký âm, nguyên âm của“mư” có lẽ gần ă hay â hơn là ư.
[3] Xin tham khảo bài trên Văn hóa Nghệ An : http://vanhoanghean.com.vn/component/k2/111-goc-nhin-van-hoa-2/13730-khao-sat-ten-goi-van-lang-tren-co-so-ngu-am-lich-su

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...