Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2024

“THẦY” LÀ ÂM HÁN VIỆT CỔ CỦA CHỮ 師 (SƯ) - Văn Bờm tiên sinh

師 (师) Thầy [tʻɤi2] > Thày [tʻai2] >> Sư [ʂɯ1] (Sơ Di thiết). “Hán ngữ đại từ điển” (1989a:715-716) giải thích:
[師 10. Chỉ người tinh chuyên về một kỹ nghệ nào đó. 12. Thầy giáo, tiên sinh. “Luận ngữ - Vi chính”: “Ôn cũ mà biết mới, có thể làm thầy vậy.” Hàn Dũ đời Đường trong bài “Sư thuyết” nói: “Bậc thầy là người có thể truyền đạo, dạy nghề, giải đáp nghi hoặc.” 16. Cách gọi tôn xưng đối với tăng, ni, đạo sĩ. 19. Tên thú vật, là chữ cổ của chữ “獅”.]

Còn “Từ điển tiếng Việt” (2003: 929) giải nghĩa: “Thầy: 1. Người đàn ông dạy học hoặc nói chung người dạy học, trong quan hệ với học sinh (có thể dùng để xưng gọi). Thầy chủ nhiệm. Tình thầy trò. 2. Người có trình độ hướng dẫn, dạy bảo (hàm ý coi trọng). Bậc thầy.” Qua sự giải thích của đôi bên, chúng ta không khó có thể nhận ra từ “thầy” chính là 師. Hiện nay, người Việt Nam thường hay nói: thầy giáo (教師; 老師), thầy chùa (師僧; 和尚), sư thầy (師僧; 和尚), thầy lang (醫師; 大夫), thầy tổ (祖師), thày võ (武師), thày bói (卜師), thày mo (巫師) v.v...

Những người chủ trương “thầy” là âm cổ Hán Việt của 師 gồm có Nguyễn Tài Cẩn, Lê Đình Khẩn, An Chi v.v... Nguyễn Tài Cẩn (1995:179) nói: “Cũng theo A.S.Starostin, từ sư vốn có vần *ij thời thượng cổ, đến đời Hán *ij chuyển thành *əj: cách đọc cổ Hán Việt thầy chính là bắt nguồn từ giai đoạn có əj này, còn cách đọc Hán Việt sư thì bắt nguồn từ một giai đoạn chậm hơn.” Nguyễn Tài Cẩn dẫn quan điểm của A.S.Starostin, cho rằng chữ 師 ở thời Hán, vận mẫu của nó từ *ij biến thành *əj, khá gần với quan điểm của bài viết này cho rằng chữ vận Chi 脂 khi truyền vào Việt Nam từ *-iɐi/*-iəi biến thành -ây. “Đại từ điển chữ Nôm” (2005:1235) có chép chữ Nôm “sơi” là (口trái師phải), có nghĩa là “ăn”, có thể chứng minh điều này (phần thanh bàng 師 đọc với vần -ơi).

An Chi (2018b: 235-236) thì cho rằng: “Thầy bắt nguồn ở nguyên từ ghi bằng chữ 師 mà âm Hán Việt thông dụng hiện đại là sư, còn âm Hán Việt chính thống hiện đại là si, vì thiết âm của nó là “sơ chi thiết” hoặc “sương chi thiết”. Về phụ âm đầu thì thầy ~ sư cũng giống như – (áo) the ~ sa 紗( =the); -(thông) thoáng ~ sướng 暢 ( = thông suốt); -(lỗ) thủng ~ súng䆔 ( = chui, lọt, xuyên qua…); -then (chốt) ~soan 閂, có người đọc là “thuyên” ( = then cửa); -(cơm) thiu = sưu 餿 ( =thiu); v.v.. 

Về vần thì vấn đề phức tạp hơn vì thầy không trực tiếp liên quan đến âm Hán Việt thông dụng hiện đại của chữ 師 (là sư), mà chỉ liên quan đến âm chính thống của chữ này (là si, như đã nói), vốn là một chữ thuộc vận bộ chi 脂, nghĩa là một tiếng thuộc vần -i, mà tiền thân lại là -ây, như vẫn còn thấy được trong nhiều trường hợp: -(chóng) chầy ~ trì 遲(=chậm chạp); -(riêng) tây ~ ti 私(= riêng); -thây (ma) ~ (tử) thi屍; -(cái) rây ~ si 篩 (=cái rây); v.vv Trong những chữ trên đây và trong lối nói thông dụng của tiếng Việt, có những chữ đã tách khỏi vận bộ chi 脂 mà thay i bằng ư, như si 師 (=thầy) thành sư; ti 私(riêng) thành tư; si 篩 (=rây) thành sư; si 獅 (=sư tử) thành sư.” An Chi cuối cùng đưa ra diễn biến của chữ 師 là: thầy > si > sư.

Thế nhưng, An Chi chỉ đứng từ hiện tượng bề ngoài của ngữ âm để tìm ra quy luật đối ứng. Có điều, các học giả như Nguyễn Tài Cẩn, An Chi dường như đều bỏ qua phụ âm đầu của chữ 師 vì sao lại đọc thành âm th-, sang đến âm Hán Việt vì sao lại đọc thành s-, cái lý trong đó thế nào, họ chưa từng phân tích và thảo luận. Hơn nữa, trong cách nói của An Chi, chúng ta rất khó để phân biệt âm đọc tiếng Việt của những chữ này mà ông ấy nói rốt cuộc là âm cổ Hán Việt hay là âm Hán Việt Việt hóa, bởi vì ông ấy chỉ nêu ra đối ứng về mặt hiện tượng thôi. Cũng rất may là trong lời thuật của mình, An Chi cũng nói một câu “師 thuộc chữ vận Chi 脂, tức vận -i, tiền thân của nó là -ây”, ít nhất qua đây có thể xác định được trước sau về mặt thời gian, như vậy bài viết này có thể cộng điểm cho ông ấy. Nhưng trong các ví dụ khác mà ông ấy nói thì không chắc chắn có tình huống tương tự như vậy, bởi vì chúng ta cần có luận thuật nghiêm cẩn hơn, chứ không phải là để độc giả tự phán đoán.

Ngoài ra, trong bài “Vui với chữ nghĩa: Sư và Thầy” của Kỳ Thanh (xem link ở dưới phần comments) có trích dẫn lời của Ts. Nguyễn Hữu Phước như sau: “Thầy là người dạy học, là tiếng thuần Việt của chữ SƯ. Chữ Thày (ban đầu không có dấu ^), gốc HV đã được Việt hóa. Thày do chữ thày lì 提吏 (tiếng Quảng Đông) = người thư ký làm việc cho các công sở. HV là đề lại 提吏 (vị thư ký của quan phủ huyện) hay còn dùng chữ thư lại 書吏 (viên chức cấp dưới lo việc giấy tờ tại công sở). Dân ta dùng chữ thầy (thêm dấu ^) để chỉ những người làm việc văn phòng như: thầy ký, thầy thông (thông ngôn); thầy phán; sau đó chữ thầy nầy được dùng rộng ra như các chữ thầy cai, thầy đội, thầy cảnh sát…” Theo đó, ông Nguyễn Hữu Phước cho rằng chữ “thày” là tiếng thuần Việt của chữ “sư”, bắt nguồn từ âm “thày lì” của tiếng Quảng Đông của từ 提吏 (đề lại), và sau đó thì dân ta mới thêm dấu ^ mà đọc thành “thầy”. Nội trong đoạn này đã có ba vấn đề, thậm chí là mâu thuẫn nhau:

Thứ nhất, câu [“thầy” là tiếng thuần Việt của chữ “sư”] nghĩa là gì? Là do “sư” biến thành “thầy” hay “sư” là âm Hán/âm Hán Việt, còn “thầy” là từ thuần Việt đối ứng với “sư”, không liên quan gì đến “sư”, giống như quan hệ giữa “cẩu” và “chó”? Nếu câu này được xác định như tác giả nói, thì sẽ mâu thuẫn với đoạn sau.

Thứ hai, nếu “thày” mà xuất phát từ tiếng Quảng Đông của từ 提吏, thì chứng tỏ âm “thày” xuất hiện rất muộn – thời kỳ nhà Nguyễn (không liên quan gì đến “sư” nữa) và có mặt ở miền Nam trước, cũng đồng nghĩa với việc âm “thày” và cả âm “thầy” ở miền Bắc trước đó là không tồn tại. Điều này hoàn toàn phi lý, vì trong các văn bản cổ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ ở miền Bắc đã tồn tại âm “thầy” và “thày” rất lâu rồi, và hoàn toàn không dính dáng gì đến âm đọc miền Nam. Bản thân bài viết “Vui với chữ nghĩa: Sư và Thầy”, phần cuối bài, tác giả cũng nói từ “thầy” trong tiếng Việt còn có nghĩa là “cha” trong nhiều gia đình ngoài Bắc, đồng thời cũng trích dẫn cả ca dao nữa. 

Vậy nếu nói “thày” có trước “thầy” rồi từ miền Nam truyền ra ngoài Bắc, truyền cả vào ca dao, tục ngữ v.v… thì có lý không? Những danh từ như “thầy tổ, thầy bói, thầy lang, thầy trò, thầy tớ, thầy thợ, thầy chùa v.v…” nếu như cũng phải chờ từ miền Nam truyền ra ngoài Bắc (khi nào?) thì trước đó người miền Bắc gọi là gì trong khi nó đã tồn tại những nghề nghiệp, nhân vật đó từ cả ngàn năm trước? Hay là cả ngàn năm trước, người Quảng Đông đã đến miền Nam rồi hình thành nên âm “thày” từ “thày lì”, rồi bất chấp cả biên giới các nước Lâm Ấp, Chiêm Thành, Chăm Pa, bất chấp cả chiến tranh Trịnh Nguyễn v.v… mà truyền ra ngoài Bắc?

Thứ ba, vấn đề “thày” (có trước) sau thêm ^ biến thành “thầy” (có sau), thực ra là không đúng quy luật diễn biến của ngôn ngữ, xin xem thêm phần biện luận cụ thể dưới đây.

Diễn biến vận mẫu của chữ 師 về cơ bản có thể chấp nhận lời nói của hai học giả Nguyễn Tài Cẩn và An Chi ở trên, ở đây bài viết này chỉ bổ sung một chút: Diễn biến của chữ vận Chi脂 là: *-iəi/*-iɐi > -ơi > -ây > - ay (xem thêm tổng luận về nhiếp Chỉ). Chữ vận Chi sau khi truyền vào Việt Nam, vì chịu ảnh hưởng của -ây biến thành -ay trong tiếng Việt (tức là phải theo thứ tự diễn biến từ cao – sang ngang – xuống thấp là -ơi > -ây > -ay như hình ┐, chứ không thể nào lại từ -ơi rơi bịch xuống -ay, rồi lại cao vút lên thành -ây ngang với -ơi như hình chữ V được), cho nên âm “thầy” của chữ 師 cũng theo đó mà đọc thành “thày”, thầy > thày là diễn biến trong nội bộ tiếng Việt. Một số ví dụ mà bài viết này liệt kê ở trên, tất cả đều có thể đọc là “thầy” hoặc “thày”. Diễn biến này các học giả đều chưa từng thảo luận đến, cho nên không biết lai lịch của hai âm -ây và -ay. Các ví dụ thường thấy như: 眉Mầy > Mày >> Mi; 斐bẩy > bảy >> phỉ; 帶 Dấy (binh) > Dãy (núi) v.v...

Còn về mặt thanh mẫu, các học giả dường như đều chưa từng nói đến nguồn gốc của th- và s-. Bài viết này cho rằng đây là do diễn biến của phụ âm kép *st‘r- mà ra. Đọc là “thầy” là vì có t‘-, đọc thành si > sư là do có s- phân hóa mà ra. Hai thanh mẫu khác nhau này truyền nhập vào tiếng Việt, chứng tỏ chúng được truyền vào hai thời đại khác nhau, chứ không phải là ở trong tiếng Việt thì do th- biến thành s- hay là do s- biến thành th-. Sự phân hóa thanh mẫu kép này có thể thấy ở các trường hợp như: 事 Thờ >> Sự; 尺Thước >> Xích v.v... Cũng có không ít những trường hợp bảo lưu cả hai thanh mẫu này trong hệ thống âm Hán Việt như: 蔡 Thái/Sái; 釵 Thoa/Xoa v.v...

Nói tóm lại, kết luận của bài viết này là âm “thầy” là âm cổ Hán Việt trung kỳ của chữ 師, còn “thày” là âm cổ Hán Việt Việt hóa của “thầy”.
Văn Bờm tiên sinh (20.11.2024)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...