Thứ Ba, 19 tháng 11, 2024

ĐỊA DANH “KỲ THỌ TỤC GỌI CÂY KÈ” TRONG GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ 1820 (NNC Cao Văn Nghiệp)

Trong sách Gia Định thành thông chí (quyển 2: Sơn Xuyên chí, mục: Vĩnh Thanh trấn) của Trịnh Hoài Đức, Phạm Hoàng Quân dịch, chú và khảo chứng (Nxb Tổng Hợp Tp. HCM, 2019) có đoạn sau đây:

“Vĩnh Tế Hà [sông Vĩnh Tế], ở phía tây đồn Châu Đốc. Năm Kỷ Mão, niên hiệu Gia Long thứ 18 [1819], đo thẳng từ hào sau phía phải đồn Châu Đốc sang hướng tây, qua bưng bùng Ca Âm Náo, đến Kỳ Thọ (tục gọi Cây Kè) [ngả Cây Cáy Đôi]...” (tr.106).

Về địa danh đang xét, Phạm Hoàng Quân chú thích như sau:
“Kỳ Thọ (祇樹), Cây Kè (核棋), chỉ khu vực ngả Cây Kè Đôi (gần Giồng Kè), bản đồ VNCH 1964 ghi là “ngả Cây Cáy Đôi” [có lẽ là tên gọi sai Kè ra Cáy], ngả Cây Kè Đôi/ Cây Cáy Đôi trên địa bàn xã Tân Khánh Hòa, ấp Giồng Kè thuộc xã Phú Lợi, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang. Hiệu khám, Kỳ Thọ, bản Aubaret 1863 phiên âm là “Khu-tu”, bản dịch NT 1972 phiên âm “Kỳ-thọ”, bản dịch VSH 1999 phiên âm “Chi Thụ” [chữ Kỳ, bản VSH chép “祗” (Chi)], bản dịch LVD 2006 phiên âm là “Kỳ Thọ”; Cây Kè, bản Aubaret 1863 phiên âm là “Cai-cai”, bản dịch NT 1972 phiên âm là “Cây-cầy”, bản dịch VSH 1999 phiên âm là “Cây Kè”, bản dịch LVD 2006 phiên âm là “Cây Kè”. Khu Tu/ Kỳ Thọ tức cây kè là địa danh mà ông Nguyễn Văn Hầu thắc mắc khi tìm hiểu để xác định đoạn kinh Vĩnh Tế mô tả trong sử liệu (trong Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phái miền Hậu Giang, Hương Sen, Sai Gòn, 1972).” (tr.240)

(Các chữ viết tắt: VNCH: Việt Nam Cộng Hòa. NT 1972: Nguyễn Tạo 1972, VSH 1999: Viện Sử Học 1999, LVD 2006: Lý Việt Dũng 2006)

Vài nhận xét:

1/. Mặc dù bản dịch Phạm Hoàng Quân 2019 có rất nhiều chú thích rất có giá trị[1], nhưng xem ra bản dịch Viện Sử Học 1999 vẫn được nhiều nhà nghiên cứu trích dẫn, ví dụ như 2 đoạn sau đây trong tập “Hội thảo Khoa học Quốc gia – 200 năm kênh Vĩnh Tế - Giá trị Lịch Sử và Tầm nhìn tương lai” (Châu Đốc, 24/11/2024):

- “Tầm quan trọng của sông Vĩnh Tế được khẳng định trong nhiều công trình khảo cứu của một số tác giả thời xưa và nay. Năm 1820 ngay từ khi Sông Vĩnh Tế mới khởi công trong một thời gian ngắn, Trịnh Hoài Đức (1765-1825), một danh sĩ Nam Hà đã viết Gia Định thành thông chí trong đó có đoạn: “Sông Vĩnh Tế ở phía Tây đồn Châu Đốc, năm Kỷ Mão Gia Long thứ 18 (1819), thẳng đo từ hào sau phía hữu đồn Châu Đốc, sang phía Tây, qua Náo Khẩu Ca Âm đến Chí Thụ (tục danh là Cây Kè)...”[2] (tr.12)

- “Về sông Vĩnh Tế, Trịnh Hoài Đức chép trong Gia Định thành thông chí như sau: Sông Vĩnh Tế ở phía tây đồn Châu Đốc, năm Kỷ Mão, Gia Long thứ 18 (1819), thẳng đo từ hào sau phía hữu đồn Châu Đốc sang phía Tây, qua Náo Khẩu Ca Âm đến Chi Thụ (tục danh là Cây Kè)...”[3] (tr.26)

2/. Kỳ Thọ tục danh Cây Kè (祇樹俗名核棋): Chữ 祇” (Kỳ), bản chữ Hán in kèm với bản dịch VSH 1999 chép là “祗” (Chi). “Kỳ Thọ” (祇樹) ở đây tên Hán hóa “Cây Kè” (核棋); còn “Kỳ Thọ” (祇樹) trong “Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên” (祇樹給孤獨園) là cây của Kỳ Đà thái tử (祇陀太子). Trong Gia Định thành thông chí (quyển 3: Cương vực chí, mục: Hà Tiên trấn) có địa danh hành chính “Minh Bột Kỳ Thọ phố (cựu danh Cây Kè)” (明渤奇樹舊名核棋), tức “Kỳ Thọ” trong địa danh hành chính này được viết chữ Hán là “奇樹”! Cây Kè (核棋), Nguyễn Tạo 1972 phiên âm sai thành “Cây-cầy”. Liên quan đến từ “Kè” (棋), trong Gia Định thành thông chí (quyển 2) còn có địa danh “Ba Kè” (波棋)[4] và địa danh “Kè Đôi” (棋堆). Theo địa bạ thôn Tân Thuận Đông, tổng Định Phước, huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang, lập năm Minh Mạng thứ 17 [1836], thôn này ở 4 xứ, trong đó có xứ “丐棋” (Cái Kè) (Nguyễn Đình Đầu 1995 phiên âm sai thành “Cái Kỳ”.
---------------
[1] Ví dụ như trong quyển 3 (Sơn xuyên chí), lời dịch và tiểu chú (đặt trong dấu ngoặt đứng) chỉ có 70 trang (từ tr.55 đến tr.124), còn chú thích, 973 tiểu mục, chiếm đến 158 trang (từ tr.125 đến tr.158).

[2] PGS. TS Trần Đức Cường (Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam), Kênh Vĩnh Tế - Với tầm nhìn chiến lược của các vị vua đầu triều Nguyễn. (Trong bài tham luận này, “Chi Thụ” bị đánh máy sai thành “Chí Thụ”.)

[4] PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ (Chủ tịch HĐKH Viện Sử học), Khai đào kênh Vĩnh Tế - Tầm nhìn chiến lược của vua Gia Long trong công tác quốc phòng, an ninh và bảo hộ Chân Lạp.

[5] Địa danh này trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí 1806 (quyển 2) của Lê Quang Định chép là “𠀧棋” (Ba Kè).

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...