Thứ Năm, 21 tháng 11, 2024

GIAO THƯƠNG XUÔI - NGƯỢC Ở QUẢNG NGÃI VÀ NHỮNG BÀI HỌC (Nhà nghiên cứu Cao Chư)


Tóm tắt: Giao thương xuôi - ngược hay buôn bán giữa đồng bào Kinh ở miền xuôi và đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi diễn ra từ rất lâu đời trong lịch sử, nhưng nó có lộ trình cụ thể thế nào, nó giữ vai trò gì trong cuộc sinh tồn của các dân tộc, phái sinh hệ quả gì và bài học gì cho ngày nay là những điều cần làm sáng tỏ.

Từ khóa: Giao thương, buôn bán, xuôi ngược, miền núi Quảng Ngãi.

Đặt vấn đề

Trong sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn dưới triều vua Tự Đức, tập VIII viết về tỉnh Quảng Ngãi, ở mục “hình thế” có chép: “Bốn nguồn đầu núi là nơi giao dịch của người Kinh, người Thượng”, ở mục “phong tục” có chép: “Ngoài những người bày hàng buôn bán ở chợ phố, còn có bốn hạng đi buôn: một là buôn núi, hai là buôn gánh, ba là buôn thuyền, bốn là buôn biển”. Buôn núi (nguyên văn chữ Hán là Man thương) được xếp ở đầu của bốn loại buôn. Các tỉnh duyên hải miền Trung có địa hình tương tự nhau: dọc phía đông là đồng bằng ven biển nơi người Kinh sống tập trung, dọc phía tây là rừng núi trùng điệp của dãy Trường Sơn nơi đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời. Buôn núi là buôn từ vùng đồng bằng người Kinh ở phía đông lên vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi phía tây, tỉnh nào cũng có. Chí ít là ở ba tỉnh Nam, Ngãi, Định đều có câu ca dao:

Ai về nhắn với nậu nguồn

Mít non gửi xuống cá chuồn gửi lên

Năm 2022, khi nghiên cứu làm quyển sách Ba Tơ - đất nước, con người, (Nxb. Khoa học xã hội, 2022), tôi tình cờ phát hiện ra rằng, trong sách họa đồ Quảng Thuận đạo sử tập của Nguyễn Huy Quýnh (1734-1785) có một chi tiết rất thú vị về buôn bán giữa người Kinh và người Thượng. Bản họa đồ vẽ địa vực Quảng Ngãi ở địa bàn phía nam huyện Ba Tơ, cũng là phía tây của các xã Phổ Cường, Phổ Khánh và tây bắc cửa Sa Huỳnh (thuộc thị xã Đức Phổ ngày nay), có hình núi trùng trùng, chung quanh kèm dòng ghi chú: 寨 累 属 蠻 与 人相 會 芙 期 Trại Lụy thuộc man dữ nhân tương hội phù kỳ, nghĩa là Trại Lụy nơi người Thượng và người Kinh định kỳ gặp nhau. Trại Lụy xưa là một làng, một thôn, nay là một xóm thuộc thôn Kon Riêng xã Ba Trang. Vùng các xã Ba Trang, Ba Khâm đối diện với vùng đồng bằng ven biển thị xã Đức Phổ, nơi có đồng muối Sa Huỳnh và nguồn hải sản dồi dào. Từ xuôi có các đường kết nối với miền núi qua đèo Ải, đèo Sa Lung (Dốc Dẽ), dốc Mỏ Cày, dốc Trâu Ỉa (thôn Thanh Lâm xã Phổ Ninh nối với xã Ba Khâm). Tư liệu điền dã cho thấy, từ xưa đồng bào Hrê cũng từng gùi cõng các sản vật như song mây, chuối, thơm xuống bán ở đồng bằng và mua về các nhu yếu phẩm như muối, mắm, dao rựa. Bất chấp những lúc xung đột với triều đình phong kiến, giao thương xuôi ngược vẫn diễn ra liên tục. Bản họa đồ Quảng Thuận đạo sử tập dù rất sơ giản, vẫn dành dòng chú về chỗ gặp nhau định kỳ Kinh - Thượng, hẳn vì trên thực tế nó đã có nhiều dấu ấn và vì người viết sách cũng rất coi trọng thực tế ấy. Và như vậy sự giao lưu đã thành lệ từ sớm hơn rất xa nữa, nói lên quan hệ khá chặt chẽ giữa người Kinh đồng bằng và người Hrê ở vùng núi Ba Tơ về phương diện kinh tế.

Như vậy thì trước đó, tức trước thế kỷ XVIII, sự buôn bán giữa người Kinh và người Thượng đã rất thịnh, để lại nhiều dấu ấn, không phải do các nhà làm sách kể ra cốt cho đủ “lệ bộ”. Trước nữa, có thể kể ở thế kỷ XVI, trước thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào đây trấn nhậm (nửa cuối thế kỷ XVI), thời Trấn thủ Bùi Tá Hán làm Thừa tuyên sứ Quảng Nam, thì vùng ven núi huyện Nghĩa Giang (nay là huyện Nghĩa Hành) bên cạnh “Tam Bảo” (ba đồn) có chợ phiên Tam Bảo cũng là nơi người Thượng người Kinh định kỳ giao dịch.

Tuy vậy cho đến nay, chưa thấy có một sự đúc kết toàn diện về nghề buôn bán xuôi - ngược ở Quảng Ngãi, giúp nhận thức vai trò của nó trong đời sống đồng bào các dân tộc cũng như trong lịch sử.

1. Lộ trình giao thương xuôi - ngược

1.1. Bốn nguồn đầu núi và vùng châu thổ tương ứng ở miền xuôi

a. Bốn nguồn đầu núi

Tỉnh Quảng Ngãi có hình thể chữ nhật đứng 日, dọc phía đông (hay phía tay phải) là biển với rẻo đồng bằng nhỏ hẹp, dọc phía tây (hay phía tay trái) là vùng núi rừng bạt ngàn tiếp liền với bắc Tây Nguyên (cao nguyên Kon Tum), phía tây cũng là nơi xuất phát vô vàn con nước, từ suối nhỏ đổ vào suối lớn, các suối lớn đổ vào con nước lớn hơn thành sông, chảy theo hướng tây - đông, đổ ra biển. Người xưa có khái niệm nguyên 源, nôm na gọi là nguồn. Nguồn nghĩa là nguồn nước, đồng thời cũng có nghĩa là vùng đất nơi bắt nguồn các con nước. Tỉnh Quảng Ngãi từ xưa phân ra bốn nguồn:

- Nguồn Trà Bồng: xưa gọi là Đà Bồng, Thanh Bồng, có con sông cùng tên (Trà Bồng) từ vùng núi phía tây bắc tỉnh (huyện Trà Bồng) chảy về đông, xuyên qua huyện Bình Sơn ở đồng bằng, đổ ra cửa Sa Cần, ngay bên vũng Quýt (Dung Quất). Nguồn Trà Bồng là địa bàn cư trú lâu đời của dân tộc Co.

- Nguồn Sơn Hà: ở vùng chính tây của tỉnh, xưa còn gọi nguồn Thanh Cù, nơi các con sông lớn miền tây Quảng Ngãi là sông Rhin, sông Rhe và sông Xà Lò hợp nước nhau, chảy về đông là sông Trà Khúc, đổ ra cửa biển Cổ Lũy.

- Nguồn Minh Long: Nằm hơi chếch về hướng tây nam của tỉnh, ở giữa vùng núi, xưa còn gọi là Tử Tuyền 紫 泉 hay suối Tía (có màu đỏ tía). Con nước này không lớn, chảy qua huyện Nghĩa Hành rồi xuống đồng bằng huyện Tư Nghĩa, hợp nước với sông Vệ đổ ra cửa Cổ Lũy.

- Nguồn Ba Tơ: xưa còn gọi nguồn An Ba, là vùng núi phía tây nam tỉnh, là nơi xuất phát của ba con nước: sông Rhe chảy theo hướng bắc, hợp với các con nước khác thành sông Trà Khúc, sông Liên chảy về đông bắc thành sông Vệ, sông Ba Liên chảy về đông thành sông Trà Câu.

Ba nguồn Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ là địa bàn cư trú lâu đời của dân tộc Hrê.

b. Vùng châu thổ tương ứng ở miền xuôi

Vùng châu thổ ở miền xuôi người ta ngược lên núi theo chiều ngang đông tây mà ít có trường hợp đi “chéo”, bởi lẽ điều kiện giao thông thuở xưa là vô cùng khó khăn, với lối mòn và bộ hành. Cụ thể:

- Tương ứng với nguồn Trà Bồng là châu thổ huyện Bình Sơn ở phía đông. Huyện Bình Sơn có sông Trà Bồng chạy dọc từ tây sang đông, nên người ta có thể dùng ghe thuyền đi ngược lên, hoặc cũng có thể theo lối bộ hành theo bờ nam sông Trà Bồng ngược về hướng tây.

- Tương ứng với nguồn Sơn Hà là châu thổ huyện Sơn Tịnh và huyện Tư Nghĩa ở phía đông. Người huyện Sơn Tịnh hay Tư Nghĩa có thể ngược sông Trà Khúc, cũng có thể theo đường bộ phía tả ngạn sông ngược lên.

- Tương ứng với nguồn Minh Long là châu thổ huyện Nghĩa Hành và phần nào huyện Tư Nghĩa ở phía đông, vượt đèo Eo Gió, dốc Hố Cua hoặc ngược sông Vệ lên đến Vạn Xuân thì theo đường bộ đi lên.

- Tương ứng với nguồn Ba Tơ là huyện Mộ Đức, Đức Phổ và phần nào đó vùng phía nam huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa. Người ta có thể ngược sông Vệ lên đến Bến Buôn ở phía đông huyện lỵ Ba Tơ hoặc thuận lợi hơn, có thể ngược lên tới Ba Tơ. Từ Thạch Trụ là điểm giao cắt với đường Thiên lý (tức Quốc lộ 1) có trục chính đi Ba Tơ, qua đèo Đá Chát, đèo Lâm.

1.2. Phác đồ giao thương xuôi - ngược

Trong giao thương xuôi ngược, chủ yếu theo phương thức hàng đổi hàng (vật đổi vật), rất ít khi dùng tiền mặt, nên người buôn lên xuống đều phải mang vác, gùi cõng hàng hóa nặng nề.

Trong giao thương xuôi ngược, xu hướng chủ đạo là người Kinh miền xuôi chủ động mang hàng hóa lên tận các làng miền núi đổi các sản vật miền núi mang về, ít có trường hợp đồng bào dân tộc thiểu số mang hàng xuống xuôi đổi chác rồi mang về núi.

Trong giao thương xuôi ngược, phương thức giao thông chính là đi bộ, đi thuyền, hoặc kết hợp thuyền - bộ. Các con đường hay bị thú dữ tấn công, nên người ta thường đi theo đoàn toán để hỗ trợ nhau, ít đi riêng lẻ.

a. Với người Co nguồn Trà Bồng

Người Co nguồn Trà Bồng có nguồn quế trồng rất dồi dào, nguồn trầu rất ngon và các sản vật rừng đặc sắc. Theo George Condominas (1921 - 2011), nhà dân tộc học lừng danh người Pháp, thì việc buôn bán quế với người Ả Rập ở đây có thể bắt đầu từ thế kỷ thứ VI sau công nguyên, từ hồi đầu của vương quốc Chăm Pa. Thời phong kiến Đại Việt, việc buôn bán quế với người Co nguồn Trà Bồng tiếp tục với các thương nhân người Việt và đầu mối xuất khẩu là người Hoa ở Hội An (Quảng Nam) và Thu Xà (Quảng Ngãi). Trầu không ở Trà Bồng cũng được coi là món thơm ngon, được bán về xuôi. Trên lộ trình từ xuôi lên núi, dần dần hình thành chợ Thạch An (xã Bình Mỹ huyện Bình Sơn), chợ Xuân Khương (nay thuộc thị trấn Trà Xuân huyện Trà Bồng). Phía tả ngạn sông có Truông Trầu (phía tây xã Bình Trung huyện Bình Sơn) tương tuyền cũng là “giao dịch trường” chuyên mua bán trầu giữa người Co và người Kinh. Ngoài quế, trầu, nguồn Trà Bồng có rất nhiều song mây, mật ong, mủ cây chay (dùng để thắp đèn), chè, đậu xanh, cũng là các sản vật thương nhân người Kinh đổi để mang về xuôi. Người Kinh đổi cho người Co các vật dụng thiết yếu: muối, mắm, nồi đất, nồi đồng, trâu, chiêng, ché, vải vóc, hạt cườm, lục lạc, dao rựa, mũi lao. Vì thuở xưa, quế được Đông y xem là vị thuốc chữa bách bệnh, nên người Hoa thu gom bán về cố quốc, thu được nguồn lợi lớn, nên họ cũng đem tới cho người Co ở Trà Bồng khá nhiều hàng hóa cao cấp, như các loại áo dài lễ, áo kép bằng lụa, lanh, ché rượu men lam mà thi thoảng ngày nay ta vẫn còn nhìn thấy. Nguồn chiêng thì lấy từ các làng đúc đồng ở Phước Kiều (tỉnh Quảng Nam) và Chú Tượng (tỉnh Quảng Ngãi). Việc buôn bán thịnh đạt khiến người buôn càng tiếp cận gần hơn, mới hình thành các chợ Thạch An, Xuân Khương, với các hàng hóa thiết yếu như vừa kể. Ở Xuân Khương lại có thêm lò đúc đồng chuyên đúc nồi, ché do người thợ từ Phước Kiều vào mở. Người đi buôn từ châu thổ Bình Sơn lên nguồn, có thể từ tận cửa Sa Cần với muối Tuyết Diêm, cá chuồn khô ngược sông Trà Bồng chở lên, ghé bến ghe ở Thạch An (có lẽ lên nữa không được) rồi gồng gánh theo đường bộ lên nguồn Trà Bồng.

b. Với người Hrê các nguồn Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ

Người Hrê không có sản vật độc đáo như quế của người Co, nhưng dân số nhiều, địa bàn cư trú trải rộng. Do vậy việc giao thương xuôi ngược ở các nguồn Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long cũng rất quan trọng. Ngoài việc đến chợ Tam Bảo với một số lượng hạn chế (đương nhiên), thì thương nhân Kinh từ xuôi lặn lội khắp các làng đồng bào Hrê ở cả ba nguồn. Rất có thể ở Trại Lụy (đã trích ở đầu bài) từng là “giao dịch trường” và vì gần nguồn muối Sa Huỳnh và làng gốm Chỉ Trung chuyên sản xuất nồi đất, trả đất, cũng là chỗ để người Hrê mang sản vật của mình xuống đổi lấy muối, nồi đất, trả đất về dùng.

Người Kinh vùng Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, tức toàn bộ vùng đồng bằng ở giữa và phía nam tỉnh là đối tác giao thương chính của ba nguồn. Người buôn Kinh từ đồng bằng ven biển mang muối, mắm, cá khô, dao, rựa, nồi đồng, nồi đất, chiêng, ché lên đổi chác với đồng bào Hrê, lấy các loại quả rừng, song mây, mật ong, mật gấu, cau, khi miền xuôi thiếu lúa gạo thì mua lúa chuyển về. Nguồn nào thức ấy, người lên nguồn Minh Long đổi lấy chè lá. Người lên nguồn Ba Tơ đổi lấy thơm (dứa), bông đót, dầu rái, dâu da, lá nón. Chợ Tam Bảo là chợ phiên với nhiều chè lá đồng bào Hrê từ Minh Long gùi xuống, nên mới có “thương hiệu” chè Tam Bảo: Nhắp chè Tam Bảo luận bàn văn chương. Tại làng Trường An (nay thuộc xã Ba Động) người Kinh cũng đến định cư, hình thành chợ với các sản vật mua bán. Đoạn sông Liên ở xã Ba Thành huyện Ba Tơ việc bày hàng buôn bán đã thành nếp, đến mức bến sông này hình thành địa danh Bến Buôn.

Bến Buôn là chỗ gặp nhau

Đổi chác hàng ở dưới xuôi trên nguồn

Người Kinh từ xuôi phải thức dậy sớm gọi nhau đi buôn núi:

Mới nghe gà gáy canh ba

Tiếng kêu ý ới dậy mà đi mau

Nào ché, nào rựa, nào dao

Thuốc bổi, muối hột, cá khô, nồi đồng

Kẻ thồ, người quảy gánh gồng

Lên nguồn đổi lấy mật ong, heo gà

Đót mây, dầu rái, dâu da

Lá trầu, lá nón, gỗ và trái ươi

Người trên nguồn kẻ dưới xuôi

Đổi chác qua lại thấy vui quá chừng[1].

Đó là những câu hát nằm lòng của người đi buôn mà tôi phỏng đoán nhất định phải có, và nhờ anh Nguyễn Mậu Chiến người xã Đức Lân, huyện Mộ Đức tìm giúp. Bởi câu hát sẽ giúp vơi đi nỗi nhọc nhằn và cũng giúp ghi nhớ những điều cần lưu ý trên đường đi:

Qua sông phải dỏng tai nghe

Nước nguồn đổ xuống sông Rhe thình lình!

Câu ca như một lời cảnh báo. Bấy giờ chưa có cầu, phải lội qua sông Rhe nhưng nếu sơ ý coi chừng bị nước cuốn trôi. Câu ca cũng cho thấy thương nhân người Kinh đã lặn lội tới tận vùng sông Rhe là chỗ xa nhất, hiểm trở nhất trong địa bàn cư trú của người Hrê, cũng có nghĩa họ đã đi buôn khắp các làng Hrê.

Ở Quảng Ngãi, tại nguồn sông Rhin phía cực tây huyện Sơn Hà, nay là huyện Sơn Tây, còn có tộc người Ca Dong cư trú. Tài liệu điền dã của tôi cho thấy rằng thương nhân người Kinh đến hết địa bàn người Hrê mà không đến vùng người Ca Dong, có lẽ do quá cách trở. Nhu yếu phẩm như muối, có lẽ người Ca Dong đổi lại từ người Hrê.

Ở trên đã phác họa lược đồ thương nhân người Kinh đi buôn bán ở các nguồn. Đồng bào thiểu số miền núi không thông thạo việc buôn bán như người Kinh, nhưng không có nghĩa hoàn toàn không có buôn bán. Cũng có những trường hợp đồng bào thiểu số đi xuống đồng bằng thực hiện thương vụ với người Kinh. Chẳng hạn người Co đi xuống đồng bằng tìm mua trâu về làm lễ ăn trâu, người Hrê nhiều khi mang hàng hóa xuống gặp những thương nhân Kinh quen biết mà họ cần. Trong truyện cổ Hrê có câu chuyện vui kể một nhân vật là Vu Blui đi buôn. Chuyện kể rằng Vu Blui đi bán trứng ma ngeang (ve rừng sâu) trắng như ngọc, rất quý, giá đến mười con trâu. Ông đến làng nọ người nhà giàu bảo đem vào nhà chớ để dưới sân nhưng ông không nghe, chợt có con ngựa đi qua húc bể cả ổ trứng, ông bắt đền con ngựa. Ông dắt con ngựa đến làng khác bán, người ta cũng bảo dắt ngựa vào trong, ông không nghe, chợt con trâu đi qua húc chết con ngựa, ông lại bắt con trâu. Dắt con trâu đi bán, và cũng cứ vậy, có con chó dữ cắn chết trâu, ông bắt con chó. Ông ôm con chó đến làng khác bán, thì có con mèo chạy ra móc mắt chó, ông bắt con mèo mang đi. Đến làng nọ ông để mèo thì có con gà trống đến mổ mắt. Ông bắt con gà bỏ vào lồng xách đến làng khác, để lồng gà gần cái bát bẹ cau đựng nước mài rựa, gà khát nước quá, thò đầu uống nước, mo cau đổ, lồng gà rớt, gà va vào đá chết tươi. Sau chuyển đi buôn dài, rốt cuộc, ông chỉ còn chiếc bát bẹ cau mang về cho vợ con. Từ đó ai làm ăn thua lỗ, người ta gọi người đó là Vu Blui[2].

Qua câu chuyện, người ta có thể biết từ xưa đồng bào Hrê đã có ý niệm về buôn bán và đổi chác, nghiêng về đổi chác hơn, vật đổi vật, không thông qua trung gian của tiền tệ. Ở đồng bào Hrê thấy có những người mang chiêng ché đi đổi trâu, từ làng này sang làng khác. Xưa có một người đàn ông ở làng Gòi Lế (xã Ba Lế, huyện Ba Tơ) thường mang hồ tiêu là sản vật ở làng đi đổi chinh, ché. Thỉnh thoảng ở một số làng khác cũng mang chinh, ché đi các làng để đổi. Cuộc sống của những người buôn ấy có phần khá giả hơn những người chuyên canh tác ruộng rẫy. Trong truyền thống người Co cũng đã có ý niệm về mua bán: mua là rót, bán là tếch, người buôn gọi là hai ta-bốt. Tuy nhiên người chuyên buôn bán ở người Co rất hiếm. Chỉ khi nào người ta có vật này cần đổi với người khác vật khác thì người ta mới tiến hành đổi cho nhau để dùng.

Giữa các dân tộc thiểu số miền núi cũng có sự đổi chác cho nhau, hoặc đổi chác với các dân tộc bắc Tây Nguyên, người Lào. Người Ca Dong và Xơđăng có nghề rèn độc đáo, nghề dệt nổi trội, nuôi nhiều heo, nên người Co thường đổi lấy y phục, giáo mác, người Hrê thường đổi chác với họ các hàng hóa này và vỏ cây gai. Ở xã Sơn Cao, huyện Sơn Hà có một số người Hrê đi buôn bán vùng người Mơ Nâm ở địa phận giáp giới với cao nguyên Kon Tum và mua lại cồng chiêng ở đây đem về. Ở đây lại có chuyện kể rằng ở Làng Mon xưa có người Mơ Nâm mang chinh đến bán giá đến 10 con trâu. Mọi sự đổi chác xong xuôi, người Mơ Nâm nọ dắt đàn trâu đi đến đèo Cọp bỗng nghe tiếng chinh của mình vừa bán vang lên, do chủ mới cúng hồn chinh, tiếng chinh kêu to như tiếng con đại bàng. Người nọ bỗng thấy tiếc bộ chinh, bèn quay lại xin trả trâu lấy lại bộ chinh, nhưng người chủ mới nhất định không chịu. Lái buôn người Lào cũng từng đến vùng tây, chủ yếu đổi chiêng Lào.

Giao thương trong nội bộ dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau là có, nhưng còn ít ỏi và sơ khai, do vậy giao thương xuôi ngược tức giữa người Kinh với đồng bào thiểu số vẫn là quan trọng nhất, quyết định nhất.

2. Vai trò của giao thương xuôi - ngược

Có cảm giác chung rằng các công trình nghiên cứu trước đây chưa đánh giá đúng mức vai trò của giao thương xuôi - ngược. Muốn đánh giá đúng, câu hỏi căn cốt ở đây là: nếu không có giao thương ấy, thì cuộc sống của đồng bào các dân tộc sẽ như thế nào.

2.1. Đối với cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số

Soi chiếu các mặt hàng từ miền xuôi đưa lên, ta có thể thấy đó là những mặt hàng quan yếu nhất trong cuộc sống của đồng bào các dân tộc: muối, mắm, cá, nồi, dao rựa, liềm hái (cho lao động sản xuất và đời sống vật chất), ché rượu, cồng chiêng (cho cuộc sống tinh thần). Chiếu với nhu cầu khách quan của đời sống, cũng như đối chiếu với những di sản văn hóa nổi trội tạo tác được của đồng bào suốt chiều dài lịch sử, ta thấy không thể tách rời các mặt hàng này. Và có thể nói, sẽ khó tưởng tượng được cuộc sống của đồng bào miền núi ra sao nếu không có sự cung cấp muối, chiêng, công cụ lao động từ dưới xuôi lên.

Đồng bào thiểu số miền núi cần muối là thành phần không thể thiếu trong các món ăn hằng ngày, và cũng không thể thiếu những công cụ đồ sắt, đồ gốm, đồ đồng mà tự thân đồng bào không thể chế tác.

2.2. Đối với đồng bào Kinh và những người thương lái

Đối với đồng bào Kinh mà trực tiếp là các thương lái, sự giao thương với đồng bào miền núi cũng mang lại nguồn sống. Trở lại với việc ghi nhận bốn hạng buôn trong sách Đại Nam nhất thống chí, man thương hay buôn núi được kể đầu tiên. Sách không giải thích tại làm sao, và cũng không kể chi tiết. Qua tư liệu điền dã mới có thể hiểu và giải mã điều này. Thực tế cho thấy hầu hết các làng quê ở miền xuôi thuở trước đều có một số người đi buôn núi. Tổng hợp con số này trong toàn tỉnh phải khẳng định là một số lượng rất lớn. Kể cả những làng quê ở ven biển cũng có những người đi buôn núi. Người ta chèo ghe ngược sông lên núi, thường chở theo muối mắm, chở về cây củi, lúa gạo, sản vật rừng. Ở cực nam tỉnh Quảng Ngãi, có Sa Huỳnh và nghề làm gốm Chỉ Trung, có người còn gánh nồi đất, trả đất theo đường Thiên lý ra phía bắc tỉnh, rồi lên miền ngược, đến nguồn Trà Bồng để bán. Người Kinh cũng bị thôi thúc bởi cuộc mưu sinh, bởi sự sinh tồn, bất chấp gian nan vì đường xa, giặc cướp, thú rừng và nhiều sự rủi ro khác trên hành trình. Vùng đất khô cháy ở vùng nam Mộ Đức, bắc Đức Phổ, như Tú Sơn, Thạch Trụ, Hùng Nghĩa, Vạn Lý do làm nông khó khăn, có rất nhiều người đi buôn núi ở nguồn Ba Tơ. Nhiều người nhờ buôn bán mà xoay xở được cuộc sống hằng ngày, làm được nhà rường vững chắc.

Tất nhiên ở Quảng Ngãi xưa người ta còn có nhiều hình thức buôn bán để mưu sinh khác, như buôn bán ở chợ, buôn gánh bán bưng ở các làng quê, đi buôn dọc đường Thiên lý, đi buôn ghe bầu vào Nam ra Bắc, nhưng không thể thiếu buôn núi như một loại buôn mang tính sinh tồn rất cao.

3. Những hệ quả phái sinh

Mục trên nói về vai trò của giao thương xuôi ngược trong đời sống của đồng bào thiểu số và đồng bào Kinh, đó là những tác động trực tiếp. Nhưng còn nhiều hệ quả phái sinh từ giao thương ấy, và cho dù gọi là hệ quả phái sinh, nhưng nó không hề kém phần quan trọng.

Trong các loại hệ quả phái sinh, hệ quả không mong muốn đương nhiên không thể tránh khỏi trong giao thương xuôi ngược. Trong số rất nhiều người tham gia giao thương xuôi ngược, không thể tránh có kẻ vì lòng tham mà mua gian bán lận, trộm cắp. Có những trường hợp để lại hậu quả xấu, như người ta gọi thương nhân là “con buôn” với hàm nghĩa khinh miệt, và lớn hơn có thể gây hiểu lầm giữa các dân tộc. Thời chúa Nguyễn từng ghi nhận lái buôn tên Linh xúi giục, gây rối ở miền núi, mà rất tiếc một số sách lịch sử của ta suy diễn một cách nhầm lẫn là cuộc “khởi nghĩa”. Trong lịch sử cũng từng có những thương nhân bị mua chuộc, cuốn vào chiêu trò chính trị xấu xa của thực dân đế quốc. Họ trở thành người thám thính, lôi kéo, xúi giục đồng bào miền núi vốn ít hiểu biết về chính trị. Tuy có những hệ quả xấu không mong muốn như trên, song nhìn chung, xuyên suốt, thì giao thương xuôi ngược mang lại những hệ quả tốt đẹp.

3.1. Tạo sự thông hiểu giữa các dân tộc anh em

Có người nói rất xác đáng rằng thương nhân người Kinh chính là những người đầu tiên tạo sự tiếp xúc, thông hiểu nhau giữa các dân tộc anh em vốn cư trú có phần cách biệt, ngôn ngữ, trình độ phát triển, phong tục tập quán có khác nhau. Bằng tiếp xúc qua giao thương, từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, người miền núi và miền xuôi dần hiểu nhau, gắn kết với nhau. Tài liệu điền dã cho thấy mối quan hệ gắn kết ấy đã vượt lên cả sự so đo buôn bán bình thường. Tại các làng có hai dân tộc ở gần nhau, khi có lễ tết người Kinh thường mời người thiểu số thân thiết với mình đến dự, khi về còn biếu quà bánh, và đến lượt mình, người miền núi cũng làm như vậy. Thương nhân người Kinh đến các làng đồng bào Hrê khi cần ở lại nghỉ ngơi nhiều ngày được chủ gia lo lắng chu đáo. Trong trường hợp có nguy cơ lại được chủ nhà giúp đỡ, như trong vụ phiến loạn Sơn Hà năm 1951, nhiều người Hrê dắt dẫn thương nhân Kinh lánh tránh, dùng ghe thuyền chở họ về xuôi an toàn. Còn ở các làng người Co, thương nhân Kinh lên mua quế, bóc vỏ quế, phơi vỏ quế, mỗi lần đi kéo dài hàng tháng trời, phải ở lại làng, người Co dựng một túp lều nhỏ gọi là pơ-cúp ngay trong khuôn viên làng, bên trong rào làng, để thương nhân ăn ở thuận lợi an toàn, có chỗ để nấu nướng, chứa quế, nên cũng thường đường gọi lều chứa quế.

3.2. Tạo sự giao thoa, tiếp biến văn hóa các dân tộc

Sự giao thoa, tiếp biến văn hóa các dân tộc đầu tiên cũng từ sự giao thương xuôi ngược mà phái sinh. Trong số các thương nhân Kinh nhiều người am hiểu tiếng nói, phong tục đồng bào thiểu số, có người kết hôn và ở lại làm ăn với đồng bào thiểu số. Trong vùng người Hrê có rất nhiều địa danh hỗn hợp ngôn ngữ Việt - Hrê, như hình vị Làng trong hàng loạt tên plây: Làng Trăng, Làng Trá, Làng Ôn, Làng Mon. Trên địa bàn người Hrê sinh sống cũng xuất hiện các địa danh tiếng Việt từ lâu đời, như Đá Bàn, Hoàn Đồn. Cũng từ nhu cầu xúc tiến thương mại mà xuất hiện trường hợp xây dựng điện và tổ chức lễ hội điện Trường Bà ở Trà Bồng với sự tham dự của ba dân tộc Kinh - Co - Hoa. Với tín ngưỡng lưu lại về nữ thần Thiên Y A Na của người Chăm xưa để lại, người Kinh và người Hoa dựng điện, vào dịp tế điện người Co cũng góp các lễ vật, tham gia các lễ thức cúng bà. Sự hiện diện của những chiếc áo dài lễ mang phong cách người Hoa, các ché rượu men lam sang trọng còn lại ở các làng người Co cũng là những chứng tích rõ ràng của sự giao thoa, tiếp biến.

4. Bài học lịch sử trong bối cảnh mới

Ở trên là phác đồ giao thương xuôi ngược ở Quảng Ngãi. Tôi trộm nghĩ qua đó ta cần nhận thức lại về thực tế lịch sử, vai trò, tác động của giao thương xuôi ngược trong các sách lịch sử, văn hóa mà trước đây ta đánh giá chưa thật đúng mức, chưa thật “chuẩn”. Hẳn giao thương xuôi ngược của tỉnh Quảng Ngãi cũng là trường hợp chung của các tỉnh duyên hải miền Trung thuở trước.

4.1. Bối cảnh mới

Thời đại ngày nay là thời đại của hàng hóa công nghiệp tràn ngập, của thông tin phát triển thần kỳ, của giao thông, phát triển rộng khắp đến từng bản làng. Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi đã mọc lên các thị trấn, thị tứ, các hàng hóa, dịch vụ, tạp hóa xuất hiện ngay tại các xã, thôn, những cảnh gùi cõng hàng hóa xưa đã trở thành “muôn năm cũ”. Vậy thì ngày nay ta học được gì ở đây?

4.2. Những bài học không cũ

- Nó cho thấy giao thương là tất yếu và có quan hệ đối với sự sinh tồn và phát triển của các dân tộc. Trạng thái kinh tế xã hội thời phong kiến là dựa vào sản xuất nông nghiệp, trạng thái kinh tế xã hội của các dân tộc thiểu số nằm ở trước cả thời phong kiến, nhưng sự giao thương bao giờ cũng cần thiết.

- Nó cho thấy vai trò của giao thương không chỉ trong đời sống vật chất mà lớn hơn là sự thông hiểu, gắn kết giữa các dân tộc trên hành trình phát triển chung của đất nước.

- Nó cho thấy vai trò chủ động của người Kinh trong giao thương. Đồng bào các dân tộc thiểu số rất tốt, nhưng trạng thái kinh tế xã hội khiến họ không quen với việc buôn bán. Do vậy mà ngày nay, nơi nào phát triển phồn thịnh thường là nơi có đồng bào dân tộc Kinh tham gia giao thương. Ngày nay, một số người đồng bào dân tộc thiểu số đã đầu tư kinh doanh, thực hiện các dịch vụ như xe vận tải, dựng trại mạc, nhưng ít người không thành công trong buôn bán, làm dịch vụ.

Các nhà quản lý nên lưu ý các bài học này để tạo nên lợi ích chung cho đồng bào thiểu số và đồng bào Kinh, cũng như khi định hướng phát triển, xây dựng chợ búa, tạo dựng du lịch cộng đồng, hình thành thị tứ mới.







Tài liệu tham khảo



1. Bùi Đình (1963), Đường lên xứ Thượng, Bộ Công dân vụ (Sài Gòn).

2. Cửu Long Giang, Toan Ánh (1974), Cao nguyên miền Thượng, Sài Gòn.

3. Đinh Xăng Hiền, Nguyễn Thanh Mừng (1988), Truyện cổ Hre, Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình.

4. Henry Maitre (2008), Rừng người Thượng, (nguyên bản tiếng Pháp, Lưu Đình Tuân dịch), Nxb. Tri thức.

5. Lê Quý Đôn (2007), Lê Quý Đôn tuyển tập, tập II: Phủ biên tạp lục, (Sách chữ Hán, Nguyễn Khắc Thuần dịch), Nxb. Giáo dục.

6. Lưu Hùng (2014), Góp phần tìm hiểu Trường Sơn - Tây Nguyên, Nxb. Khoa học xã hội.

7. Nguyễn Đức Cung (1998), Lịch sử vùng cao qua Vũ man tạp lục thư, Nhật Lệ xuất bản, Philadelphia, Pennsylvania (Hoa Kỳ).

8. Nguyễn Huy Quýnh (TK 18), Quảng Thuận đạo sử tập (sách chữ Hán), Ký hiệu VHv 1375. Thư viện Viện Hán Nôm, Hà Nội.

9. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006) Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Sách chữ Hán, Bản dịch của Phạm Trọng Điềm, hiệu đính của Đào Duy Anh, Nxb. Thuận Hóa.

10. Viện Dân tộc học (1984), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

11. Sách Lịch sử Đảng bộ các huyện Trà Bồng, Sơn Hà, Sơn Tây, Minh Long, Ba Tơ.




[1] Bài ca dao do nhà thơ Nguyễn Mậu Chiến, xã Đức Lân huyện Mộ Đức cung cấp.


[2] Xem Đinh Xăng Hiền, Nguyễn Thanh Mừng (1998), Truyện cổ Hrê, Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...