Hôm nay là ngày giỗ Bà Nội tôi. Bà già yếu, ngoài 80 tuổi, bị bệnh nặng mất ngày 26/11/1990 (nhằm ngày 10/10 Canh Ngọ). Tôi nhớ đến Bà nhiều, vì trong đám con cháu nội ngoại của Bà, Bà có ưu ái cho tôi. Tôi chỉ nuối tiếc là, ngày Bà mất, lại đúng lúc tôi phải ra Hà Nội ôn thi cao học, nên không về quê chịu tang Bà được! Những năm Bà còn sống ở quê, tôi thường về quê, ở với Bà. Bà trong tôi là một hình ảnh thân thương, và thân thiết!
Ông bà nội tôi tên là Trần Kiệm và Đỗ Thị Là (đều đã mất), ở quê biển Hoài Hương, Hoài Nhơn, Bình Định từ nhỏ đến khi mất, sinh hạ được 7 người con: 4 trai và 3 gái. Sinh thời, ông làm nghề mành chà cùng anh ruột là Trần Hữu Công và em ruột là Trần Diệm. Bà thì buôn bán cá mắm và lo việc nội trợ.
Ba má tôi nói lại, Bà tôi rất đảm đang, giỏi, thạo trong việc buôn bán, mặc dù Bà không biết chữ và không biết làm các con tính trên giấy. Nhưng Bà có một trí nhớ tuyệt vời. Ba tôi nói, Bà nội tôi không được học hành, nhưng rất giỏi tính rợ, tính nhẩm. Bà tính nhẩm, tính rợ hàng họ khi mua bán đến tận những con số lẻ, tính toán cho nhiều khách hàng, cho hàng hóa buôn bán nhiều ngày mà vẫn không bao giờ nhầm lẫn. Khách hàng ghi lại số tiền và ghi vào sổ của Bà, đọc cho Bà nghe. Bà nhớ lấy số tiền hàng ấy, không trật bao giờ.
Những chuyến đi buôn lên nguồn Hoài Ân - An Lão (Bình Định) của Bà chính là nguồn thu nhập của gia đình. Má tôi về làm dâu, cũng được Bà cho đi theo buôn bán, có chuyến ra tận Quảng Ngãi, đến Sa Huỳnh - Mộ Đức! Bà cũng phụ với ông nội tôi trong làm nghề biển. Sau này gia đình tôi vào ở Hải Minh (Hải Cảng, Quy Nhơn), tuy còn nhỏ nhưng tôi vẫn biết Bà tôi đi buôn bán nước mắm xa. Bà vào tận Phan Rang- Phan Thiết lấy nước mắm Phan Thiết nổi tiếng về buôn bán lại. Do vậy mà Bà tôi thường có đồng ra đồng vào, tiền nhiều lúc cũng rủng rỉnh trong túi.
Bà tôi mua mắm và muối mắm ở nhà Bà Thường. Bà cùng với bà con hùn tiền mua mắm, đi vô các tỉnh trong Nam như Bình Thuận, Ninh Thuận, thuê một chiếc ghe mười mấy, hai chục tấn gì đó chở mắm. Ghe về đến nhà rồi chia mắm nhau theo tỉ lệ hùn hạp. Rồi Bà tôi mang mắm đi lên đi lên nguồn, tức là lên Hoài Ân, An Lão bán, rồi đổi lúa mang về bán ở miệt biển. Buôn bán hai chiều như vậy đó. Thuyền chở hàng là thuyền nguồn. Đó là những chiếc thuyền nan, dài lắm, chở được nhiều. Từ nguồn về theo sông Lại Giang, xuôi đến cửa An Dũ, có nhiều bờ xe nước cản lối, thuyền dài, len lách theo dòng nước mới đi xuôi ngược được.
Người lái thuyền phải giỏi, vững tay lái, thông tỏ luồng lạch. Đi lên thì chở mắm, chở nhẹ. Còn đi xuống, xuôi theo dòng nước, nên thuyền chở được lúa nhiều lắm. Khi không có mắm chở lên nguồn bán, Bà tôi đi bộ lên nguồn mua lúa. Có lần, Bà tôi cho ba tôi đi theo cùng. Hai mẹ con cùng tốp phường buôn với Bà dậy đi từ khi gà cất tiếng gáy đầu, khoảng 2 – 3 giờ sáng. Trời tối mịt. Từ dưới biển Hoài Hương lên, phải đi cho nhanh, làm sao qua khỏi Bồng Sơn khi còn trong đêm, vì sợ máy bay ném bom. Hồi đó, Bồng Sơn do bị thả bom nhiều, vắng nhà cửa. Dân Bồng Sơn di tản lên trên nguồn. Qua khỏi Bồng Sơn rồi là yên tâm, vì đoạn còn lại lên nguồn, được đi dưới bóng dừa bạt ngàn che chở. Mua xong lúa, khi đi về thì đi bằng thuyền nguồn.
Mắm Bà tôi mua ở Phan Rang - Phan Thiết là chủ yếu. Ở Phan Rang cửa, tức là ở thôn Tân Thành gì đó, Bà tôi có mấy người bà con. Tôi đến ở tạm vài ngày. Bà mua mắm của mấy cái hãng nước mắm lớn như mấy hãng lớn ở Phan Thiết. Mắm được muối trong những chiếc thùng tô nô. Từ những thùng tô nô mắm to bằng cái nhà, nước mắm được lọc, sang chiết ra những thùng thiếc, chở bằng tàu lửa về. Đấy là những cái thùng bằng thiếc 20 lít vốn đựng dầu lửa, có in hình rẻ quạt trên thùng, trắng sáng. Người ta súc sạch thùng cho hết mùi dầu hỏa rồi cho nước mắm vào, hàn kín nắp thùng lại. Để đảm bảo khi vận chuyển lên xuống tàu xe, và di chuyển, người ta ràng bên ngoài, chung quanh thùng bằng một sợi dây mây, tạo quai cho dễ xách.
Người ta chuyển các thùng mắm này lên ga bằng xe lam. Mắm được chất lên nguyên cả một toa xe. Khi tàu về ga Bồng Sơn, riêng toa có chứa mắm của Bà tôi được tách ra khỏi đoàn tàu, chuyển sang một đường ray khác, ở lại. Còn đoàn tàu thì tiếp tục lăn bánh. Từ đó, Bà tôi mướn xe thồ chở các thùng mắm về nhà, dưới miệt biển Hoài Hương. Xe thồ là những chiếc xe đạp, được thiết kế để chở các thùng nước mắm. Xe thồ hai bên xe, được bốn thùng: đằng trước hai thùng, đằng sau hai thùng. Mắm về, chất đầy trong nhà, Bà tôi bán sỉ có, bán lẻ có. Có người mua nguyên thùng, rồi về chia ra cho hàng xóm. Bà ngoại tôi cũng thi thoảng từ thôn Thiện Đức sát mé núi, xuống dưới thôn Thạnh Xuân xóm biển, cạnh đấy, mua mắm của Bà nội tôi. Người mua dễ tính, người bán dễ chịu. Nhờ đó mà hai bên quen biết nhau, làm sui gia, ba má tôi mới nên duyên chồng vợ.
Khi nhà tôi tản cư từ quê vào Quy Nhơn, sống ở Hải Minh (Hải Cảng, Quy Nhơn), Bà tôi chở mắm, có khi từ Phan Rang – Phan Thiết về thẳng Quy Nhơn bằng xe ba lua, đến bến đò Cảng Quy Nhơn, rồi trung chuyển bằng đò qua Hải Minh, cho má tôi bán, phụ giúp thêm tài chính cho gia đình tôi. Lúc ấy, tôi còn nhỏ, nhưng vẫn nhớ những chuyến hàng đó và còn nhứ như in những dãy thùng thiếc nước mắm chất đầy nhà.
Má tôi hay bệnh, phải đi bệnh viện ở bên này, đò giang cách trở, rất hiểm nguy lúc bệnh ngặt nghèo. Cũng nhờ Bà, Bà tôi bỏ tiền mua ngôi nhà bên này, gần bệnh viện Thánh Gia, cho gia đình tôi ở đến hôm nay. Nhà tôi sang bên này có cái tivi Denon, chân đứng, có cánh cửa khép mở, hẳn thuộc loại sang giàu lúc bấy giờ, cũng là do Bà tôi mua cho.
Ông Bà nội tôi vốn nghèo. Bà về làm bạn với ông tôi và làm dâu trong dòng họ tôi bấy giờ cũng đang nghèo khổ. Anh em với ông nội đều làm biển. Có lúc đi làm bạn biển ghe người ta. Rồi ba anh em của ông nội tôi sắm được một đôi ghe. Bà tôi phụ bán cá mỗi khi ghe đánh được. Thường chẳng là bao, chỉ đủ đắp đổi qua ngày. Sau này, Bà phải “buôn gánh bán bưng” thêm, buôn bán mắm và thóc lúa, như đã nói ở trên.
Bà tôi hay nói đùa: Nhà ông nội tôi nghèo có lẽ là do lãnh “nhân quả” của các cụ kị trước đây, làm “ông này Bà nọ” trong làng nước. Nghe Bà tôi nói lại: ông cố, ông kị tôi làm lớn lắm, nhưng không biết là làm lớn ở làng, ở tổng hay ở huyện, với chức vị gì thì không nghe Bà tôi nói lại. (Những năm sau này, tôi phụ cho Bác Tư và ba tôi viết gia phả tộc Trần ở Hoài Hương quê tôi, cũng không truy/ được dòng nào về đời ông cố ông kị). Bà tôi chỉ kể câu chuyện: Hồi đó, trong làng có ông Bà Khá cũng đã khá lớn tuổi. Bà Khá may cho ông Khá một cái áo dài bông.
Cái áo dài có in mấy chữ thọ to trên hai vạt áo. Ông cố ông kị tôi biết được, sai người đến bắt ông Khá về, đánh cho mấy chục roi, và tra hỏi, nó cái quyền gì mà nó được bận cái áo có chữ thọ đó? Ông cố mình ổng có quyền thế gì ghê gớm mà có quyền đánh người vậy. Bà nôi tôi nói: “Cứ ủy quyền thế quá nên con cháu sau này nhận nhân quả mà thành ra nghèo khổ chăng?”. Có lẽ, Bà nội nói chuyện này để an ủi phần nào sự nghèo khó của ông Bà mà thôi!
Những năm sau này, lúc tôi học cấp 3, và học Đại học, ngày hè tôi thường về thăm, và ở với Bà ở quê biển Hoài Hương. Bà lúc ấy ở với cô Ba và cô Tám tôi. Cô Ba lưng gù, mắt mờ, bệnh lai rai, cô Tám chồng bỏ, con theo chồng nên cũng thất thần, dở điên dở dại, nên Bà nội coi như nuôi cả hai Bà cô này. Mỗi lần tôi về, Bà lụi cụi xuống bếp thổi lửa nấu cơm, hay nấu khoai mì gì đó cho thằng cháu là tôi ăn. Khi về, Bà thường giấu giấu diếm diếm nhét cho tôi một ít tiền mà Bà dành dụm từ thưở nào để tôi tiêu vặt. “Sợ mấy đứa nó phân bì”- Bà nói. Tôi đã tiêu một cách hào sảng những đồng tiền mà mà Bà tôi dè sẻn cho tôi!
Trong đám con cháu, Bà coi như thương tôi nhất. Bà đã từng mai mối cho tôi một người con gái ở quê nhà...
Nhớ Bà Nội tôi....
10-11-2024

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét