Tóm tắt: Trong những năm qua, Thư viện Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi luôn đẩy mạnh các hoạt động phát triển văn hóa đọc bằng nhiều hình thức khác nhau như xây dựng tủ sách cộng đồng, phòng đọc cơ sở, thư viện xã, thư viện xanh, luân chuyển sách, báo về các thôn, làng văn hóa, phục vụ sách lưu động ở các trường dân tộc nội trú, tiểu học, trung học cơ sở, nhằm tạo thói quen đọc sách cho người dân và học sinh vùng dân tộc thiểu số miền núi ở các huyện Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Sơn Tây của tỉnh Quảng Ngãi.
Từ thực tiễn, Thư viện đã phân tích, đánh giá về các điều kiện địa chính trị, văn hóa, giáo dục, phong tục tập quán, đồng thời tương tác để biết người dân và học sinh có thực sự cần văn hóa đọc không? Để có những định hướng, đưa ra các giải pháp phát triển nhằm cân bằng lợi ích hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin và phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho các vùng dân tộc thiểu số đang sinh sống.
Từ khóa: Văn hóa đọc, người dân vùng dân tộc thiểu số, miền núi Quảng Ngãi, phát triển kinh tế bền vững.
1. Đặt vấn đề
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi chiếm 63% diện tích tự nhiên của tỉnh. Toàn tỉnh có 61 xã thuộc 5 huyện miền núi Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, Sơn Tây, Sơn Hà và 3 huyện đồng bằng là Bình Sơn, Tư Nghĩa và Nghĩa Hành. Dân số toàn vùng là 230.000 người với 29 dân tộc anh em cùng chung sống, nổi trội nhất là các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong. Các vùng dân tộc thiểu số là nơi có nhiều vị trí xung yếu, vùng “phên dậu”, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ môi trường sinh thái,... Đây cũng là cội nguồn của cách mạng, đã có quá trình đóng góp xứng đáng cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà ngày nay đang tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết góp phần thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Vì nhiều lí do khác nhau như vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, phong tục tập quán, văn hóa, kinh tế, giáo dục,… và những biến cố sau các cuộc chiến tranh nên đồng bào dân tộc miền núi Quảng Ngãi còn gặp nhiều khó khăn về đời sống. Để cải thiện được cuộc sống của người dân nơi đây, tiến tới ổn định, phát triển kinh tế bền vững thì phải sử dụng nhiều biện pháp, gắn với sự kết hợp chặt chẽ của các ban ngành liên quan trong tỉnh. Một trong những giải pháp quan trọng để làm được việc đó, chính là thúc đẩy công tác phát triển văn hóa đọc.
2. Phát triển văn hóa đọc ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần có những điều kiện gì?
- Điều kiện khách quan: Theo chúng tôi, điều kiện đầu tiên để phát triển văn hóa đọc vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi là phải làm sao để họ biết chữ và biết tiếng mà chữ đó thể hiện. Biết chữ để đọc, biết tiếng để hiểu nghĩa. Vì vậy đối với mỗi dân tộc thiểu số miền núi để phát triển văn hóa đọc, lan tỏa mạnh mẽ đến cộng đồng của mình thì bản thân họ phải có trình độ dân trí nhất định, ở mức sơ đẳng nhất là biết đọc và biết viết trên cả hai loại ngôn ngữ, chữ viết là tiếng bản địa và tiếng Việt. Việc dạy học tiếng Việt ngày nay đã được phổ cập ở các vùng dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi. Việc mở rộng, củng cố trường lớp luôn được tỉnh Quảng Ngãi quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Số trường mầm non, mẫu giáo, lớp mẫu giáo 5 tuổi được mở rộng khắp các địa bàn, tạo điều kiện cho trẻ em 5 tuổi đến trường. Toàn tỉnh hiện có 209 trường mầm non, trong đó có 188 trường công lập, 21 trường tư thục; với tổng số 2.134 nhóm/lớp trong các cơ sở giáo dục mầm non, tăng 300 nhóm/lớp so với năm 2012[1]. Các chương trình văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền dạy tiếng nói, chữ viết ở miền núi thời gian qua cũng được quan tâm; cùng với đó là các chương trình văn nghệ như chiếu phim, biểu diễn ca múa nhạc, xây dựng các làn điệu dân ca, dân nhạc, dân vũ của đồng bào dân tộc thiểu số như: Múa cà đáu, múa chiêng Cor, chiêng Hrê, các bài hát calêu, cachoi, xà ru,... Qua đó, nhờ hiểu tiếng Việt và nhiều người biết đọc tiếng Việt nên họ đã tiếp thu được nhiều mô hình mới, loại bỏ dần hủ tục lạc hậu, từng bước xây dựng nếp sống văn minh, tiến bộ, xóa đói, giảm nghèo.
Năm 2023, cơ sở dữ liệu điện tử tiếng đồng bào dân tộc thiểu số Việt - Hrê, Việt - Co là sản phẩm phần mềm thuộc đề tài khoa học công nghệ của tỉnh Quảng Ngãi do Trung tâm Công nghệ Thông tin và Truyền thông thuộc Sở Thông tin và Truyền thông thực hiện. Đây là từ điển điện tử tiếng đồng bào dân tộc thiểu số Việt - Hrê, Việt - Co và ngược lại nhằm hỗ trợ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu về tiếng nói, chữ viết của người Hrê, người Co[2]. Theo đó, cơ sở dữ liệu điện tử có trên 1.120 từ Hrê và 1.650 từ Co, cho phép tìm kiếm, tra cứu từ điển, các từ đều được dịch nghĩa, hướng dẫn phát âm, cung cấp các từ đồng nghĩa, ví dụ minh hoạ, có hình ảnh và các đoạn phim về phong tục, tập quán, văn hoá của người đồng bào dân tộc thiểu số Hrê, Co. Đề tài giúp cho học sinh và đồng bào dân tộc tiểu số học hỏi, nâng cao kiến thức, hòa nhập với sự phát triển chung của tỉnh, đồng thời cũng giúp cho các cá nhân người Kinh đang làm việc với người đồng bào có thể hiểu và giao tiếp thuận lợi hơn, qua đó truyền đạt các kiến thức, các chủ trương, chính sách đến người dân tộc thiểu số, tiếp thu kinh nghiệm và các vấn đề của người đồng bào được sâu sắc hơn.
Những điều kiện nêu trên tuy chưa đầy đủ nhưng sẽ góp phần rất lớn để đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi có cơ hội học tập, rèn luyện để biết đọc, biết viết, biết truy cập những thông tin trên các trang mạng xã hội. Điều đó giúp chúng tôi biết được tỷ lệ biết đọc, biết viết ở từng địa phương và xây dựng chương trình định hướng phát triển văn hóa đọc cho từng vùng.
- Điều kiện chủ quan: Văn hoá đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý, cơ quan quản lý nhà nước. Còn ở nghĩa hẹp, đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân. Ứng xử, giá trị và chuẩn mực này cũng gồm ba thành phần: Thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc[3].
Trong quá trình sử dụng sách báo, tài liệu để đọc và tìm kiếm thông tin của học sinh và đồng bào dân tộc thiểu số miền núi vô hình chung phải tự rèn luyện cho mình các kĩ năng đọc, giúp họ rèn luyện tư duy thông qua các chương trình mà thư viện đem đến. Vì rào cản ngôn ngữ, văn hóa và những vấn đề khác có thể làm cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi khi tiếp cận đến sách, báo, tài liệu khá khó khăn, nhưng ngược lại ta có thể nhìn thấy mặt tích cực là nhờ vậy họ có thể tự trau dồi thêm tri thức của mình sau mỗi lần tự tìm đọc tài liệu, sách, báo.
3. Vai trò của văn hóa đọc từ thực tiễn hoạt động Thư viện Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi
Chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi vốn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Cho nên phát triển văn hoá đọc rất quan trọng vì đọc sách là để nâng cao trình độ dân trí, chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi trong học tập, lao động sản xuất và góp phần nâng cao đời sống tinh thần. Như vậy, văn hóa đọc có tác dụng đến việc giáo dục và hình thành nhân cách, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực làm thỏa mãn nhu cầu đời sống. Văn hóa đọc cũng là điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số hoàn thiện chính mình, chủ động tiếp nhận thông tin, kiến thức, chủ động tiếp nhận, đọc những thông tin mình cần. Văn hóa đọc phù hợp với điều kiện kinh tế và trình độ dân trí khác nhau đối với đồng bào miền núi, ví như công tác luân chuyển sách của Thư viện Tổng hợp tỉnh sẽ được lưu lại các điểm đọc, sau đó phục vụ đến người dân, sách được tái sử dụng nhiều lần và luân chuyển đến nhiều điểm đọc cơ sở ở thôn, xã các huyện miền núi. Văn hóa đọc là việc đầu tư cho tri thức, khi có kiến thức và thông tin cần thiết cho đời sống thì đồng bào dân tộc thiểu số miền núi sẽ cải thiện được cuộc sống của mình. Khi ấy người dân sẽ cập nhật các kiến thức về kinh tế, xã hội, giá cả, lẫn việc mua bán sản phẩm địa phương, đó là các chương trình phát triển nông nghiệp, xây dựng hồ sơ chất lượng OCOP, hội chợ, du lịch,… Vì vậy, phát huy công tác xây dựng văn hóa đọc ở vùng dân tộc thiểu số miền núi luôn là nhiệm vụ quan trọng.
Thực hiện Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Mô hình “Thư viện xanh”, “Thư viện thân thiện” được xây dựng, đã phát huy hiệu quả tích cực, đặc biệt là khích lệ và nâng cao tinh thần tự đọc và tự học của các em học sinh, nhất là học sinh vùng đồng bào thiểu số miền núi. Một số trường học trên địa bàn tỉnh đã tận dụng việc hỗ trợ sách và các thiết bị thư viện nhà trường từ tổ chức Room To Read (Tổ chức phi Chính phủ của Hoa Kỳ) để xây dựng các mô hình Thư viện thân thiện, Thư viện xanh cho các trường tiểu học thị trấn Ba Tơ, huyện Ba Tơ; trường tiểu học Long Hiệp, trường tiểu học Long Mai, huyện Minh Long,… Thư viện Tổng hợp tỉnh luôn tiên phong hướng dẫn công tác chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy văn hóa đọc trong trường học.
Thư viện Tổng hợp tỉnh đã không ngừng nỗ lực đưa sách, báo phục vụ lưu động ở khắp các trường học trên địa bàn tỉnh. Công tác phục lưu động được triển khai từ năm 2013 cho đến nay, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký kết với Sở Giáo dục và Đào tạo các chương trình phối hợp về nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện và đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, học tập suốt đời trong các thư viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn (2021-2025). Hằng năm, Thư viện Tổng hợp tỉnh triển khai tại 7 đến 10 điểm trường trong tỉnh, ưu tiên là những trường vùng sâu, vùng xa, miền núi,… những nơi các em còn thiếu thốn về văn hóa đọc. Mỗi đợt phục vụ lưu động với khoảng 2.000 bản sách và luân chuyển 2.00 bản sách đến các thư viện trường học. Ngoài việc phục vụ sách, báo thì còn kết hợp một số hoạt động trò chơi, câu hỏi tương tác với sách để giúp các em học sinh hứng thú hơn trong việc đọc, tìm hiểu và sử dụng thông tin để nâng cao hiểu biết, tạo không khí vui tươi, sôi nổi và thư giãn sau những giờ học trên lớp.
Thực hiện Chỉ thị số 42/CT-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng: “Chăm lo phát triển nhu cầu văn hóa đọc của các tầng lớp nhân dân, đúng đối tượng và địa bàn, đặc biệt quan tâm vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và miền núi. Phát triển hệ thống sách song ngữ, xuất bản nhiều sách bằng tiếng dân tộc với trình độ thích hợp, đáp ứng nhu cầu của đồng bào các dân tộc thiểu số” được xem là nội dung khá thiết thực, thông qua thực tiễn hoạt động của Thư viện Tổng hợp tỉnh đã triển khai về các địa phương những nhu cầu cần thiết để phát triển văn hóa đọc và được sự đồng tình ủng hộ của các địa phương, như xây dựng phòng đọc cơ sở, luân chuyển sách, phục vụ sách lưu động, hướng dẫn chuyên môn về truyền thông, thư viện, công tác lưu trữ, số hóa tài liệu,… đã góp phần khơi dậy niềm đam mê đọc sách, giúp cho đồng bào thiểu số miền núi có cơ hội tiếp cận với sách để tìm hiểu về pháp luật, về tri thức phát triển nông nghiệp, về văn hóa, phong tục tập quán,… Như thường lệ, Thư viện Tổng hợp tỉnh khi xây dựng phòng đọc cơ sở ở nông thôn đã định hướng cho chính quyền địa phương, thông qua cán bộ thôn nắm bắt phương pháp để hướng dẫn cho người dân trong làng mỗi tuần hai bữa đọc sách, mỗi tháng cố gắng đến Nhà văn hóa thôn, Nhà văn hóa cộng đồng vài ba lần để đọc sách và nghe hướng dẫn về việc đọc sách, báo, tìm kiếm thông tin, cũng như nắm bắt tình hình phát triển kinh tế ở địa phương.
Được sự hỗ trợ từ Dự án 6 về: “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn (2021 - 2030) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 hỗ trợ xây dựng tủ sách cộng đồng và tổ chức hoạt động phát triển văn hóa đọc cho các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Mục tiêu dự án này nhằm thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về công tác tăng cường khả năng tiếp cận thông tin tri thức cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số miền núi; hỗ trợ tài nguyên thông tin thư viện cơ sở, xây dựng môi trường văn hóa đọc chất lượng, hiệu quả; hình thành thói quen, nhu cầu phát triển, kỹ năng và phong trào đọc sách trong cộng đồng các dân tộc thiểu số miền núi. Đồng thời, thu hẹp khoảng cách về việc hưởng thụ văn hóa, thông tin, giải trí giữa khu vực miền núi và đồng bằng.
Theo đó, đối tượng hưởng lợi đối với việc xây dựng tủ sách là các xã, thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 4/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn (2021 - 2025). Tỉnh Quảng Ngãi có 61 xã, trong đó có 6 xã thuộc khu vực I, 3 xã thuộc khu vực II và 52 xã thuộc khu vực III. Nội dung tủ sách hướng đến “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch; cung cấp thông tin, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân, phòng ngừa tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; xây dựng và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng dân tộc thiểu số; Giới thiệu nét đẹp văn hóa đặc sắc của gia đình, thôn bản, làng xã trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và miền núi; giới thiệu các phương pháp, kỹ năng bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp các dân tộc thiểu số”.
Tủ sách cộng đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi tiếp cận với văn hóa đọc. Giúp đồng bào dân tộc và các em học sinh có thêm nguồn tài liệu để học tập, giải trí, trau dồi kiến thức khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất, nâng cao dân trí, từ đó góp phần tích cực phát triển văn hóa đọc được lan tỏa trong cộng đồng.
4. Văn hóa đọc có cần thiết với đồng bào dân tộc miền núi và họ có cần văn hóa đọc hay không?
Văn hóa đọc là quyền lợi của tất cả mọi người, cho nên văn hóa đọc là rất cần đối với đồng bào dân tộc miền núi, nhưng để biết họ có cần văn hóa đọc không cũng là một câu hỏi, một thách thức đối với các ban ngành đoàn thể, trong đó có các hoạt động Thư viện Tổng hợp tỉnh.
Thực hiện Đề án:“Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 329/QĐ-TTg, xác định mục tiêu cụ thể là: “Xây dựng và phát triển thói quen, nhu cầu, kỹ năng và phong trào đọc sách trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên, học sinh, sinh viên và chú trọng tới người dân ở vùng nông thôn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; cải thiện môi trường đọc; góp phần nâng cao dân trí, phát triển tư duy, khả năng sáng tạo, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, tâm hồn, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật, hình thành lối sống lành mạnh trong con người, xã hội Việt Nam, đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập”. Từ đề án, nhiều hoạt động sôi nổi, hữu ích, góp phần xây dựng môi trường đọc thân thiện, tiện ích giúp cho người dân có thể tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin, tri thức hiệu quả, như các cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc, Liên hoan thư viện toàn quốc tuyên truyền phát triển văn hóa đọc và giới thiệu sách,… nhằm đưa văn hóa đọc ngày càng lan tỏa sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, ở nhiều vùng miền khác nhau. Đây được xem là hướng đi bền vững để thúc đẩy văn hóa đọc đối với đồng bào dân tộc miền núi hiện nay.
Nhớ lại câu chuyện cách đây không lâu, khi đoàn công tác Thư viện Tổng hợp tỉnh đi phục vụ sách lưu động về cơ sở cho các em học sinh miền núi xã Trà Xinh, huyện Trà Bồng: “Sau khi trưng sách ra các kệ bục, tôi nghe văng vẳng câu nói của một em học sinh nữ. Thầy ơi! vì nó tưởng mình là giáo viên. Vừa cầm cuốn sách trên tay, vừa đi vừa nói. Thầy ơi cho em hỏi? quả này là quả gì ạ, ăn được không thầy? Nhìn khuôn mặt ngây thơ gầy gò, làn da đen và mái tóc vàng hoe vì đội nắng mỗi ngày đến trường của em mà thương lắm. Tôi đáp. Em muốn hỏi gì nào? Thấy em vừa chỉ vào bức hình, vừa nói: Thầy ơi quả này là quả gì ạ, có phải quả cà chua không? Sao em không đọc chú thích bên dưới hình. Nhưng em lại im lặng, chắc bỡ ngỡ vì chúng tôi mới gặp nhau. Tôi xem quyển sách, nội dung là những những bức hình về các loại rau, củ, quả để học sinh trả lời câu hỏi đúng. Tôi hỏi, em học lớp 3 sao không biết quả này là quả ớt ngọt Đà Lạt. Thấy em cũng phân vân, chắc vì sợ hỏi nhiều nên ngậm ngùi, mặt nhìn vào cuốn sách và tiếp tục lật từng trang. Tiếp lời tôi giải thích, đầy là quả ớt ngọt được người nông dân trồng ở Đà Lạt rất nhiều, vì ở đó có thời tiết se lạnh, phù hợp cho cây phát triển. Quả ớt có nhiều dinh dưỡng cho bữa ăn của chúng ta hằng ngày”. Đây được xem là một điều tra nhỏ về văn hóa đọc cho thấy học sinh đồng bào dân tộc miền núi cần lắm những hoạt động phục vụ sách và các chương trình giáo dục ở miền xuôi lên để tổ chức các hoạt động sách, báo, nhất là đưa các loại sách, báo mới phát hành có chất lượng như hiện nay.
Các chuyên gia cho rằng: “Văn hóa đọc” là nâng cao dân trí, là một trong các vũ khí để xóa đói, giảm nghèo, để xóa bỏ hủ tục, để tiếp cận văn minh. Nếu nói “to tát” hơn là để phấn đấu cho mục tiêu công nghệ hóa, hiện đại hóa ở vùng các dân tộc, đồng thời bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc”. Trong thời đại thông tin hiện nay, văn hóa nghe, nhìn có vị trí, thế mạnh của nó, nhưng như thế không có nghĩa là sẽ thay thế văn hóa đọc với ưu thế sâu sắc, lâu dài của từng ấn phẩm.
Chúng tôi đồng ý với tác giả Vi Hồng Nhân: “Cho rằng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không có hoặc chưa có nhu cầu đọc sách, báo là không đúng. Vùng dân tộc thiểu số, miền núi có nhiều tộc người, có nhiều bộ phận dân cư với nhiều trình độ học vấn khác nhau. Có những vùng, những tộc người tỉ lệ mù chữ còn cao cũng có những vùng, những tộc người tỉ lệ người đi học và học cao không kém ở miền xuôi. Trong các dân tộc, không thiếu người làm cán bộ, thầy cô giáo, đặc biệt là học sinh ở các trường phổ thông. Nhiều bản làng, nhiều gia đình đồng bào có người đi thoát li, đi học hoặc làm cán bộ ở cơ sở. Những đối tượng ấy rất cần có sách báo. Không nên đòi hỏi ngay một phong trào rầm rộ đều khắp về đọc sách báo ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa trong khi chúng ta chưa tổ chức làm những sách báo có nội dung phù hợp hoặc chưa có những thiết chế phục vụ văn hóa cho đồng bào”[4].
Điều đó hoàn toàn là đúng với câu hỏi “đồng bào dân tộc thiểu số miền núi có cần văn hóa đọc hay không”, tức là họ đang rất cần, nhưng chúng ta đã làm những sách báo có nội dung phù hợp và xây dựng những thiết chế phục vụ văn hóa cho đồng bào chưa? Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa quan trọng phát triển kinh tế nông thôn, trong đó một trong các tiêu chí để hoàn thiện chương trình nông thôn mới, đó là xây dựng thiết chế văn hóa, đây là thiết chế có tính kết hợp vừa là nơi sinh hoạt động đồng, vừa là nơi để lan tỏa văn hóa đọc. Vì vậy, Thư viện Tổng hợp tỉnh chủ yếu chọn điểm Nhà văn hóa thôn để xây dựng phòng đọc cơ sở, phổ biển thông tin, kỹ năng đọc cho người dân. Đồng thời, kết hợp với chính quyền địa phương phải thường xuyên tổ chức các hoạt động đọc sách để người dân có một thói quen tìm kiếm thông tin, dần dần trở thành trào lưu văn hóa đọc được lan tỏa rộng rãi hơn.
Văn hóa đọc là điều cần thiết ở mọi nơi, mọi địa phương, bởi lẽ có sự xuất hiện của văn hóa đọc là có mặt của hoạt động trao truyền tri thức, học tập và giáo dục. Ngày nay, thông tin được sẻ chia, kết nối và lưu trữ một cách dễ dàng; các ứng dụng khoa học công nghệ ngày càng tiện ích, vì vậy để bắt kịp với đời sống buộc mọi người phải không ngừng học tập. Đối với những người dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi, việc phổ cập tri thức, phổ cập giáo dục, pháp luật của Nhà nước, cũng như các kiến thức về an ninh, văn hóa, chính trị, xã hội, y tế, quốc phòng và các vấn đề trong cuộc sống luôn phải được quan tâm hàng đầu, giúp họ có được cuộc sống tốt đẹp hơn, hòa nhập được với thực trạng phát triển không ngừng của xã hội hiện nay.
5. Các chủ trương, chính sách pháp luật về xây dựng văn hóa đọc
- Luật Thư viện ngày 21/11/2019;
- Nghị định số 93/2020/NĐ-CP ngày 18/8/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thư viện;
- Quyết định số 284/QĐ-TTg ngày 24/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Sách Việt Nam;
- Quyết định số 329/QĐ-TTg, ngày 15/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 206/QĐ-TTg ngày 11/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình “Chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”;
- Thông tư số 18/2014/TT-BVHTTDL ngày 08/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của thư viện;
- Thông tư số 13/2016/TT-BVHTTDL ngày 09/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định quy chế mẫu hoạt động của thư viện công cộng cấp tỉnh, huyện, xã;
- Thông tư số 33/2018/TT-BVHTTDL ngày 15/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài liệu;
- Thông tư số 05/2020/TT-BVHTTDL ngày 28/8/2020 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về đánh giá hoạt động thư viện;
- Quyết định số 4831/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về định mức kinh tế kỹ thuật trong hoạt động xử lý kỹ thuật, xây dựng cơ sở dữ liệu, bộ máy tra cứu các loại tài liệu;
- Quyết định số 4763/QĐ-BVHTTDL ngày 26/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về định mức kinh tế kỹ thuật trong hoạt động cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ lưu động ngoài thư viện, phục vụ người khuyết tật;
- Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Khóa XII - Kỳ họp thứ 6 về việc thông qua Đề án Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững;
- Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày 05/9/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt Đề án Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững.
- Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 10/1/2022 về việc ban hành Đề án kiện toàn và củng cố hệ thống thư viện công cộng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030.
6. Một số giải pháp xây dựng văn hóa đọc cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi
Thứ nhất, để có văn hóa đọc thì người dân phải biết chữ và hiểu chữ, chính vì vậy công tác giáo dục để xóa nạn mù chữ là điều cần được quan tâm đầu tiên của các cấp, ban ngành địa phương.
Thứ hai, đầu tư kinh phí để tổ chức các hoạt động phát triển văn hóa đọc, xây dựng các điểm đọc sách, phòng đọc cơ sở, mua sắm trang thiết bị, vốn tài nguyên thông tin (phù hợp với trình độ dân trí, nhu cầu của từng địa phương ở 5 huyện miền núi trong tỉnh), máy tính kết nối Wifi,…
Thứ ba, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, người phụ trách các thư viện xã, thư viện trường học, phòng đọc cơ sở, người phụ trách điểm đọc. Đặc biệt là tổ chức biên soạn các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ thư viện các cấp.
Thứ tư, truyền thông thư viện, quảng bá, giới thiệu các hoạt động phát triển văn hóa đọc, xây dựng các chiến lược hành động, phát huy phong trào ở nhiều nơi, nhiều vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
7. Kết luận
Hội thảo lần này là để các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa nghệ thuật, các văn nghệ sĩ chia sẽ những ý kiến, trao đổi kinh nghiệm học thuật, các vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, văn nghệ các dân tộc miền núi Quảng Ngãi, cũng như các tỉnh Nam Trung bộ trong thời đại phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay, trong đó có hoạt động của thư viện và phát triển văn hóa đọc. Văn hóa đọc đem lại thông tin, tri thức cho người dân để từ đó họ có thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống của mình. Đồng bào tộc thiểu số miền núi là những đối tượng cần được quan tâm về mọi mặt nên hằng năm đã có nhiều cá nhân, tổ chức các cuộc từ thiện để giúp đỡ cuộc sống cho họ nhưng “cho con cá không bằng cho cái cần câu”, vì vật chất cho đi cuối cùng cũng sẽ hết, điều quan trọng là chúng ta phải làm thế nào để giúp họ tạo ra sản phẩm, vật chất cho mình. Nói như vậy, chúng ta không phải phê phán về vấn đề quyên góp giúp đỡ người đồng bào dân tộc thiểu số, mà ngược lại chúng ta rất trân trọng điều đó và cũng cần đẩy mạnh các phong trào giúp đỡ người dân tộc thiểu số bằng nhiều hình thức khác nhau và bằng những công việc thiết thực để họ có cuộc sống ổn định dài lâu, đó là xây dựng cho họ văn hóa đọc để phát triển bền vững./.
Tài liệu tham khảo
1. Vũ Dương Thúy Ngà (2013), “Để phát triển thư viện, tủ sách cơ sở - tất cả bắt đầu từ chính sách”, Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 6, 2013.
2. Vi Hồng Nhân (2004), “Cần có nhận thức đúng về văn hóa đọc ở vùng dân tộc thiểu số”, Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa đọc ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, Hà Nội.
3. Nguyễn Hữu Viêm, https://nlv.gov.vn/van-hoa-doc/van-hoa-doc-va-phat-trien-van-hoa-doc-o-viet-nam.html.
4. https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/cac-nha-khoa-hoc-canh-bao-thoi-quen-doc-sach-cua-nguoi-viet-dang-giam-sut-38842.html.
5. https://baovanhoa.vn/doi-song/tuoi-tre-quang-ngai-phat-trien-van-hoa-doc-trong-thoi-dai-so-90555.html.
6. https://thuvienquangngai.vn/the-le-cuoc-thi-dai-su-van-hoa-doc-tinh-quang-ngai-nam-2024.
[1] Báo cáo Số 107 -BC/TUngày 09 tháng 8 năm 2021 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi về tổng kết Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị, khóa XI về “phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 05 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn”.
[2] Theo thông tin từ Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ngãi thì Quảng Ngãi có khoảng 133.103 người dân tộc Hrê sinh sống, chiếm khoảng 10,8% dân số cả tỉnh; hơn 33.227 người dân tộc Co, chiếm 2,7% dân số cả tỉnh. Có thể nói, sự ra đời của Cơ sở dữ liệu điện tử tiếng đồng bào dân tộc thiểu số Việt - Hrê, Việt - Co nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương.
[3] https://nlv.gov.vn/van-hoa-doc/van-hoa-doc-va-phat-trien-van-hoa-doc-o-viet-nam.html.
[4] Vi Hồng Nhân (2004), “Cần có nhận thức đúng về văn hóa đọc ở vùng dân tộc thiểu số”, Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa đọc ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, Hà Nội, tr.25-31.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét