Thứ Tư, 30 tháng 10, 2024

TỪ SẢN VẬT “TIẾN VUA” ĐẾN KHÁT VỌNG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU GẮN VỚI VĂN HOÁ BẢN ĐỊA (Võ Văn Minh, Trương Anh Thuận)

Phát triển bền vững (PTBV) là một thuật ngữ có ý nghĩa toàn cầu, ra đời trong thời kì thế giới đối mặt với các vấn đề khủng hoảng môi trường, suy thoái đa dạng sinh học, bất bình đẳng xã hội… Đảng và Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam trong thời gian qua đã khẳng định phương châm và mạnh mẽ cam kết với quốc tế về các mục tiêu PTBV. Bình Sơn là một huyện thuộc tỉnh Quảng Ngãi cũng không đứng ngoài công cuộc phát triển chung của đất nước. 

Để hướng đến các mục tiêu PTBV, Đại hội Đảng bộ huyện Bình Sơn lần thứ 27 cũng xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm, đó là “phát triển dịch vụ tương xứng với tiềm năng, lợi thế so sánh của huyện; tập trung đầu tư và huy động nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đưa huyện Bình Sơn đạt chuẩn nông thôn mới và đẩy mạnh việc ứng dụng có hiệu quả các lĩnh vực khoa học và công nghệ vào sản xuất và quản lý”. Bình Sơn trong chiến tranh chống Mỹ từng được biết đến có một Vạn Tường với trận đầu đánh Mỹ. 

Trong thời kì CNH-HĐH được định vị bởi Nhà máy lọc dầu số 1 của Việt Nam gắn với Cảng nước sâu Dung Quất. Nhưng xa hơn, nhìn sâu vào lịch sử thì cũng chính nơi đây đã từng ghi dấu một thời mở cõi về phương Nam của vua Lê Thánh Tông. Quá trình phát triển của một vùng lãnh thổ luôn là hoà quyện giữa đất và người, và thường lưu lại những sợi dây kết nối giữa triều đình và địa phương bằng những sản vật quý. Bình Sơn là một vùng đất còn lưu vết những giá trị như vậy. Thời nay, để hướng đến mục tiêu PTBV, chúng ta không chỉ kì vọng vào những công trình được đầu tư để phát triển công nghiệp, mở rộng đô thị… mà cần khơi dậy, làm hồi sinh những giá trị từ lịch sử, đó chính là “chìa khoá” kết nối quá khứ - hiện tại - tương lai, từ đó kiến tạo một tương lai bền vững hơn.

1. Bình Sơn với bước chân của vua Lê Thánh Tông tại cửa Thái Cần - nơi ghi dấu cuộc hành binh lịch sử và một sản vật lưu truyền

Bình Sơn là vùng đất có lịch sử lâu đời. Các di vật khảo cổ đã cho thấy cách đây 3.500 năm - 2.500 năm trước, lớp cư dân Sa Huỳnh đã có mặt tại đây. Tiếp sau đó là lớp cư dân Chăm sinh sống và đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông hành binh mở cõi, người Việt bắt đầu thay thế và cư ngụ đến ngày nay[1].

Thái Cần là cửa biển đã được nhà vua đặt chân đến đầu tiên và tên gọi đó cũng được cho là liên quan đến một loài rau thuỷ sinh giàu có ở vùng này. Tên của một loài rau được đặt tên cho một địa danh và được lịch sử nhắc đến với hành trình mở cõi của nhà vua, hẳn là loài này cũng có ý nghĩa hết sức đặc biệt nên mới được lưu truyền qua hàng thế kỉ.

Trong tự nhiên, thực vật có mặt khắp hành tinh, nhưng mỗi vùng đều có những đặc điểm riêng gắn liền với môi trường sống xung quanh. Một cộng đồng sống tại một vùng đất, để tồn tại cũng phải thích nghi với môi trường thông qua các nguồn thức ăn và nơi ở. Cửa Thái Cần hay Sa Cần, Mễ Cần… nay là cảng Dung Quất gắn với chữ “Cần” - tức một loài rau thuỷ sinh, từng được nhắc đến khi nhà vua đặt chân đến đã cho quân thu hái để làm thức ăn. 

Đây là thông tin có nhiều điều đáng suy ngẫm trong xu thế hướng về các nguồn thực phẩm tự nhiên, hướng đến nền kinh tế biển xanh và hình thành các thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh cao… Một thương hiệu cho các sản phẩm tự nhiên gắn với một địa danh kết chặt với câu chuyện lịch sử trên 500 năm, có rất nhiều tiềm năng trở thành thương hiệu mạnh, nhiều ý nghĩa và quan trọng hơn là có thể phát triển kinh tế thông qua việc “hồi sinh” các giá trị văn hoá - lịch sử đến bảo tồn được các giá trị tự nhiên, đặc hữu của một vùng đất.

2. Nghĩa Sâm: một sản vật quý trên vùng đất Bình Sơn đã bị lãng quên, rất cần được hồi sinh thành thương hiệu lớn

“Nghĩa sâm” là tên gọi dùng để chỉ một giống sâm bản địa ở Bình Sơn, Quảng Ngãi, đã được Nguyễn Cư Trinh - Tuần vũ Quảng Ngãi nhắc đến lần đầu tiên trong bài thơ Vịnh An Hải sa bàn vào năm 1750:

“Bàn Cổ xưa kia kế đã thâm

Khéo bày lọc cát đúc thành mâm

Khạc ra cá nhảy đầy Đông hải

Dọn những mùi ngon rặt nghĩa sâm

Chợ cách hóa nên non nước thế

Đũa giơ rồi rủ gió trăng ngâm

Mời ông Điếu Tẩu Sa Kỳ tới

Rót chén yên hà để dưỡng tâm”[2]

Đến thế kỉ XIX, Nghĩa Sâm một lần nữa được các sử thần triều Nguyễn đề cập đến trong các bộ sử lớn của vương triều và loài sâm này được biết đến trước Quảng sâm, tức sâm Bố chính ở Quảng Bình.

Mặc dù từng có tên tuổi trong các bộ sử lớn, nhưng qua thời gian, “Nghĩa sâm” đã dần bị lãng quên. Cho đến nay, rất nhiều người sống ngay tại Bình Sơn – vùng đất sản sinh ra “Nghĩa sâm” trong quá khứ nhưng vẫn không hề biết đến tên gọi của loại thổ sản độc đáo này.

Căn cứ vào các tư liệu lịch sử như Đại Nam thực lực, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ…., “Nghĩa sâm” được đề cập ở một số phương diện sau đây:

Về địa bàn phân bố, trong Đại Nam thực lục chỉ ghi chép một cách chung chung rằng, các núi ở vùng Sa Kỳ, tức Bình Sơn ngày nay là nơi sản sinh nhiều Nghĩa sâm[3]. Tuy nhiên, Đại Nam nhất thống chí, trong phần viết về thổ sản của tỉnh Quảng Ngãi, đã đề cập một cách khá chi tiết về địa điểm phân bố của Nghĩa sâm. Theo đó, Nghĩa sâm sinh trưởng và được tìm thấy nhiều ở núi Trung Sơn và núi Sâm Hội. 

Núi Trung Sơn “ở cách huyện Bình Sơn chừng 1 dặm về phía đông nam, tục gọi là núi Phố Tiên. Núi chia làm nhánh, về phía đông bắc đứng sững trên bời biển, về phía tả núi là chỗ phát nguyên của nước khe, vì bên ngoài có núi cát chắn ngang, nên nước không chảy về phía đông mà chảy ngược về phía tây nam, rồi lại quanh chảy về phía đông, về phía hữu núi, nước khe chảy vào sông Châu tử, sản những son (Chu sa) và sâm tốt”[4]. Đoạn chép về núi Sâm Hội cho biết, núi này “ở cách huyện Bình Sơn 70 dặm về phía đông nam, trên núi gò chòm đứng sững, người ta lên núi giậm chân hoặc đẵn cây đều nghe có tiếng ầm ầm như sấm, nên tục gọi núi Thình Thình. Núi có sản xuất thổ sâm”[5]. Ngoài ra, trong sách Đại Nam nhất thống chí bản tục biên đời vua Duy Tân và bản đồ Đồng Khánh dư địa chí còn cho biết thêm, ngoài các núi ở huyện Bình Sơn thì Nghĩa sâm còn sinh trưởng nhiều ở các núi Tam Thai, La Vọng và A Linh[6], nay thuộc thành phố Quảng Ngãi.

Về đặc điểm sinh học, Đại Nam nhất thống chí, trong phần viết về Nghĩa sâm của tỉnh Quảng Ngãi, đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến đặc điểm sinh học của loại sâm này. Theo đó, Nghĩa sâm “tháng Hai, tháng Ba nở hoa….. Thứ sâm này có vằn ngang cũng như bắc sâm, vị ngọt và thanh đạm”.

Về hoạt động quản lí, dưới thời Gia Long, công tác khai thác loại thổ sản Nghĩa sâm đã được tổ chức một cách bài bản và chặt chẽ. Đại Nam thực lục có ghi rõ, Gia Long năm thứ 18 [1819], tháng 11, triều đình cho “đặt đội thái sâm [lấy sâm] ở Quảng Ngãi. “Các núi ở Sa Kỳ sản nhiều sâm, hạ lệnh cho trấn thần đặt đội lấy sâm, mộ dân ngoại tịch 50 người sung vào”[7]. Trong khi đó, mãi đến tháng tư, Minh Mệnh năm thứ 9 (1828), thì triều Nguyễn mới cho đặt sâm hộ ở huyện Bình Chính dinh Quảng Bình[8]. Điều đó cho thấy, triều đình đã giành sự quan tâm sâu sắc và tổ chức khai thác Nghĩa sâm ở Quảng Ngãi sớm hơn so với Quảng sâm ở Quảng Bình. Ngoài việc lập đội khai thác sâm, dưới thời trị vì của Minh Mệnh, triều Nguyễn đã tiến một bước nữa trong việc quản lí Nghĩa sâm bằng việc định lệ thuế sâm vào tháng 4 năm 1821. 

“Định lệ thuế sâm ở Sa Kỳ (trên núi) Quảng Ngãi (Sâm hộ có 30 người, hằng năm mỗi người nộp 3 cân sâm, không có sâm thì theo lệ biệt nạp, nộp thay bằng 8 quan tiền)”[9]. Không có những ghi chép cụ thể về việc khai thác Nghĩa sâm và đóng thuế của các sâm hộ, tuy nhiên đến tháng 10 năm 1882, lúc bấy giờ, sản lượng Nghĩa sâm không còn nhiều nữa, các sâm hộ thường xuyên không nộp đủ thuế sâm, nên trên cơ sở ý kiến của Thái y viện, Tự Đức đã cho dừng hoạt động của đội thái sâm ở Quảng Ngãi: “Thứ sâm sinh ra ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, hạng già là tốt. Nguyên người hạt ấy mộ 30 tên dân đinh, đặt làm hội sâm đi tìm lấy, lệ đồng niên mỗi tên nộp 2 cân, hạng nhất chiết nộp mỗi cân 4 quan 3 tiền, hạng nhì mỗi cân 3 quan 8 tiền, chước trừ thuế thân giao dịch. Nhiều lần hội đinh thiếu nhiều, ngạch thuế không đủ, đã sai xét nghĩ. Viện Thái y cho rằng, sâm ấy ít dùng, bãi đi. Lính mộ đều cho về quê chịu sai dịch”[10].

Từ sử liệu, ngày nay giống sâm này đã được nhóm nghiên cứu từ Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng tìm ra dấu vết và bước đầu nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau giữa sâm Bố Chính và Nghĩa Sâm trên cả khía cạnh sinh học và hoá học. Đây là cơ sở quan trọng để địa phương quan tâm đầu tư xây dựng một thương hiệu sâm cho Bình Sơn và Quảng Ngãi, đồng thời cũng góp phần “phục hồi sinh thái”, hướng đến mục tiêu PTBV.

3. Những bài học về thương hiệu, Bình Sơn có thể tham khảo

Ngày nay, chúng ta chỉ cần nghe nói đến “xứ kim chi” là liên hệ ngay đến Bán đảo Triều Tiên. Kim chi chỉ là một món ăn bình thường, không phải được chế biến từ “sơn hào hải vị” và thậm chí về giá trị dinh dưỡng cũng còn đang bàn cãi trong giới khoa học. Nhưng thương hiệu “kim chi” đã gắn với tên tuổi của một vùng đất và giá trị mang lại cho vùng đất này không thể lượng hoá bằng tiền một cách dễ dàng. Đơn giản là tên gọi này bắt nguồn từ thời cổ đại, được lưu giữ các giá trị truyền thống và chú trọng đến giá trị thương hiệu qua truyền thông.

Một thương hiệu khác cũng vô cùng giá trị mà chúng ta cần suy ngẫm, đó là Sâm Hàn Quốc. Hàn Quốc không phải là quốc gia duy nhất có sâm, và các giống sâm ở quốc gia này chưa hẳn là “đặc sản”, “đặc hữu” nhưng giá trị thương hiệu được kiến tạo thì đã vượt cả trăm lần so với giá trị dược liệu mà nó mang lại.

Một ví dụ khác cũng đáng suy ngẫm, đó là Nhật Bản. Quốc gia này không phải là xứ sở của tảo xoắn, nhưng tra trên google từ khoá “tảo xoắn Nhật Bản” trong 0,34 giây cho ra ngay khoảng 1.310.000 kết quả. Chúng ta biết tảo xoắn là loài vi tảo kì diệu, xuất hiện trên hành tinh chừng 3,5 tỉ năm, có một giá trị dinh dưỡng và dược liệu cực lớn, đã được các tổ chức quốc tế lớn như WHO, UN, UNESCO, NASA, ESA, FDA[11]… xác nhận sau khi người phương Tây phát hiện từ nửa sau của thế kỉ XX từ một nguồn thức ăn của thổ dân ở Nam Mỹ và Châu Phi. Vậy mà sau đó, người Nhật đã tiếp cận và phát triển thành thương hiệu Nhật. Và tất nhiên, thương hiệu đó đã đem lại cho nước Nhật một giá trị to lớn.

Ở Quảng Nam, một tỉnh liền kề Quảng Ngãi ngày nay được biết đến với “Quốc bảo” Ngọc Linh. Tuy nhiên, Ngọc Linh chỉ là một thương hiệu rất mới. Dưới thời Nguyễn, sâm của Việt Nam được nhắc đến với 2 cái tên, đó là Nghĩa Sâm và Quảng Sâm. Mặc dù, Quảng Nam trước đó sâm chưa được nhắc tên, nhưng một sản vật “tiến vua” đã được gìn giữ và khai thác đến tận bây giờ đó là Yến Cù Lao Chàm. Đây là một “hải vị” của người Việt từng được lan truyền đến tận châu Âu cũng như cung cấp cho các bàn ăn của giới nhà giàu Trung Hoa. “Tổ yến được khám phá ở Nam-Ngãi và được trình lên vua. Giữ lời hứa và tỏ long biết ơn, Gia Long đã ban thưởng cho người tìm ra tổ yến những tước vị cao quý. Nhưng người này đã có một tinh thần rất thực dụng, ông ta không nhận những tước vị này mà xin vua cho mình và hậu duệ được độc quyền khai thác nguồn lợi. Gia đình này hằng năm phải trả hiện vật cho chính phủ hoàng gia một khoản tô thuế tương đối lớn (khoảng 80 cân)”. “Dần dần họ hình thành nên một kiểu quân đoàn từ 40-50 người”[12]. Đối với người phương Tây, tổ yến không phải là thứ ưu chuộng, bởi vì theo họ “bằng trải nghiệm và dứt khoát, chúng tôi tin rằng sự phù phiếm đóng vai trò lớn hơn là mĩ vị trong món ăn này”[13]. Mặc dù không có thị trường rộng trên phạm vi toàn cầu, nhưng với cách thức tiếp cận phân khúc thị trường thượng đẳng ở Châu Á, tổ yến Cù Lao Chàm qua hàng trăm năm vẫn duy trì và hằng năm vẫn đóng góp ngân sách hàng trăm tỷ đồng cho địa phương. Đây được ví là “vàng trắng” mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất đảo Cù Lao Chàm, TP. Hội An.

Cùng là sản vật từ thiên nhiên, mỗi nơi tiếp cận một cách nhưng cốt vẫn ở chỗ gìn giữ được các giá trị của tự nhiên cũng như văn hoá gắn liền, để khai thác lâu dài, bền vững và nhất là khi đã xây dựng được thương hiệu thì giá trị vô cùng to lớn. Đó cũng là những gợi mở cho Bình Sơn với khát vọng hướng đến PTBV trên nền tự nhiên và văn hoá.

4. Giá trị thương hiệu mạnh bắt nguồn từ những giá trị văn hoá

Mỗi một vùng đất đều có một lịch sử hình thành và phát triển, ở đó có những bài học vô cùng giá trị cần phải được chiêm nghiệm từ lịch sử. Mỗi khi những giá trị ấy bị lãng quên thì chắc chắn sẽ mất đi kết nối với quá khứ, như cây thiếu cội, như sông thiếu nguồn. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và tuổi trẻ của chúng ta ngày hôm nay cũng được giáo dục về truyền thống tốt đẹp đó. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều khi chúng ta chỉ mới chăm lo gìn giữ được một phần của những giá trị truyền thống mà chưa thấu tới cội-nguồn, nhất là ở những tầng sâu văn hoá.

Dân bản địa là “nguồn gen” lưu giữ cội-nguồn của một vùng đất. Đầu tư phát triển kinh tế ở một địa phương, trước tiên cần phải lưu tâm đến “nguồn-gen” bản địa này. Bởi những giá trị vật chất hiện hữu hôm nay chúng ta có thể nhìn thấy được, tất thảy đều là một phần hồn-cốt, xương máu của những con người bản địa còn lại nơi này. Họ sống, mưu sinh và gìn giữ những giá trị nguồn-cội. Cộng đồng, dân tộc nếu biết gìn giữ và trân quý những giá trị lịch sử, văn hoá cội nguồn thì sẽ luôn trường tồn. Ngược lại, những cộng đồng, dân tộc chỉ chạy theo những giá trị vật chất và bề-nổi, lãng quên lịch sử, văn hoá truyền thống thì sẽ khó có tương lai… Đó là bài học lớn trên phạm vi toàn cầu[14] và người Việt luôn thấu hiểu về điều đó.

Giá trị dược liệu, vị thơm ngon, bổ dưỡng của các sản vật đều rất quý, cần gìn giữ, nhưng giá trị về kinh tế, tinh thần và thương hiệu… của các sản phẩm không đơn giản chỉ là những giá trị mà chúng ta có thể đo đếm, ngửi nếm được bằng các thiết bị tân tiến hay giác quan. Chúng cư-ngụ từ trong những cốt chuyện lịch sử hoà quyện vào ý thức tôn-trọng của thế hệ hiện tại gắn với những câu chuyện đó. Đó chính là văn hoá. Điều đó thật sự có ý nghĩa. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức ngày 24/11/2021, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định rất rõ ràng rằng: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hoà với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta”. Do vậy, khi xây dựng thương hiệu cho các sản vật của Bình Sơn, rất cần khai thác chiều sâu ở những giá trị về văn hoá.

*

* *

Tóm lại, Bình sơn có Nhà máy lọc dầu số 1 gắn với cảng nước sâu Dung Quất đã là những chỉ dẫn thương hiệu mạnh, đại diện cho thời kì CNH-HĐH. Ở khía cạnh văn hoá, Bình Sơn còn ẩn chứa trong sâu thẳm những lớp tầng giá trị, chưa được khai thác hay nói cách khác là chưa phát huy hết tiềm năng của những giá trị văn hoá, tinh thần. Thuỷ Cần, Nghĩa Sâm… là những sản vật có giá trị vật chất và tinh thần gắn chặt với vùng đất này qua thời gian và cũng đã ít nhiều bị lãng quên, đến nay rất cần nhận thức đầy đủ và “khai quật” từ những lớp bồi-tụ của lịch sử, để làm nền tảng vững chắc bước vào thập niên xanh, kỉ nguyên hành động vì sự PTBV.



TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Camille Paris. Du kí Trung Kì theo đường Cái Quan. Nguyễn Thuý Yên dịch. Hà Nội: NXB Hồng Đức, 2021.
2. Cao Chư. Sâm Quảng Ngãi nổi tiếng một thuở. URL: https://baoquangngai.vn/channel/2047/202112/sam-quang-ngai-noi-tieng-mot-thuo-3096160/index.htm (truy cập ngày 17/02/2022).

3. Huyện uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Bình Sơn. Địa chí huyện Bình Sơn. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 2021.
4. Jared Diamond. Sụp đổ - Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào? Hà Nội: NXB Tri thức, 2010.
5. Võ Văn Minh và tác giả khác. Tảo xoắn: bảo vệ sức khoẻ và trái đất. Hà Nội: NXB Thông tin Truyền thông, 2020.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 1. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2002.
7. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 2. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2006.

Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 9. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2006.




[1] Huyện uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Bình Sơn. Địa chí huyện Bình Sơn. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 2021.

[2] Cao Chư. Sâm Quảng Ngãi nổi tiếng một thuở. URL: https://baoquangngai.vn/channel/2047/202112/sam-quang-ngai-noi-tieng-mot-thuo-3096160/index.htm (truy cập ngày 17/02/2022).


[3] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 1. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2002, tr. 1000; Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 2. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2006, tr. 130.


[4] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, tập 2. Huế: Nxb. Thuận Hoá, tr. 483.


[5] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, tập 2. Huế: Nxb. Thuận Hoá, tr. 480.

[6] Cao Chư. Sâm Quảng Ngãi nổi tiếng một thuở. URL: https://baoquangngai.vn/channel/2047/202112/sam-quang-ngai-noi-tieng-mot-thuo-3096160/index.htm (truy cập ngày 17/02/2022).


[7] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 1. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2002, tr. 1000.


[8] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 2. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2006, tr. 729.


[9] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 2. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2006, tr. 130.


[10] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 9. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 2006, tr. 114.


[11] Võ Văn Minh và tác giả khác. Tảo xoắn: bảo vệ sức khoẻ và trái đất. Hà Nội: NXB Thông tin Truyền thông, 2020.


[12] Camille Paris. Du kí Trung Kì theo đường Cái Quan. Nguyễn Thuý Yên dịch. Hà Nội: NXB Hồng Đức, 2021.


[13] Camille Paris. Du kí Trung Kì theo đường Cái Quan. Nguyễn Thuý Yên dịch. Hà Nội: NXB Hồng Đức, 2021.


[14] Cuốn Sụp đổ - Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào? của Jared Diamond, NXB Tri thức, đã chứng minh rõ điều đó.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...