Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2024

GIÁO SƯ ĐOÀN THIỆN THUẬT NGỮ ÂM HỌC VỚI ĐỜI THƯỜNG (PGS. TS. Phạm Văn Tình)

Cách đây 11 năm (năm 2013), khi nhóm cựu sinh viên chúng tôi còn đang loay hoay với bản thảo “Giáo sư Đoàn Thiện Thuật – chân dung một người thầy” thì thầy Thuật liên tục gọi điện cho tôi, giục làm nhanh cho kịp vào dịp thầy vào tuổi 80 (2014). Lần nào thầy cũng nói: “Các cậu làm không nhanh thì có khi tôi “không kịp sống” cho đến ngày ra sách đâu”. Thế là chúng tôi phải vắt chân lên cổ chạy cho kịp. Cuốn sách đã ra mắt rất kịp thời, đúng dịp Lễ mừng GS Đoàn Thiện Thuật thượng thọ tám mươi (10-2014).

GS Đoàn Thiện Thuật sinh ngày 28-10-1934, tại thôn Cự Lộc, nay là phố Cự Lộc, thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nhưng thân phụ ông đã ra ở phố Bát Sứ để học chữ Nho từ 5 tuổi. Đoàn Thiện Thuật là con thứ hai trong gia đình có 4 anh em. Với thói quen được rèn giũa từ nhỏ, lại thêm nếp sống tất bật vừa làm công tác đoàn thể vừa học tập, nên khi giảng dạy, Đoàn Thiện Thuật vẫn dành nhiều thời gian tự học để vươn lên và đã đạt được học vị Phó Tiến sĩ (Tiến sĩ), sau đó là học hàm PGG và GS khá sớm so với nhiều đồng nghiệp khác.

GS Đoàn Thiện Thuật có một tác phong làm việc rất chuẩn mực, một phong cách giảng dạy độc đáo, nghiêm túc, cặn kẽ, rành mạch. Ngữ âm học thường được cho là môn học khô khan, khó hiểu, nhưng giờ giảng của thầy vẫn nhẹ nhàng, hấp dẫn. Trong giảng dạy thầy chú ý nhiều đến thực hành. Thầy đã khêu gợi cho sinh viên những vấn đề còn bỏ ngỏ, khuyến khích ở họ lòng ham thích tìm hiểu, nghiên cứu.

Anh Đỗ Tiến Thắng (cựu sinh viên của thầy Thuật, đã mất) kể lại: “Phần lớn các giáo sư khoa Ngữ Văn mà tôi được học đều có những cách trình bày bảng rất “phăng-te-di” (fantaisie: khác thường, đặc biệt, thoáng đạt). Thầy Nguyễn Tài Cẩn thì làm cái bảng nát bét bởi các mũi tên, các đường ngang dọc rồi lấy tay xóa, rồi dùng chính bàn tay ấy vuốt ngược tóc. Thầy Bùi Ngọc Trác thì vẽ lên bảng một bức tranh trừu tượng bởi các hình tròn không hề tròn chút nào. Thầy Hoàng Trọng Phiến thì hút hồn học trò bằng ngữ điệu văn chương, còn bảng chỉ toàn chữ Tây... 

Nhưng thầy Đoàn Thiện Thuật thì không vậy. Tên bài, tên tiểu mục, tên ta, tên Tây, mở ngoặc, đóng ngoặc, lùi dòng... tất cả đều quy phạm bằng nét chữ nghiêng vừa độ, mảnh vừa độ, đậm vừa độ. Nhìn bảng thầy viết, học trò không phải nhọc công tóm tắt bài nữa. Với tôi, có lẽ số phận phải gắn với ngữ âm học suốt đời hay sao mà sau nhiều lần chuyển nhà, nhiều lần chạy mưa bão, lụt lội mà hai cuốn vở ghi bài giảng của thầy nay vẫn còn trên giá sách. Xem lại vở mới biết thầy “sư phạm” đến mức nào. Nếu lười suy nghĩ, bây giờ tôi có thể đem chúng “copy” lên bảng các đề mục, rồi đọc nội dung cho sinh viên chép lại mà vẫn “chuẩn” như thường”.

GS Đoàn Thiện Thuật thường nói: “Tự học phải là chính”. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, tại huyện Đại Từ (Thái Nguyên), thầy đã giảng chuyên đề lý thuyết về Âm vị học. Và cũng năm tháng ấy, dưới ngọn đèn dầu, thầy đã hoàn thanh bản thảo cuốn Ngữ âm tiếng Việt (một cuốn sách “giáo khoa kinh điển” cho mọi sinh viên chuyên ngành Ngữ âm học từ trước cho đến nay). Ông đã dốc toàn lực, đem tất cả những gì đã tích lũy được và đặc biệt là xem xét lại mọi vấn đề dưới ánh sáng của Đông phương học (mà GS Nguyễn Tài Cẩn đã có công đem về sau những năm tiếp cận với nền Ngôn ngữ học Xô viết).

Chúng ra biết rằng, trong tiếng Việt, ranh giới hình vị trùng với ranh giới âm tiết. Tuy nhiên, GS Đoàn Thiện Thuật không dừng lại ở Thanh mẫu và Vận mẫu như lý thuyết truyền thống Trung Hoa. Ông quan tâm đến một thực tiễn, chúng ta đang sử dụng chữ Quốc ngữ và việc dạy học ở nhà trường, nên buộc lòng phải đi đến những đơn vị nhỏ hơn. 

Ông cũng không gạt ra ngoài âm tiết yếu tố quan trọng gắn liền với âm tiết là Thanh điệu, như các nhà nghiên cứu phương Tây (vốn không coi Thanh điệu là một âm vị) và kể cả các sách vở Âm vận học truyền thống phương Bắc. Giáo sư phân định ba thành tố trực tiếp của âm tiết là Âm đầu, Phần vần và Thanh điệu. Sau đó là các yếu tố nhỏ hơn, cấu tạo nên Phần vần. Cái mới của sách Ngữ âm tiếng Việt (so với sách vở trước đây) chính là ở chỗ ấy. Nó cũng xuất phát từ đặc điểm của tiếng Việt, vốn không phải là một ngôn ngữ biến hình. Cuốn sách khi xuất bản đã gây một tiếng vang lớn ở trong và ngoài nước. Đó là tài liệu luôn được trích dẫn trong mọi công trình nghiên cứu và được đề cập đến tại nhiều hội thảo khoa học quốc tế. Sách được tái bản nhiều lần, xứng đáng được coi là sách “gối đầu giường”, là cơ sở cho việc biên soạn sách dạy ngữ âm trong trường học ở nước ta (bậc đại học cũng như bậc phổ thông).

Công tác ở trường đại học thì ngoài giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng là một nhiệm vụ quan trọng không kém. Từ buổi ban đầu đi nghiên cứu điền dã về tiếng Mường ở Thanh Hóa đến sau này qua những đợt hướng dẫn sinh viên thực tập, GS Đoàn Thiện Thuật luôn hướng tới mô hình đào tạo: Lấy thực tế phục vụ giảng dạy.

Khi Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội sơ tán lên Thái Nguyên, chính quyền địa phương (khi đó là Khu Tự trị Việt Bắc) đề nghị trường giải quyết giúp một khó khăn là việc lựa chọn tiếng Việt chuẩn của ngôn ngữ Tày Nùng để dùng vào việc phát thanh, mà trước đó các chuyên gia đã vào cuộc nhưng không thành công. Bộ môn Ngôn ngữ học đã ra quân đợt đầu trong một tháng để thăm dò, sau đó quyết định đưa cả sinh viên đi vào nghiên cứu. Một hai thầy đưa tất cả sinh viên năm thứ tư, tách khỏi trường đến các vùng có người Tày, người Nùng, ăn ở trong nhà dân để học tiếng. Hình thức “học tập tại thực địa” đó lần lượt được thực hiện mỗi năm ở một tỉnh. 

Song song với sinh viên năm thứ tư, các sinh viên lớp dưới trong đợt thực tập hằng năm tỏa ra thu thập tư liệu ở các địa phương còn lại, trong khu tự trị. Những tài liệu này được chuyển cho sinh viên năm cuối để làm luận văn tốt nghiệp. GS Đoàn Thiện Thuật đã đích thân quản lý các đợt “học tập tại thực địa”, đồng thời hướng dẫn tất cả các sinh viên năm thứ tư bảo vệ một luận văn tập thể, xây dựng một tập bản đồ ngôn ngữ học. Ông đã sử dụng phương pháp vẽ bản đồ của Ngôn ngữ học Địa lý để tìm ra vùng quy tụ những đặc điểm của các tiếng địa phương tương đồng về ngữ âm, từ vựng. Tiếng nói của khu vực tìm được đem sử dụng để phát thanh. Đồng bào Tày cũng như Nùng trên hầu hết địa bàn Việt Bắc đều hiểu được và chấp nhận. Đó là một thành công rất đáng ghi nhận.

Các chuyên gia trước đó đều theo sách vở truyền thống, tức là chọn tiếng nói của vùng nào có trình độ kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển nhất làm tiếng chuẩn. Cách làm này căn cứ vào những yếu tố bên ngoài ngôn ngữ. Nó không thành công, vì thực tế cho thấy ở khu Việt Bắc không có vùng nào trội hẳn về các mặt trên, và nếu có, thì lại là vùng có đa số người Kinh cư trú, tiếng nói pha tạp. Cách làm của Trường ĐH Tổng hợp HN mà GS Đoàn Thiện Thuật thực hiện là căn cứ vào những nét tương đồng của các tiếng địa phương, tức là dựa vào những yếu tố bên trong ngôn ngữ. Đây là một đóng góp về mặt phương pháp mang tính lý thuyết đại cương trong ngôn ngữ học.

Hai tập bản đồ ngôn ngữ (mà GS Đoàn Thiện Thuật xây dựng) là hai tập Atlas đầu tiên được thực hiện trong giới ngôn ngữ học ở nước ta.

GS Đoàn Thiện Thuật với bề ngoài có vẻ kiệm lời, tĩnh lặng, nhưng thực chất thầy là một con người năng nổ, dễ gần. Có thể nói, thầy là một nhà nghiên cứu lăn lộn với cuộc sống. Nếu như trước năm 1975 từ địa đầu của đất nước đến sông Bến Hải không đâu là không có dấu chân thầy thì sau ngày Giải phóng miền Nam, thầy đã đi từ Mũi Cà Mau đến sông Bến Hải, khi nhận nhiệm vụ làm Trưởng đoàn khảo sát liên bộ do Chính phủ thành lập để thẩm tra yêu cầu của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Nam muốn học tiếng và chữ dân tộc, nhằm xác định chính sách ngôn ngữ của Nhà nước.

Các học trò Tổng hợp còn lưu truyền một giai thoại vui. Thấy sinh viên chưa hiểu tại sao gọi là phụ âm mũi, GS Đoàn Thiện Thuật liền kể: “Lớp ta hôm qua, có một cô xin nghỉ học vì lí do bị ngạt mũi. Tôi hỏi lại: Chị bị làm sao? Cô ấy đáp: Thưa thầy, em bị ngạt mũi ạ. Tôi bảo: Chị nói dối. Cô ấy ấp úng: Sao thầy biết ạ? Tôi nói cho cả lớp nghe: Bị ngạt mũi thì luồng không khí từ phổi lên không thể thoát ra đường mũi được, nếu chị ấy phát âm “Em bị cạt bũi” thì đã đánh lừa được tôi...”

Nhiều ví dụ dí dỏm như thế của Thầy đã làm giờ học ngữ âm bớt đi nhiều căng thẳng vì “môn của thầy quá trừu tượng” (nhận xét của sinh viên). Những lúc như thế, thầy không hề “hàn lâm” chút nào. Có dịp tiếp xúc mới biết ngoài vẻ đạo mạo, thầy rất niềm nở, dễ gần và rất “đời thường”. Nghe các anh, các chị khóa trên kể lại là ở nơi sơ tán thời Mỹ ném bom, Thầy hòa đồng với nhân dân và sinh viên đến mức không ai biết thầy là “công tử Hà thành”. Thầy là người nói chuyện rất có duyên và luôn dành sự quan tâm đến người khác, không phải là người thích “độc chiếm diễn đàn” để nói về mình hay chỉ nói về chuyên môn. Khi chuyện trò, dáng vẻ “giáo sư Pháp” của thầy biến đâu mất, thay vào đó là chất giọng ân cần cùng những câu chuyện thân tình, khích lệ người nghe.

Năm nay (2024), GS Đoàn Thiện Thuật thượng thọ 90. Thầy đã vượt qua ngưỡng tuổi “xưa nay hiếm” (70) tới hai mươi năm rồi. Tuy sức khỏe có sút giảm qua mấy lần ốm khá nặng (có lần còn bị ngã), nhưng thầy vẫn chịu khó đọc, theo dõi mọi hoạt động của khoa Ngôn ngữ (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG HN), của giới Việt ngữ học. Trang face (Thien Thuat Doan) của thầy vẫn cập nhật những thông tin, nhận xét, bình luận về học trò, đồng nghiệp rất chi tiết và thú vị. Thầy đã làm mọi người ngạc nhiên về một Giáo sư đầu ngành tuổi rất cao vẫn “trẻ mãi không già”.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...