Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2024

MÁI NHÀ TÂY GIANG (Nhà nghiên cứu Huỳnh Viết Tư)

Tóm tắt: Văn hóa Cơtu, trước hết, thể hiện ở kiến trúc nhà và không gian nhà, với nhiều kiểu nhà mang những nét độc đáo, riêng biệt về một vùng văn hóa. Nhà ở chủ yếu là nhà sàn, kiểu mái tròn, quây thành vòng tròn hoặc hình trái xoài (ovan), ở giữa là gươl. Mỗi làng có một ngôi nhà chung, gọi là gươl, gươl cao lớn và đẹp nhất, thể hiện ở sự sung túc và hùng mạnh của làng. Gươl là nơi tôn kính, chốn linh thiêng, thờ các vị thần linh dân gian, ông bà tổ tiên, nơi thực hành tín ngưỡng của đồng bào Cơtu như đình làng của người Kinh. Gươl còn là nơi bảo tồn văn hóa Cơtu nên được coi như linh hồn của dân tộc mình. Theo tập tục, những người được phép ngủ lại nhà gươl chỉ là các già làng và đàn ông.

Từ khóa: Tây Giang, người Cơtu, văn hóa dân gian, nhà gươl.

Huyện Tây Giang là một huyện vùng cao tỉnh Quảng Nam, được tách từ huyện Hiên thành hai huyện Đông Giang và Tây Giang vào năm 2003, nằm ở phía tây bắc tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Tam Kỳ 190km và thành phố Đà Nẵng về phía tây chừng 120km. Phía đông giáp huyện Đông Giang, phía tây giáp CHDCND Lào, phía nam giáp huyện Nam Giang, phía bắc giáp các huyện A LướiNam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Huyện Tây Giang diện tích 904,70km², dân số năm 2018 là 16.050 người, mật độ dân số đạt 18 người/km2. Thành phần dân tộc chủ yếu là người Cơtu chiếm hơn 92%. Sau đó là người Kinh, Mường, Tày, Thái, Tà Ôi, Bh’Noong, Ca Dong, Hre, Giẻ-Triêng, Hoa, Vân Kiều, Cor…[1].

1. Một vùng đất thấm đượm chất liệu văn hóa dân gian

Đường lên Tây Giang quanh co, khúc khuỷu. Phải luồn lách trong bạt ngàn núi xanh, rừng thẳm. Những bản làng Cơtu nằm lọt thỏm giữa các thung lũng ngàn xanh, nằm vây quanh gươl - ngôi nhà chung của Vel (làng). Trung tâm huyện lỵ đặt trên đất thôn Agroồng, xã Atiêng. Bên này, vách núi nghiêng, mọc đầy cỏ như tấm thảm xanh, kéo dần lên đến đỉnh cao sừng sững, trông thật hùng vĩ. Bên kia, dòng Avương âm vang thác đổ, rồi róc rách tự tình cùng thâm u, đầy vẻ mê hoặc như chuyện huyền bí của đại ngàn. Từ trên cao nhìn xuống, những cây cầu treo lát gỗ nối đôi bờ chênh vênh, lắc lư, trong không gian thác ghềnh, đồi núi mênh mang, chập chùng, khiến lòng người chênh chao...

Khi trời chiều chếch choáng, cảm giác lâng lâng phiêu bồng nơi tiên cảnh. Những cánh rừng nguyên sinh ngàn năm thách thức cùng năm tháng, dáng cây cổ thụ ưỡn mình, tự hào khoe tán lá xanh thẳm bao la. Trên những đỉnh núi chót vót, đám mây trắng quần tụ như chiếc khăn voan khổng lồ, trùm lên một vùng núi biếc bao la, nhấp nhô, lượn lờ, phất phơ gió lộng. Chúng tôi cảm thấy thích thú được thỏa lòng chinh phục những con dốc vòng vèo uốn lượn, dẫn lên đỉnh Quế cao 1.369m so với mặt nước biển, ngất ngưỡng bên trời xanh.

Từ những con đèo ngoằn ngoèo bên vực thẳm, bên vách núi nghiêng chênh chếch, cheo leo dẫn đến khu di tích lịch sử cấp quốc gia, đoạn Atép đi Bù Lạch và Atép đi Hiên từ năm 1969 - 1975, đường mòn Hồ Chí Minh 559, đường Trường Sơn đoạn ngã ba Atép, mốc 678. Đến thăm đình làng mới xây trong những năm gần đây, nhưng rong rêu, dương xỉ, cỏ dại đã bám vào tường và mọc cả trên nóc tại thôn Arần 1, xã Axan giáp biên giới nước Lào. Phía trước đình có hai cây đa sộp, là hai cây đa di sản Việt Nam hơn bảy trăm năm tuổi, như là chứng nhân của đất trời về một vùng đất có mười xã, chỉ trừ hai xã Avương và Dang, còn lại tám xã: Blêê, Anông, Atiên, Lăng, Tr’Hy, Axan; Ch’ơm và Gary là vùng biên giáp với hai huyện Kạ Lừm và Đák Chưng, tỉnh Xê Kông nước Lào.

Thân cây đa sộp to lớn, tán rộng, rễ chính và rễ phụ đan xen nhau, như thể hiện tình đoàn kết gắn bó keo sơn của cộng đồng người Cơtu chiếm tới 95% dân số và 14 bộ tộc khác, có số dân nhỏ hơn nhiều lần. Trải qua những cuộc chiến sinh tử từ hai làng kề nhau, xuất phát từ tục “săn máu” của người Cơtu. Tập tục này diễn ra trong một thời kỳ dài, gây bao nỗi kinh hoàng, vốn là dạng nghi lễ gắn với tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy, khá phổ biến trong lịch sử nhiều tộc người. Bởi quan niệm máu đóng vai trò cực kỳ quan trọng, làm dẫn chất kết nối âm dương, trời đất - nhân tố cần thiết cho sự tồn vong và phát triển của vạn vật, tạo nên cuộc sống no ấm.

Người ta truyền nhau, hai cây đa sộp di sản ở thôn Arần 1, xã Axan này rất linh thiêng. Khi có việc lớn trong gia đình, khi thương lái, người đi khám phá, đi du lịch ngang qua, thường dừng lại thắp hương cúng Yàng để cầu sự bình an, may mắn. Hằng năm, thôn Arầng lấy ngày 18, tháng Giêng âm lịch tổ chức lễ cúng Yàng, để cầu mong bản làng yên bình, tai qua nạn khỏi, không có người chết xấu do sét đánh, tự tử, dịch bệnh,… Nếu trong làng gặp hoàn cảnh đó, họ phải bỏ làng đi nơi khác lập làng mới dù phải tốn nhiều công sức, cuộc sống phải lập lại từ đầu.

Trên đường vào huyện lỵ, chúng tôi bắt gặp bên đường một cái bảng lớn ghi: “Rừng còn Tây Giang phát triển, rừng mất Tây Giang suy vong!”. Phải chăng, miền đất Tây Giang đã thể hiện tấm lòng và ý chí của người dân trong việc bảo vệ và chăm sóc rừng, coi rừng thân thiết như là ruột thịt. Ông Bh’riu Liếc là người lãnh đạo huyện đương thời, cho biết huyện Tây Giang đang vận động các xã tìm thêm những loại cây quý để mời Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường đến khảo sát, lập hồ sơ công nhận.

Hiện nay đã có 725 cây và đang tìm thêm để có trên 1.000 cây Di sản. Đây là việc làm rất có ý nghĩa trong việc giữ rừng, phát triển bền vững huyện thành một vùng văn hóa riêng biệt. Khi tách huyện, việc đầu tiên của lãnh đạo huyện là tuyên truyền cho người dân và mọi người phải bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng - ông Bh’riu Liếc chia sẻ và kể lại: “Cuối năm 2011, huyện Tây Giang đã tổ chức cho thanh niên phát dọn, mở đường đi bộ từ thôn Voòng, xã Tr’hy đi thôn Ganil, xã Axan để người dân các xã Ch’ơm và Gari đi lại với nhau”.

Khác với những thôn, nóc của người Ca Dong, Giẻ-Triêng; người Cơtu ở Axan sống khá tập trung. Nhà cửa vẫn giữ nếp truyền thống nhưng khang trang và sạch sẽ hơn. Có lẽ, khắp các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam không nơi nào có những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn như ở Tây Giang. Nơi đây, người dân sinh sống cùng với rừng, dựa vào rừng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng, nạn phá rừng không hoành hành như những nơi khác.

2. Xứ sở pơmu - người Mẹ rừng còn yên giấc

Tại dãy núi Ziliêng thuộc địa phận xã Axan, cách mặt nước biển hơn 1.500m, đã phát hiện một “vương quốc Pơmu” có tuổi thọ ước tính hàng trăm năm tuổi. Hiện rừng cây Pơmu này nằm cách trung tâm huyện Tây Giang về phía tây khoảng 35 - 40km, thuộc địa phận hai xã Tr’hy và Axan, đã được kiểm đếm có 1.037 cây với đường kính từ 2 - 2,5m, cao trên 30m. Có một cây to nhất trong khu rừng với đường kính lên tới 2,5m, chừng sáu người ôm không xuể, cao 22m, mang số hiệu cây thứ 477. Ngoài ra, khu rừng còn có 5 cây với đường kính 2m, 17 cây có đường kính từ 1,5 - 1,9m; 150 cây có đường kính từ 1,1 - 1,4m; còn lại là những cây có đường kính dưới 1m.

Rừng pơmu nằm sâu bên trong, được đồng bào Cơtu che chở, nên thời gian qua rừng gỗ quý này tồn tại gần như nguyên vẹn. Buổi trưa, trời nắng nóng chang chang nhưng trong rừng bạt ngàn vẫn mờ ảo sương mai. Rong rêu, địa chi đã bám đầy thân cây pơmu cổ thụ. Nhưng vạn vật đều không tránh khỏi vòng luân hồi sinh tử khắc nghiệt bởi thời gian và chu kỳ vòng đời, nên nhiều cây hàng trăm năm tuổi không còn trụ nổi, đã ngã đổ, bên cạnh những cây con đang lớn dần.

Người dân ở đây đã có ý tưởng sẽ làm một vườn tượng từ những cây gãy đổ để nguyên trong rừng. Những cây pơmu cụ, cao chót vót vẫn vươn mình che chở những cây con lớn lên, đan xen, dựa vào nhau như cộng đồng người Cơtu ở đây. Quả thật, rừng pơmu Tây Giang là tài sản quý giá của quốc gia cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Chúng tôi mong ý tưởng độc đáo của người dân và ông Bh’riu Liếc thành công.

3. Rừng hoa đỗ quyên - một siêu phẩm nghệ thuật tự nhiên

Dãy Trường Sơn hùng vĩ với bao điều bí ẩn, rất lạ. Đồng bào Cơtu trải qua một ngày cắt rừng, vượt suối, đến đỉnh cao núi K’lang độ cao 2.005m. Đến đây, như một cao nguyên thu nhỏ, họ phát hiện ra rừng hoa đỗ quyên cổ, có tuổi đời hàng trăm năm. Chiều về, mặt trời quay lại núi xanh rừng thẳm, hoa đỗ quyên bất chợt hiện ra, mang những hình hài lập dị, ma quái, huyền hoặc… trải dài theo triền núi.

Sớm mai, là thời khắc rừng đỗ quyên thi nhau khoe sắc, làm rạng rỡ một không gian bao la, lồng lộng đất trời Tây Giang. Thiên nhiên bỗng hùng vĩ, ly kỳ thú vị và thơ mộng làm sao! Khi đến đây lòng người choáng ngợp, rưng rưng cảm xúc trong niềm phấn khích đến mê hồn. Độ cao, khí hậu mát lạnh và trong lành, điều kiện thổ nhưỡng đã nuôi dưỡng cho những cánh hoa đỗ quyên có một vẻ đẹp lạ thường, không chỉ màu sắc, độ lớn cánh hoa, mà còn phần thân gốc cổ thụ như là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình tuyệt tác mà tạo hóa ban tặng con người.

Với mười hai quần thể, diện tích gần một trăm hecta, hoa đỗ quyên có ba màu đặc trưng: hồng, trắng và tím. Chỉ cái tên “đỗ quyên” thôi, đã gợi bao nhiêu cảm xúc của con người, một hình ảnh mới lạ đối với nhiều người. Sự xuất hiện loài đỗ quyên giữa cánh rừng nguyên sinh ở núi cao Tây Giang là một bất ngờ. Bởi nó vốn là loài “đặc hữu” của Sa Pa hay Đà Lạt…

Trải nghiệm một cung đường đại ngàn nguyên sơ để đến cánh rừng đỗ quyên, thưởng ngoạn loài hoa nữ hoàng huyền thoại ở Tây Giang trên đỉnh Aruung, với những câu chuyện thần thoại và cổ tích, là lựa chọn tuyệt vời cho những tâm hồn nghệ sĩ, cho các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian; cho những ai có khát vọng khoa học để nghiên cứu, khám phá và chinh phục…

Ở Tây Giang rừng như ngôi nhà chung của đồng bào. Từ ngôi làng Abanh 2, có thể nhìn thấy đỉnh Aruung, nhưng để đến được đó là cả một hành trình vạch lối xuyên rừng suốt hàng tiếng đồng hồ. Cảnh sắc tự nhiên như chưa từng lưu dấu chân người, những ngọn thác ầm ào chảy từ phía núi, cây cối và hoa cỏ dọc đường đi, thu hút tâm trí con người, làm cho cung đường dài dẫu khúc khuỷu, chênh chao được thu ngắn lại. Ban đầu chỉ một ít người dân gần ở đây biết đến, sau đó, họ là người dẫn đường dày dạn kinh nghiệm vì chưa có một con đường chính thức nào đến Aruung, ngoài trí nhớ những người này. Họ đặt cho khu rừng là k’coong abhuy tức “khu rừng ma”.

Chúng tôi gặp già làng Riah Danh ở thôn Abanh 2, ông kể: “Ngày xưa, khi vào rừng săn con nai, con mang, con hoẳng, con chồn… dân làng kiêng dè không dám vào k’coong abhuy! Tiếng Cơ tu không có tên gọi cho loài đỗ quyên. Cây đỗ quyên mọc dày, cứ đến độ tháng Ba, tháng Tư, hoa nở đỏ rực cả một vùng.

Ngoài ra, ở đây còn có thông năm lá, một số loài cây đặc biệt chỉ có ở xứ lạnh. Rêu mọc khắp nơi, từ tầng lá mục dày dưới chân người đi, dưới gốc cây lên đến tận những nhánh cành đỗ quyên vươn về phía mặt trời, như khao khát của người dân Cơtu và các bộ tộc khác: Tày, Nùng, Mường, Thái, Cadong, Mơnông, Giẻ Triêng… từ nghèo nàn và lạc hậu tìm về hạnh phúc, theo hướng Mẹ rừng đang giang hai tay đón đợi.

Màu rêu đã góp phần làm cho khu rừng thêm kỳ bí với vẻ đẹp ma mị, lóng lánh sắc màu ban mai...

Từ rừng đỗ quyên, ta phóng tầm mắt bao quát, ngắm nhìn cả một vùng đại ngàn rộng lớn, thấy rải rác các bản làng lẩn khuất giữa thung lũng, rạng rỡ nhất là trong những ngày nắng ấm. Hiện nay, nó đang là điểm ngắm tuyệt vời của các “phượt thủ” chinh phục và khám phá! Những cánh rừng đẹp nhất ở Quảng Nam, gắn với những loài cây nguyên sinh, độc đáo, hiếm có như rừng Pơmu cổ thụ đầy cám dỗ, cánh rừng hoa đỗ quyên bạt ngàn và tuyệt đẹp sẽ gây cảm giác thú vị bởi sự kỳ lạ, đang mở ra nhiều cơ hội cho ngành du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm. Nơi đây sẽ là một điểm đến đầy hấp dẫn, mang lại sự giàu có cho con người và xứ sở ở vùng đất này.

4. Những ngôi nhà truyền thống người Cơtu

Văn hóa Cơtu, trước hết, thể hiện ở kiến trúc nhà và không gian nhà, với nhiều kiểu nhà mang những nét độc đáo, riêng biệt về một vùng văn hóa. Nhà ở chủ yếu là nhà sàn, kiểu mái tròn, quây thành vòng tròn hoặc hình trái xoài (ovan), ở giữa là gươl. Mỗi làng có một ngôi nhà chung, gọi là gươl, gươl cao lớn và đẹp nhất, thể hiện ở sự sung túc và hùng mạnh của làng.

Gươl là nơi tôn kính, chốn linh thiêng, thờ các vị thần linh dân gian, ông bà tổ tiên, nơi thực hành tín ngưỡng của đồng bào Cơ tu như đình của người Kinh. Gươl còn là nơi bảo tồn văn hóa Cơ tu nên được coi như linh hồn của dân tộc mình. Theo tập tục, những người được phép ngủ lại nhà Gươl chỉ là các già làng và đàn ông.

Ông Bhriu Liếc, ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, người dày công nghiên cứu về văn hóa Cơ tu, cho biết: “Từ bao đời, người Cơtu sống chung trong làng quây quần bên nhau, những ngôi nhà xếp vòng thành hình bầu dục, chính giữa là gươl. Nếu như làng của người Bahnar, Êđê ở Tây Nguyên có nhà rông, làng của người Kinh có đình, thì gươl là linh hồn của người Cơ tu. Gươl có vai trờ đặc biệt quan trọng trong đời sống tâm linh và văn hóa của cộng đông người Cơtu”.

Già làng Briu Pố, thôn Arớh, xã Lăng, Tây Giang nói: “Người Cơ tu khi lập làng, dựng nhà đều chọn đất và dựng gươl đầu tiên. Gươl là trung tâm sinh hoạt của làng, nơi để hội đồng già làng (Tacooh pươl) họp bàn, quyết định những vấn đề quan trọng, là nơi cất giữ của cải chung và quý báu của làng.

Không gian gươl cũng là nơi tổ chức nhiều lễ hội truyền thống của buôn làng như: Lễ ăn mừng lúa mới (Cha ha roo tơmêê), lễ ăn thề kết nghĩa anh em giữa hai làng người Cơtu (Pơ-ngoót), lễ ăn mừng được mùa (Bhuối aví)… Gươl còn là nơi bảo tồn văn hóa buôn làng, nên người Cơtu coi như linh hồn của dân tộc mình, dù giàu có hay nghèo khó đến đâu, họ cũng dựng gươl để giữ gìn truyền thống và bản sắc dân tộc mình, trong làng cùng chung tay góp sức làm gươl”.

Bộ tộc người Cơtu ở các nơi nói chung, ở tỉnh Quảng Nam và đặc biệt là ở các huyện biên giới tỉnh Sê Koong nước Lào nói riêng, có một kho tàng văn hóa vật thể, phi vật thể phong phú và đa dạng. Nổi bật nhất là không gian văn hóa làng, không gian văn hóa cồng, trống, chiêng… Để làm nên bản sắc văn hóa Cơtu không thể không kể đến các lễ hội. Hàng năm, nhất là vào mùa xuân, người Cơtu thường tổ chức các lễ hội: Ăn trâu gắn với các sự kiện mừng nhà mới, lễ hội được mùa, mừng lúa mới...

Mục đích là để ăn mừng thắng lợi, tạ ơn thần linh, cầu bản làng được may mắn, mưa thuận gió hòa để mùa màng bội thu và cũng là dịp để bộ tộc gắn kết nhau, tăng cường tình đoàn kết giữa các làng bản trong huyện. Cứ vào mùa lễ hội thì người dân trong và ngoài địa phương kéo về rất đông, hòa cùng niềm vui chung. Họ múa hát theo nhịp chiêng, tiếng trống rộn ràng với điệu múa “tung tung, za zá” truyền thống. Đây là một trong ba di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào Cơtu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản cấp quốc gia.

Từ những bàn tay khéo léo của những người thợ giỏi, gươl nổi bật với cái vẻ bề thế nhưng rất tự nhiên hòa trộn với không gian núi rừng của đại ngàn, hội tụ tinh hoa kiến trúc, kinh nghiệm từ thực tế đã trải qua bao đời. Nó là niềm tự hào của người Cơtu. Theo phong tục xưa, sau khi đã chọn được đất làm nền thì người Cơtu tổ chức lễ dựng gươl. Lễ này được tổ chức vào sáng sớm, khi mặt trời vừa mọc ở hướng Đông. Đầu tiên là dựng cây cột cái ở trung tâm, khi cột này được dựng ngay ngắn, già làng lấy một ít nước đổ vào cây cột cái đó, cầu mong thần linh phù hộ cho dân làng khoẻ mạnh, được mùa, sống hoà thuận, đoàn kết, hạnh phúc và thương yêu nhau.

Gươl của đồng bào Cơtu xây dựng theo một phong cách riêng biệt, thể hiện rõ nét văn hoá riêng của dân tộc này do công sức cả làng làm nên. Gươl có một cái trụ to ở chính giữa (rmăng), xung quanh nhiều trụ nhỏ kết nối với nhau thành hệ thống vững chắc. Cây cột này khẳng định uy quyền, sự lớn mạnh của bản này với bản khác. Cây cột cái ở giữa có hình khắc giống với hình trên cột đâm trâu (xờnuh) biểu tượng cho trục trung tâm của làng.

Gươl gần giống nhà sàn, làm băng gỗ, trông nó bề thế và được chạm khắc công phu hơn. Nét đặc trưng nổi bật của gươl chính là bộ mái cao, cuốn tròn hai đầu hồi. Người Cơ tu chọn con số chẵn khi làm gươl: số gian chẵn, số cột chẵn… thậm chí đòn nóc cũng chẵn. Trong kiến trúc truyền thống, gươl là nhà sàn được chống bởi cây cột cái ở giữa và 8 cây cột con ở xung quanh. Mái nhà được lợp bằng lá nón, lá gồi hoặc lá mây, nhìn từ xa, mái gươl có hình dáng như trái xoài khổng lồ.

Kết cấu gươl theo tỉ lệ: chiều cao giữa mái/ sàn/ tổng thể: 2/1/3 - một tỉ lệ rất khoa học, hết sức hợp lý trong bố cục tạo hình, cho dù các nghệ nhân Cơ tu không hề biết đến “tỉ lệ vàng” trong kiến trúc nhưng với kinh nghiệm đúc kết được qua nhiều đời, cho chúng ta thấy kiến thức về kỹ thuật, cảm nhận về nghệ thuật của những nghệ nhân làm gươl rất tinh tế, điều này cũng đã thể hiện rộng hơn, rõ nét hơn trong kết cấu kiến trúc và nghệ thuật trang trí gươl.

Khác hẳn với lối kiến trúc chịu lực dàn đều bằng hệ thống cột-xà mà chúng ta thường thấy ở nhà rông, chùa, đình làng cổ, hệ thống chịu lực trong kết cấu kiến trúc gươl tập trung vào một cây cột “cái”, được chôn rất sâu, chính giữa lòng nhà kéo dài lên đỉnh nóc, liên kết toàn bộ hệ thống dầm, xà và đòn nóc tạo thành như một cái dù rất lớn.

Đối xứng qua cột cái là những cột “con” , số cột gấp đôi số gian của một gươl. Các cột này liên kết với nhau qua hệ thống dầm, xà, tạo nên một bộ khung chịu lực hết sức vững chãi. Ở hai đầu hồi, các vách ngăn được làm bằng vỏ cây già vừa bền, vừa chắc, vừa có tác dụng như một lớp cách nhiệt. Đây là tấm lá chắn cho các chiến binh Cơtu phòng chống thú dữ và kẻ thù nơi khác đến.

Với độ dốc lớn nhưng hệ thống đòn mái chỉ có một điểm tì duy nhất lên bộ khung và liên kết từng đôi một tại đỉnh nóc, nhưng không vì thế mà mái gươl lại kém chịu lực, bởi toàn bộ đòn mái đã được hai cây đòn nóc ép chặt. Loại kết cấu hai đòn nóc này chưa hề thấy ở các kiến trúc cổ của các dân tộc khác trên đất nước ta, nên nhìn vào bên trong gươl, ta thấy rất thoáng và sâu.

Gươl được trang trí các hình vẽ và khắc họa theo lối cổ truyền. Những cột, kèo, những thanh xà, những tấm vách trong gươl là những bức phù điêu, được chạm trổ công phu, trông rất sinh động, tinh tế, hình ảnh các con vật gắn bó với người Cơ tu: đầu trâu, con tắc kè, con trăn, con kỳ đà, con thằn lằn,… và một số cảnh sinh hoạt đời trong cộng đồng cũng được thể hiện: người đàn ông đánh trống, phụ nữ bồng con,…

Mặt trong của mái, treo sọ các thú vật săn bắn được hoặc sọ trâu sau các lễ hội, các nhạc cụ và công cụ truyền thống của người Cơtu. Phần trên của cây cột cái thường xuyên có treo một đầu trâu mới làm lễ hiến sinh trong thời gian gần nhất. Yếu tố làm nổi bật là các thành phần trang trí hoa văn hình kỉ hà hết sức tinh tế. Gồm các loại hình tam giác, hình tròn, hình ô trám, đường gấp khúc,… được sắp xếp rất logic, tạo nên các dải trang trí nối tiếp theo những motip thống nhất từ trong ra ngoài.

Phía trên nóc, ở bên ngoài hai đầu gươl thường được chạm, khắc hình đầu gà trống hoặc hai đầu trâu nhô sừng lên, đối diện hai bên. Bên trong còn được được chạm các hình ảnh rất độc đáo, mang những nét văn hóa riêng của người Cơtu: hình ảnh con trai, con gái Cơtu múa cồng chiêng, săn bắt thú rừng,… Hình ảnh chạm khắc sinh động bên trong gươl, không thể thiếu hình ảnh già làng Cơtu, ché rượu cần, thú rừng... Không chỉ ở khu vực mái hay cửa ra vào, các hình chạm trổ có mặt ở nhiều nơi trong gươl: trên xà nhà, trên các tấm phên thừng xung quanh nhà.

Và, đây cũng là lời khẩn cầu biết ơn về loại chim K’lang B’bhé - chim đại bàng, loại chim mở đất, theo truyền thuyết tộc người Cơtu trước khi khai cơ, lập địa từ một vùng đất chết, loại chim này đã dẫn đường và đem hạt cây đến vùng đất mới giúp cộng đồng người Cơ tu tránh được dịch bệnh và cái chết xấu. Về sau người Cơtu luôn lấy con chim đó làm vật tổ. Họ quan niệm chim Tring là sứ giả của Thần Lúa đã hướng dẫn người Cơtu tìm đất mới để canh tác, lập làng. Biểu tượng ta’coai, được khắc theo hình con gà trống, nói lên sự gần gũi mật thiết, sự tác động lẫn nhau giữa con người với những con vật nuôi. Trong nghệ thuật kiến trúc tạc hình người Cơtu, hình ảnh con người, con vật, chim thú luôn là chủ đề chính.

Con trâu gắn liền với đời sống nông nghiệp của người Cơtu. Người chiến binh Cơtu chiến đấu với thủy quái. Hình ảnh của vũ điệu tung tung - za zá hay còn gọi là "vũ điệu dâng trời". Theo nghệ nhân A Lăng Đợi; “Hình ảnh chạm khắc ở gươl thể hiện hầu hết những hoạt động chủ yếu trong đời sống của người Cơtu. Hình ảnh con ma rừng đặt bên ngoài gươl với gương mặt dữ tợn để xua đuổi tà ma, giữ bình yên cho bản làng”.

Già làng Y Kông, thôn Tống Cói, xã Ba, huyện Đông Giang cho biết: “Gươl là nhà truyền thống của người Cơtu mình. Làng nào không có gươl là không còn gốc gát truyền thống văn hoá nữa. Cho nên bà con trong làng, các gia đình ai cũng chung tay góp sức. Mọi người cùng nhau mà làm, đoàn kết, làm miết rồi cũng xong!”.

Như mô tả bên trên, chúng ta, có thể nhận ra điêu khắc gươl của người Cơtu gắn với linh hồn của mỗi thôn, làng, nên người Cơtu, tin chính linh hồn của làng đã tạo nên linh hồn các tác phẩm điêu khắc trong gươl là chốn linh thiêng, mọi người phải tôn kính. Mỗi tác phẩm tái hiện đời sống lao động, văn hóa của một dân tộc giàu bản sắc giữa núi rừng Trường Sơn.

Ngoài gươl, đồng bào Cơtu còn có nhà moong là loại gươl biến thể, thu nhỏ, nhà dài dành cho các thành viên trong một gia tộc cùng sinh sống… Tất cả nguyên vật liệu: gỗ, tranh, tre, nứa, lá, mây... được dân làng khai thác tại chỗ.

Khi chúng ta đắm mình thưởng lãm các ngôi làng truyền thống người Cơtu. Những gươl, những moong, những nhà dài độc đáo về kiến trúc. Ngắm nhìn sự chạm trổ khéo tay của những nghệ nhân mà cuộc đời, máu thịt đã gắn liền với đại ngàn, không một ngày đến lớp. Những hình ảnh được chạm trổ gắn liền với những câu chuyện thần thoại, có liên quan đến sự hình thành và phát triển, ảnh hưởng trực tiếp trong cuộc sống, sinh hoạt của bộ tộc. Thể hiện lòng biết ơn, khuyên bảo con người làm điều thiện, lên án cái ác, bởi cái ác cuối cùng rồi cũng sẽ bị hủy diệt. Đây là nét đặc trưng xuyên suốt trong văn hóa Cơtu, cũng là tư tưởng tiến bộ của loài người.

Trải qua thời gian chiến tranh và sự tác động của cuộc sống hiện đại, nhiều gươl đã xuống cấp và mất dần đi nhưng những năm gần đây, chính quyền, ngành Văn hoá tỉnh Quảng Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc khôi phục kiến trúc gươl, bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá truyền thống. Đến nay, hầu hết thôn của người Cơtu ở Quảng Nam đã có gươl. Tây Giang là huyện dẫn đầu phong trào phục dựng gươl ở tỉnh Quảng Nam.

Nét kiến trúc và trang trí mỗi nhà gươl cũng khác nhau, mang đậm sắc thái của cư dân Cơtu vùng cao, vùng trung và vùng thấp. Ông Briu Liếc cho biết: “Vì văn hoá làng là cái bảo tồn lâu bền nhất, từ đó chúng ta sẽ xây dựng đuợc những thể chế văn hoá khác, giữ được bản sắc truyền thống Cơtu. Tôi tin rằng, văn hoá truyền thống Cơtu sẽ tồn tại mạnh mẽ dưới những gươl như thế!”. Hiện nay, ở huyện Tây Giang, có 10 xã, thì xã nào cũng được dân làng dựng gươl. Trên đỉnh ngọn đồi cao ở trung tâm huyện là một quần thể làng Cơtu truyền thống, trong đó có 10 nhà đại diện cho 10 xã, một gươl và một nhà dài.

Tại đây còn có không gian văn hóa kiến trúc độc đáo về các loại hình nhà sàn. Đông đh’rơơng k’bhú/ tô tức nhà tộc họ kiểu nhà sàn: Đây là loại nhà sàn khá phổ biến của người Cơtu phương/ người Cơtu ở vùng thấp. Hiện nay ở xã Lăng, những ngôi nhà tộc họ này tại thôn Pơr’ning, xã Lăng được nhà nước hỗ trợ phục dựng thành những ngôi nhà tộc họ truyền thống. Các nhà này, có đặc điểm cấu trúc giống nhau từ vật liệu đến cách dựng, nghi lễ ngày dựng và việc thờ cúng khi hoàn tất công trình.

Đông a’chuôr k’bhú/ tô tức nhà tộc họ kiểu nhà dài. Đây là loại nhà tộc họ của người Cơtu dal/ người Cơtu ở vùng cao. Ngoài nhà ở riêng từng hộ gia đình, nhà tộc họ theo kiểu nhà sàn còn là một loại nhà truyền thống đặc sắc, một kiểu kiến trúc nhà tộc họ rất độc đáo, khá phổ biến của cư dân người Cơ tu ở vùng cao, khác nhà ở riêng, nhà tộc họ kiểu nhà sàn người Cơtu ở vùng trung và vùng thấp. Theo quan niệm xa xưa, người Cơtu ở bốn xã vùng cao huyện Tây Giang, những người có quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống trong một dòng tộc lớn, nếu sống với nhau trong một ngôi nhà từ hai đến ba, bốn thế hệ thì ngôi nhà đó gọi là đông A’chuôr. Đây là một kiểu nhà đặc biệt chỉ có ở miền núi Trường Sơn - Tây Nguyên.

Tuy nhiên, đối với nhà dài của tộc người Cơtu cũng có những nét tương đồng na ná cấu trúc nhà dài của người Ê đê, nhưng nếu nghiên cứu kỹ sẽ thấy rất nhiều điểm thú vị, mang đặc trưng riêng. Đó là, gồm nhiều gian nối kết với nhau và kéo dài tới hàng chục mét. Độ dài của nhà tuỳ thuộc vào quy mô và số bếp, số người trong gia tộc. Sàn, cột, xà nhà làm bằng các loại gỗ quý như gõ, sến, dỗi, lim… Chúng được đẽo đục rất công phu và liên kết với nhau rất chặt chẽ, bằng kinh nghiệm của người thợ Cơtu.

Ngày xưa để dựng các công trình lớn của làng như gươl, nhà tộc họ, nhà dài, người Cơtu thường lấy lõi cây sến, lim cứng vì có độ bền, chịu lực, chịu nhiệt tốt để chống mối mọt. Về sau gỗ khan hiếm, khi dựng nhà, người Cơ tu lấy gỗ tươi được bào đục rất đẹp. Khi dựng các cột, họ thường kê các cột lên trên các viên đá được đẽo vuông góc để chống ẩm, chống mối, mọt, làm nền móng ngôi nhà vững chắc và bề thế hơn. Vách nhà dài cũng giống vách nhà ở riêng, có nơi làm vách bằng tấm gỗ xếp kín, có nơi được làm bằng tấm phên tre, nứa hoặc lồ ô, với nhiều cách đan khác nhau, như đan long đôi, long ba làm phên vừa kín, vừa tạo nên các hoa văn đường nét đều đặn và đẹp như những hoa văn trên tấm dệt thổ cẩm người Cơ tu.

Về lá lợp các loại nhà, từ xa xưa người Cơtu đã biết dùng lá cây rừng như cây ưng poong, ưng poo, c’ree - một loại lá cây mây rừng, a’laanh - lá cỏ tranh... Loại lá vừa có độ bền cao, vừa đẹp để lợp các loại nhà là lá cây ưng poong. Khi vào rừng người Cơtu chọn các phiến lá không già quá, cũng không non quá, cắt lấy, bó gọn và gùi về rồi ép phẳng theo từng lớp. Khi lợp, các lá cây rừng này được nối kết với nhau bằng dây mây rừng được chẻ nhỏ, gọt sạch, chuốt nhẵn, có độ dẻo và bền dùng để cột các lá trên, liên kết với nhau tạo thành từng tấm dài tới 5 - 10m.

Khi lợp lên mái nhà, các tấm lợp này chắp nối chồng lên nhau, tạo thành mái nhà vừa dày đều, vừa chắc, theo một thứ tự được ấn định lúc ban đầu rất công phu. Kỹ thuật đã tạo nên các mái nhà một cách phẳng phiu và đẹp mắt. Mái nhà của người Cơtu có độ nghiêng vừa phải và trải rộng về bề ngang, không cao như mái nhà rông của người Bahnar. Ở hai bên đầu hồi nhà dài, gươl, nhà tộc họ hay nhà ở riêng từng gia đình, người Cơ tu thường khắc biểu tượng hình con chim hay con gà trống gọi là ta’coi. Biểu tượng này mong muốn cho cuộc sống luôn được bình an, đoàn kết, ấm no, hạnh phúc.

Đây là biểu tượng đặc trưng dễ nhận biết trong tất cả các loại nhà truyền thống. Từ những cách dựng, cách chọn ngày giờ và bố trí cấu trúc trong các ngôi nhà truyền thống mang lối cổ truyền của tộc người Cơtu vốn an cư, sinh sống lâu đời ở núi rừng Trường Sơn huyền thoại, với những kỳ tích anh hùng và huyền bí về cách đánh giặc, phòng chống thiên tai, chống thú dữ, bảo vệ và phát triển núi rừng, bản làng luôn yên bình. Cộng đồng Cơtu còn sáng tạo ra nhiều giá trị văn hóa truyền thống hay, đẹp rất cần được quan tâm khôi phục, nghiên cứu, bảo tồn, khai thác, quảng bá và phát huy các giá trị văn hóa, mang lại hiệu quả khai thác những tiềm năng vốn có.

Đặc biệt, vào xem không gian bếp, mới thấy được bếp lửa rất quan trọng đối với bộ tộc người Cơtu. Nơi đây, không chỉ đơn thuần là chỗ nấu nướng, lưu giữ thực phẩm để dành, sấy khô các vật dụng và dụng cụ đan đát mà còn giữ lửa suốt ngày đêm. Chính ánh lửa đó đã chiếu sáng khi trời tối, sưởi ấm cho bà con trong những ngày đêm cái lạnh rét buốt nơi Trường Sơn. Ngày xưa, khi chăn, đệm và các phương tiện sưởi ấm chưa có, người miền xuôi thường hay quấn rơm, quấn bao bố,… quan trọng nhất là giữ cho đôi chân được ủ ấm. Theo kinh nghiệm của đồng bào vùng cao, khi ngủ thường chụm chân về hướng bếp để ủ ấm thân thể. Nên bếp là không gian ấm áp, gần gũi, gắn chặt quan hệ giữa con người với đời sống sinh hoạt.

5. Đời sống văn hóa, âm nhạc-bản giao hưởng đại ngàn và ẩm thực

Người Cơtu tổ chức lễ và sinh hoạt cộng đồng trong bản làng tại gươl, nghe giọng trầm khàn "ô…ô, a...a" từ điệu lí những già làng. Khi đã ngà ngà say bên ché rượu cần, vây quanh đám lửa giữa sân gươl cháy ngút ngàn, bập lùng tiếng nổ tre lồ ô, làm rạng rỡ những khuôn mặt thân thương cùng bản làng giữa đại ngàn… Những chàng trai, cô gái Cơtu tạo thành vòng tròn, nghiêng mình qua lại trong điệu múa truyền thống tung tung - za zá. Có lúc được nghe các già làng kể về huyền thoại chuyện tình Ploong trên dòng Avương rất thiết tha, trọn vẹn, thủy chung và cảm động.

Khi nghe bản tình ca Chiều trên sông Avương - lời Bh’riu Liếc, nhạc Nguyễn Đức; Huyền thoại Tây Giang - nhạc và lời của nhạc sĩ Nguyễn Đức với âm thanh dặt dìu tiếng chày khuya, tiếng suối rừng, tiếng gọi bạn tình ơi ới giữa trùng khơi: Tây Giang ơi! Vượt ngàn sông ngàn suối/ Vượt đèo cao đồi núi/ Tôi đến đây giữa đại ngàn/ Xanh ngát trong hương rừng Axan/ Hồn cha ông trong cây rừng bên thác R'cung/ Bạt ngàn pơmu/ Thiêng liêng sông suối/ Thời gian ngừng trôi/ Tìm về nỗi nhớ/ Ngày dài đi qua/ Nụ cười em xinh/Như hoa đỗ quyên ngày dài qua đi/ Vượt trùng tiếng gọi/ Đánh thức ngàn đời/ Đỗ quyên ơi!...

Nhạc sĩ Nguyễn Đức từ Đà Nẵng lên, anh đã “ăn dầm, nằm dề” tại đây, những bản nhạc của các nhạc sĩ, ca sĩ người Cơtu như Ploong Plen, Ploong Trung Kiên… rền vang âm thanh đại ngàn, đắm say, khắc khoải về tình yêu quê hương xứ sở và lứa đôi, thể hiện ước mơ và khát vọng về một tương lai hạnh phúc. Khi đến đây ta được nhìn thấy và cảm nhận hơi ấm cộng đồng, được thưởng thức rất nhiều món ăn, thức uống truyền thống của người Cơtu, lạ mà ngon, như rượu nếp than, rượu Tr'din, Tàvạk, bánh sừng trâu, cà-đang (sùng đất)… Zrá là món thịt cộng với rau rừng thọc nhuyễn, bỏ vào trong ống tre lồ ô nướng lên.

Mọi cái góp lại đã làm nên nhiều cung bậc cảm xúc, để rồi trộn hòa thăng hoa tột cùng! Nhưng đâu rồi cảnh xưa, miền nhớ: “Khi em qua suối qua khe vén ân đóoh[2] che mặt/ Để tim anh ngấm rượu ba kích giục rộn ràng…”[3] như một kỷ niệm thời xa!

Sau nhiều ngày đường khám phá mệt mà vui, chúng tôi được thưởng thức những món lạ là sản vật núi rừng, ngon mà ấm áp tình người. Ước vọng xanh của người Cơ tu về những đồng ruộng bậc thang sau mùa gieo cấy đong đầy mang về, vẻ đẹp hoang dã núi rừng và cuộc sống thanh bình, không còn chênh chao đứng bên vực thẳm đói nghèo xưa cũ. Tây Giang đang là một cái tên hấp dẫn trên bản đồ du lịch cả nước, có rất nhiều địa chỉ độc đáo, mỗi nơi lại khác biệt và mới lạ gọi mời.

Những bản làng vùng cao Tây Giang là một bảo tàng vật thể và phi vật thể, lưu giữ nhiều loại kiến trúc, phong tục tập tục độc đáo, nhiều truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích và những câu chuyện, câu hát, điệu múa dân gian, dân dã,... Ngày nay đồng bào Cơtu và đồng bào miền xuôi đã giao lưu gần gũi với nhau trong sinh hoạt và đời sống, nên họ đã tiếp thu và một phần có biến đổi về nhiều mặt, về văn hóa, những tâp tục, phương thức lao động, trong âm nhạc có thêm nhiều làn điệu… như ở đồng bằng.

Người Cơtu Tây Giang nói riêng, dân tộc Cơtu nói chung, có cả kho tàng văn hóa về ẩm thực truyền thống rất phong phú và đa dạng. Với nguyên liệu chủ yếu từ hoa, trái, rau rừng, gạo, sắn, bắp rẫy, ớt, tiêu rừng hay những thức ăn thơm ngon giàu chất dinh dưỡng như thịt rừng phơi khô, sóc khô, cá liêng khô,...

Đến đây không thể bỏ qua những món ăn đặc sản mang đậm hương vị núi rừng như: cơm lam, thịt heo muối chua, thịt xông khói, bánh sừng trâu, rau rừng, cá suối,… rất mộc mạc nhưng rất ngon, được dân làng thiết đãi với tất cả tấm chân tình, thể hiện tấm lòng quý mến khách. Cái mùi vị của muối ớt tiêu rừng thơm phức, cay nồng hòa quyện trong từng món ăn tạo nên một dư vị rất đặc trưng làm khách thưởng thức xong, còn lại gói mang về, cái mùi vị quê hương nơi núi rừng khiến người ta nhớ mãi!

Đến với huyện Tây Giang, du khách được thưởng thức ẩm thực phong phú, phong cảnh hữu tình và sản vật nơi núi rừng trùng điệp khó mà tìm thấy ở nơi khác, tạo nên một vùng văn hóa riêng biệt sẽ không còn xa lạ, mời gọi những người làm công tác văn hóa dân gian, những nhà nghiên cứu khoa học thâm nhập, nghiên cứu, phổ biến. Rồi nơi đây, mọi người khắp nơi sẽ rủ nhau tìm về, như tìm về chiếc nôi mà tổ tiên từng cất tiếng chào đời.

6. Nghề rèn

Phần lớn cuộc sống đồng bào dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp, nên người Cơtu phải rèn dụng cụ cầm tay và truyền dạy nghề rèn cho con cháu. Ở vùng núi Quảng Nam, đây là nghề có từ rất lâu đời. Những người đàn ông dân tộc Cơtu làm nghề rèn không chỉ góp phần tăng năng suất lao động, đáp ứng nhu cầu sản xuất, săn bắt thú rừng… mà còn thể hiện nét văn hóa độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc. Nghề này đòi hỏi họ cần phải có đức tính cần mẫn và sáng tạo.

Mỗi khi lò rèn đỏ lửa, trẻ em trong làng chạy đến xem và ngay từ đó, đã hình thành lòng yêu nghề lúc còn nhỏ. Hằng năm, cứ trước mùa phát rẫy chuẩn bị gieo hạt khoảng hai đến ba tháng, đây là thờì kỳ ít đi rẫy, đàn ông Cơ tu đốt lửa lên rèn cái cuốc, cái rựa, con dao, cái cào cỏ... Già làng Cooh, một thợ rèn lâu năm ở tại thôn Voòng, xã Tr’Hy kể: “Ngày trước để có một dụng cụ đi làm rẫy, đi săn bắt, người Cơ tu rèn dụng cụ từ quặng do họ tìm được, thường là do nước suối chảy mạnh, mưa xói đất lỏi quặng trồi lên. Khi chiến tranh họ lượm những mảnh đạn, mảnh bom để rèn thành những dụng cụ”.

Cũng như những người thợ khác, thợ rèn Cơtu phải có sức khỏe, sự khéo léo, kiên trì và sáng tạo. Ngoài việc làm ra những sản phẩm tinh xảo, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật, còn thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo. Từ cách nhóm lò, chọn than cho đến cách đặt bếp, đặt vật rèn đều phải có kỹ thuật. Lò được đắp bằng đất, mặt lò võng xuống để cho than vào, than đốt lò là than một loại gỗ ở trong rừng cho nhiệt độ cao hơn những loại than gỗ bình thường.

Khi rèn một dụng cụ nào đó, phải tuân theo một quy trình nhất định, có hai người, một người rèn và một người kéo hay đạp bơm gió theo kiểu hút không khí bên ngoài đẩy vào lò để than trong lò cháy đều, nên có cụm từ “thụt bệ lò rèn” như ta thường nghe, người thợ cung cấp nhiệt cao hay thấp tùy theo công đoạn của quy trình rèn.

Người thợ cần tính toán kỹ lưỡng mỗi khi bắt tay vào rèn một sản phẩm. Bắt đầu từ khâu cho than vào lò, thổi lửa, đặt mảnh sắt lên lò để sắt đỏ phù hợp với từng công đoạn. Chọn lựa loại than, không phải than nào cũng dùng để đốt lò, họ sử dụng loại than được đốt từ cây dẻ, cho nhiệt độ lên đến trên 1.0000C. Khi công nghệ chế tạo cơ khi chưa phát triển, nhiều vùng đồng bằng ở miền xuôi cũng áp dụng phương pháp rèn này.

Già làng Cooh cho biết, mỗi lần đập búa bao giờ cũng một tiếng nặng, một tiếng nhẹ, đúng chính xác vào vị trí búa cần nện xuống. Cho sắt vào nung đỏ rực, làm cho sắt mềm hơn, dễ rèn thành sản phẩm. Trước khi rèn người thợ đã biết trước hình dạng của vật mình muốn rèn, trong quá trình rèn, họ hình dung vật rèn theo từng công đoạn, dùng đột và búa cắt thành hình vật rèn, tiếp tục bỏ vào lửa nung đạt nhiệt độ cho phép, rồi đem ra đập cho đến khi vật rèn đạt yêu cầu theo cái cái dưỡng - cái để so vật rèn và sản phẩm hoàn chỉnh.

Người thợ rèn dùng sừng trâu trong quá trình tôi, nung nóng đến một nhiệt độ quy định (dùng mắt thường nhìn màu sắt đỏ theo thói quen) rồi đem nhúng liền vào nước nguội hay sừng trâu… để nhiệt độ giảm đột ngột cho ra sản phẩm có độ rắn chắc, bền hơn và sắc bén (theo kinh nghiệm dân gian). Khi sản phẩm rèn xong, dùng dũa để dũa những đoạn bị mẻ, sứt hoặc chưa đều, lấy đá để mài thật kỹ cho đến khi sản phẩm sắc hơn và bong ra một lớp mỏng màu trắng ở hai bên lưỡi thì mới thôi. Khâu mài bén sản phẩm rất quan trọng, đòi hỏi người thợ phải tỉ mẩn mài thật sắc bén và dung vật thử để thử cho đến khi đạt yêu cầu. Quy trình kỹ thuật rèn của người Cơ tu không được ghi chép bài bản, chủ yếu theo kinh nghiệm của người thợ lâu năm truyền lại cho người thợ mới vào nghề.

Trong đời sống của đồng bào thiểu số nói chung và người Ca tu nói riêng, họ mang tính tập thể, các sản phẩm rèn làm ra chủ yếu để trao đổi lương thực, thực phẩm, giúp đỡ nhau trong gia đình, bà con, họ hàng để cùng người trong làng, trong nhóm, ai cũng có dụng cụ làm rẫy, đi rừng, săn bắn... Ngày nay nghề rèn không làm quanh năm như trước kia, mà chỉ chế tác dụng cụ sản xuất trước mỗi mùa rẫy, làm bù lại những cái bị cùn, bị mất. Trong làng cũng chỉ có một số gia đình làm nghề rèn. Họ không còn đào quặng, luyện sắt như trước kia, nhưng kỹ thuật rèn truyền thống thì họ vẫn giữ như xưa.

Theo phong tục cổ truyền, người Cơtu vẫn giữ các nghi lễ gắn với nghề rèn. Trước mỗi mùa rèn, người Cơtu thường tổ chức cúng Yàng ngay tại lò. Lễ cúng Yàng do người thợ rèn “cụ” của làng đứng ra tổ chức. Vật phẩm thường gồm có con gà, ché rượu cần thơm ngon, rượu tà vạt, mấy dĩa xôi, hoa quả... tùy theo kinh tế mỗi nhà, cốt ở long thành kính với Yàng mà thôi. Người thợ chủ lễ lấy rượu, máu gà bôi lên chiếc đe, hòn đá mài, chiếc búa, xong khấn cầu, mong Yàng phù hộ cho thợ rèn được làm ra nhiều mẻ sắt, rèn được nhiều dụng cụ lao động sắc, bén, bền.

Nghề rèn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người Cơ tu, nên mỗi khi lò đỏ lửa để rèn thì cũng là dịp để người thợ truyền nghề cho lớp trẻ biết cách học nghề. Nhờ đó, nghề rèn truyền thống vẫn lưu giữ được cho tới ngày nay.

7. Phiên chợ vùng cao

Trước đây, đồng bào trao đổi nhau bằng vật đổi vật, dựa trên giá trị tự quy ước, sự cần thiết của sản vật trong đời sống, để trao đổi ngang giá. Ngày nay do hội nhập và phát triển, để phù hợp giữa miền ngược và miền xuôi, họ họp chợ và trao đổi, bán mua bằng đồng tiền chung của cả nước. Đa phần, người Cơtu dậy từ rất sớm để đi lên rẫy, vào rừng kiếm sống. Bây giờ đi họp chợ, những đôi chân thoăn thoắt, bước nhanh và trên vai nặng trĩu gùi hàng về cho kịp buổi chợ mai. Trong mù sương sớm mai lành lạnh, mặt trời chưa ló dạng, màn đêm vẫn còn bao phủ, người Cơtu tuy chưa nhìn rõ mặt nhau nhưng tiếng gọi nhau, tiếng chân người dồn về trung tâm huyện lỵ Tây Giang để chuẩn bị cho phiên chợ huyện một ngày mới...

Mặc dù vẫn đang còn ngái ngủ, nhưng khi đến một vùng nào để khám phá, tôi thường thích đi theo họ. Đến Tây Giang mà không tham sự những phiên chợ độc đáo của đồng bào Cơtu sẽ là một thiếu sót lớn. Từ Tr’Hy và các xã sát biên giới về trung tâm huyện Tây Giang khá xa, nên người Cơtu phải đi từ ngày hôm qua để kịp phiên chợ sáng…

Các mặt hàng nông sản địa phương thu hoạch được từ vườn nhà, khai thác từ rừng núi và nương rẫy được bà con đem tới bán: những bó rau má rừng, vài chục cây mía đã được chặt thành khúc, bánh sừng trâu, nếp Pơnang, ốc đá, mấy củ ba kích, đẳng sâm mà họ vừa mới đào được, những trái thơm, còn có mấy chai mật ong rừng đến con gà, con vịt, chục trứng, măng khô, măng tươi, các loại rau củ quả như tiêu rừng, ớt, quýt, chanh, chuối, quả bí, ngọn bí, đậu đen, đậu xanh, mật ong rừng,... thấm đẫm hương vị núi rừng. Các hàng hóa đa dụng từ dưới xuôi chở lên như các đồ quạt điện, quần áo, vật dụng trong nhà…

Nhìn một lượt khắp chợ, ta như thấy, cả bức tranh sinh động nhiều gam màu về cuộc sống dân dã đời thường, phong tục tập quán, nếp sống nếp nghĩ của đồng bào Cơ tu được thu nhỏ. Thể hiện tình hình sản xuất và các hoạt động trong đời sống cộng đồng tại đây, mang nhiều nét văn hóa riêng có, kết tinh của sự lao động cần cù, sáng tạo, một nắng hai sương của người dân ở vùng cao này.

Những gian hàng của các xã A Nông, A Tiêng, A Vương cũng na ná như xã Tr’Hy,… Những mặt hàng nông sản thường có trong đời sống hằng ngày của đồng bào. Trước đây, phụ nữ ở huyện Tây Giang không có thói quen mua bán tại chợ, nên họ thiếu thông tin về thị trường, các kênh hỗ trợ cho người dân của chính quyền địa phương trong hoạt động tìm đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp chưa được chú trọng, cầu nối giữa người mua hàng và người sản xuất chưa có, với đặc thù miền rừng núi Tây Giang.

Vì vậy, chính quyền huyện Tây Giang đã phối hợp với tổ chức Malteser, tổ chức họp chợ thường xuyên nhằm tạo cho phụ nữ Cơtu thói quen buôn bán, biến các nông sản thành hàng hóa, nhằm tạo cơ hộị cho người dân “xóa đói, giám nghèo” bền vững, góp phần nâng cao vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Từ việc bán hàng, người dân sẽ mở rộng kiến thức về thị trường “bán những sản phấm cho khách hàng cần”. Từ đó, ở đầu vào họ sẽ sản xuất những sản phẩm có đầu ra, nhằm tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh. Các câu lạc bộ sẽ được thành lập phù hợp với các nguồn lực của nhóm: nuôi trâu, bò, heo, gà, trồng rau, trồng măng,.. để có hàng hóa mang ra chợ bán. Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - điều phối viên chương trình Malteser tại Đà Nẵng cho biết. Từ kết quả tốt của phiên chợ đầu, các phiên chợ sẽ họp vào ngày 23 hàng tháng.

Theo quan sát, người đến chợ là những người phụ nữ đồng bào Cơtu đủ mọi lứa tuổi. Tuy có chợ trung tâm huyện được xây dựng khang trang, nhưng người Cơtu vẫn thích họp chợ ngoài trời, trên những vạt đất trống và thoáng theo thói quen. Họ gùi hàng về đây để bán và mua những thứ cần thiết khác. Chị A Lăng Líp (xã Lăng) cho hay, chợ thường họp khoảng bốn năm giờ sáng đến khi ai bán xong là tự tự giải tán, nhưng cũng chỉ trong buổi sáng.

Cũng như bao người phụ nữ, phụ nữ Tây Giang cũng thích đi chợ. Nhà nuôi được con gì, trồng hay kiếm được cái gì ngoài rừng, trên rẫy là gùi đến chợ bán kiếm tiền mua thực phẩm và đồ gia dụng. Có khi xong buổi chợ sớm, họ kéo đến chợ trung tâm, mua những thứ cần thiết cho gia đình. Khi mặt trời đã lên cao cho đến đứng bóng, họ lại tỏa ra trên những con đường khác nhau để trở về nhà... Đi chợ sớm, không hẳn là buôn bán mà còn là nơi con người giao lưu với nhau. Nên ta lại gặp những ánh mắt, những lời qua tiếng lại, hỏi thăm nhau rộn ràng, những nụ cười thân thiện chào hỏi… Cảnh bán mua cũng không tấp nập, ồn ào như chốn thị thành.

Dù nhà nước có chợ xây chợ để tập trung các nguồn hàng hóa, phân thành những khu vực, những lô riêng biệt để chứa các loại hàng hóa khác nhau nhưng chợ sớm họp trên những khoảng đất trống cứ tồn tại trong cuộc sống thường ngày của đồng bào vùng cao. Phải chăng, chính những nơi đây đã mang những giá trị văn hóa bao đời của đồng bào Cơtu, làm cho du khách thích thú hơn khi đến đây.

Chợ sớm ngoài trời, là nơi trao đổi buôn bán các nông sản địa phương, cũng là nơi lưu giữ nếp sống, phong tục tập quán, qua đó giữ gìn nét văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc. Tại đây, đã hình thành là một "sản phẩm du lịch" tự nhiên, với những nét đẹp mà chúng ta cần tìm hiểu, biết đến, khi nghiên cứu về văn hóa dân gian một vùng đất rừng núi Tây Giang với những vấn đề đặc trưng từ phong tục tập quán, văn hóa riêng biệt,… để có cái nhìn tổng thể về mọi mặt.

Hẹn Tây Giang những ngày mới!

Tháng 9/2017 - tháng 5/ 2021




[1] Cổng thông tin điện tử huyện Tây Giang.


[2] Một loại váy ngắn của đồng bào Cơtu.


[3] Tác giả Thuận Tình

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...