Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2024

Từ cây cột lễ trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, nghĩ về việc bảo tồn, làm giàu và phát huy giá trị tri thức dân gian trong sáng tạo nghệ thuật của người Cor (PGS. TS. Võ Quang Trọng)

Trong các dân tộc thiểu số ở nước ta, người Co có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và đặc sắc. Một trong số đó phải kể đến tri thức trong sáng tạo nghệ thuật của tộc người này mà kết tinh tập trung và điển hình nhất là cây cột lễ (cây nêu) và gu bla còn gọi là gu tròn - đồ vật thờ cúng và trang trí trong ngày hội, được coi là tuyệt tác nghệ thuật chạm khắc và trang trí, là niềm tự hào của cộng đồng người Co. 

Giá trị nghệ thuật chạm khắc và trang trí thể hiện tập trung và rõ nét nhất ở cây cột lễ, gu bla và nhiều tác phẩm nghệ thuật khác phản ánh sự khéo léo, bàn tay tài hoa, đầu óc thẩm mỹ tinh tế, đầy sáng tạo của nghệ nhân người Co, cần thiết có những giải pháp để bảo tồn, làm giàu và phát huy trong bối cảnh hội nhập toàn diện hiện nay.

Từ khóa: Cây cột lễ, bảo tồn, phát huy, giá trị, nghệ thuật, người Co.

1. Mở đầu

Người Co (Cor) còn có nhiều tên gọi khác nhau như: Cùa, Của, Khùa, Bồng Miêu, “Mọi Thanh Bồng”, “Mọi Trà Bồng”, “Mọi Trầu”, “Mọi Quế”, “Ta Kua”... cư trú chủ yếu ở khu vực sông Trà Bồng, sông Rin và sông Tranh thuộc huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Tại tỉnh Quảng Nam, người Co sống ở huyện Trà My, một số ít sống ở huyện Tiên Phước và huyện Núi Thành. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân số người Co là 40.442 người. Tộc người Co còn bảo lưu được một kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc với kiến trúc nhà ở, truyện kể dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật diễn xướng dân gian, trang phục, lễ hội, phong tục tập quán, nghề thủ công, ẩm thực dân gian, tri thức dân gian… qua đó, cùng với các dân tộc anh em khác, góp phần làm nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng và giàu hương sắc. Trong nhiều giá trị đặc sắc đó, bài viết này tiếp cận một hiện vật độc đáo, được coi là tinh hoa văn hóa của người Co đó là cây cột lễ, còn gọi là cây nêu được trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, qua đó bàn thêm về việc bảo tồn, làm giàu và phát huy tri thức dân gian trong sáng tạo nghệ thuật của dân tộc này.

2. Cây cột lễ của người Co trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trong khuôn viên rộng 5ha của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có ba không gian trưng bày: Tòa Trống đồng giới thiệu văn hóa 54 dân tộc Việt Nam; tiếp đó là không gian trưng bày ngoài trời còn được gọi là Vườn Kiến trúc giới thiệu các công trình kiến trúc dân gian gồm: khuôn viên nhà ở và thủy đình của người Việt, khuôn viên nhà ở của người Chăm, nhà dài Êđê, nhà rông Bana, nhà người Tày, nhà người Dao, nhà người Hà Nhì, nhà mồ người Giarai, nhà mồ người Cơtu… và không gian thứ ba là tòa Cánh diều trưng bày văn hóa Đông Nam Á và văn hóa của một số châu lục khác.

Điều đặc biệt là, tại sảnh chính tòa Trống đồng trưng bày một hiện vật rất đẹp, rất ấn tượng với khách tham quan đó là cây cột lễ (cây nêu) của người Co, được sưu tầm ở tỉnh Quảng Ngãi. Đây thuộc loại cây cột lễ đẹp nhất của người Co, dùng cho lễ cúng có hiến sinh trâu, được trang trí bắt mắt nên còn gọi là cây hoa trang trí, một công trình nghệ thuật kết tinh sự sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ nhân người Co.

Cây cột lễ cao khoảng 15m, là một tổ hợp trang trí gồm ba phần gồm: phần gốc, thân và ngọn, được liên kết với nhau bằng mộng lùa nối với cây tre vươn lên cao, ngọn tre uốn cong xuống và có treo tấm phên nan được trang trí bằng những họa tiết trang trí buông thõng xuống.

Phần cột lễ được làm bằng gỗ tròn, chia làm hai đoạn: đoạn từ gốc lên cao khoảng 2m, được sơn phết màu trắng nhạt, không trang trí, có tròng chiếc dây lớn kết chắc chắn bằng mây để buộc cổ con trâu tế. Phần còn lại được trang trí hoa văn liên kết thành các dải nằm ngang. Ở đây, màu trắng là mảng màu được nghệ nhân sử dụng làm nền, trên đó người ta trang trí đa dạng các loại hoa văn với các hình thù sống động nổi bật lên với hai gam màu đen, đỏ là chủ đạo.

Bao quanh chiều cao thân cây cột lễ là các trang trí tạo thành các tầng, lớp với các màu truyền thống: đỏ, đen, trắng, xanh kết hợp dùng màu sắc với tạo hình trên gỗ và sử dụng xơ vỏ cây, ống sậy, hạt cườm, nan tre. Tất cả được phối hợp với nhau rất hài hòa. Phần dưới là những dải hoa văn vẽ ôm quanh cây cột gỗ. Bên trên là một bộ phận như cái mâm trang trí phức tạp cả về bố cục, hình dáng và mô típ hoa văn. Tiếp đến đoạn tre được bọc kín bằng xơ vỏ cây và tạo hình giống như hai ổ chim. Phía trên là trang trí bằng cách tạo các túm tua và vẽ các vòng màu xen kẽ nhau trải kín phần ngọn cột lễ. Tấm phên cũng được vẽ trang trí kín cả hai mặt. Hoa văn ở cây cột lễ phong phú, có sự kết hợp các vòng tròn, tam giác, hình thoi, chấm, đoạn thẳng, đường cong để tạo thành những hình như cây hoa, sao bốn cánh, tám cánh… Cách thức trang trí là tập trung thành dải, ôm quanh một trục, hoặc phân bố theo các cạnh hay theo mảng tròn trên tấm gỗ. Trên cây nêu còn có những con chim chèo bẻo bằng gỗ tô màu đen ở tư thế bay ngược chiều kim đồng hồ, con chim chèo bẻo trên đỉnh lớn hơn cả[1].

Nghệ nhân Co được coi là những người tài hoa, có đôi bàn tay khéo léo, đầu óc thẩm mỹ tinh tế, giàu sáng tạo, chỉ với chiếc rựa trong tay, họ đã thực hiện một loạt các thao tác cần thiết để đẽo, gọt, khoét, chạm, khắc, vẽ, tô màu… nhằm thể hiện các hoa văn vốn gần gũi với thế giới xung quanh, đó là chim muông, cỏ cây, hoa lá, các hiện tượng tự nhiên như: mặt trăng, mặt trời, các vì sao. Các hoa văn được người nghệ nhân khắc nổi và chìm có hình răng cưa, vòng tròn, hình thoi… để tạo nên tác phẩm nghệ thuật vừa gần gũi, vừa sống động. Nguyên liệu để pha chế tạo các gam màu đỏ, đen, xanh, trắng… dùng để trang trí các hình vẽ, họa tiết hoa văn có nguồn gốc từ thiên nhiên, chủ yếu được nghệ nhân lấy từ các loại cây cỏ, thảo quả từ rừng.

Theo phong tục hằng năm, sau vụ thu hoạch lúa mùa, cộng đồng người Co tổ chức lễ Ăn cơm mới, hoặc vào các dịp diễn ra lễ Cầu mưa, lễ Ngã rạ (còn gọi là Giã rạ)... đồng bào thường làm cây cột lễ để hiến sinh trâu. Vào những dịp như vậy, cây cột lễ là trung tâm diễn ra mọi hoạt động của lễ hiến sinh trâu. Nó vừa làm chức năng cột để buộc con trâu hiến tế thần linh vừa là “cây hoa” trang trí và “cây vũ trụ” liên thông thần linh ở trên trời với con người ở dưới đất, với tâm nguyện thành kính cầu xin các vị thần ban cho họ cuộc sống được bình yên, ấm no, hạnh phúc và sức khỏe dồi dào. Nghi lễ đâm trâu, việc cầu cúng và vũ điệu tập thể diễn ra xung quanh cây cột lễ, cộng đồng bày tỏ niềm vui, lòng phấn khởi bằng những bài dân ca, cùng cất lên lời hát xađru, agiới mượt mà; say sưa, nhịp nhàng, uyển chuyển với điệu múa cà đáo trong âm vang nhịp điệu của diễn tấu cồng chiêng, rộn ràng trong tiếng kèn, tiếng trống quanh ngọn lửa bập bùng giữa khung cảnh hùng vĩ của núi rừng.

Trong một lần tiếp đón vị khách nước ngoài tham quan Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, khi nhìn thấy cây cột lễ dựng lên cao vút ngay tại sảnh chính, vị khách đã nói với tôi rằng, chỉ cần thấy cây cột lễ của một dân tộc thiểu số được trưng bày trang trọng giữa gian khánh tiết của tòa nhà, tôi có thể hiểu được quan điểm và chính sách của nhà nước Việt Nam đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhận xét của vị khách khiến tôi xúc động và tự hào khi Bảo tàng đã thể hiện được quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong trưng bày và giới thiệu văn hóa các tộc người ở nước ta, trong đó đã phản ánh được vị thế của dân tộc Co nói riêng cũng như các dân tộc thiểu số nói chung, hiện hữu sự tôn trọng, bình đẳng trong đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam tại không gian trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

3. Đôi điều về sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân người Co

Trong các tác phẩm nghệ thuật của người Co, ngoài cây cột lễ được dựng vút cao lên bầu trời xanh, một công trình sáng tạo của nhiều nghệ nhân dân gian để tạo điểm nhấn cho không gian lễ hội, thu hút sự quan tâm của mọi người thì gu bla, còn gọi là gu tròn - đồ thờ và là vật trang trí treo chính giữa gian khách để làm đẹp không gian ngôi nhà dài truyền thống, được coi là tuyệt tác nghệ thuật chạm khắc và trang trí của người Co. Ở tác phẩm này, hội tụ đỉnh cao trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ nhân. Gu bla được chạm khắc công phu, cầu kỳ với các dải hoa văn trang trí nổi bật. Gam màu chủ đạo được nghệ nhân người Co sử dụng để chế tác gu bla là màu đen. Gu bla gồm hai lớp, còn gọi là gu pi và gu pô, biểu trưng cho âm dương. Mỗi lớp được tạo bởi hai thanh gỗ đẽo lắp vuông góc với nhau thành bốn nhánh, nối hai lớp này lại với nhau bằng một trụ gỗ vuông. Người ta khắc chìm các hoa văn trang trí khắp bốn mặt của trụ gỗ và hai mặt bên các thanh gỗ khá đậm đặc các mô típ hoa văn động, thực vật và hoa văn hình kỷ hà. Ở đầu các thanh gỗ được trang trí hoa văn hình mặt trời, hoa văn hình mặt trăng. Bốn mặt của trụ gỗ là các hoa văn hình cây cỏ, hoa lá xuất hiện có phần nổi bật hơn cả. Để gia tăng tính thẩm mỹ cho gu bla, nghệ nhân còn sử dụng các đoạn thân cây sậy kết nối từng dải tua treo vào các thanh gỗ thành từng dãy cùng các hình con chim, con cá, chiếc lược, chiếc gùi… được đẽo tạc bằng gỗ treo điểm xuyết để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật đẹp mắt và sống động.

Khảo sát chạm khắc và trang trí cây cột lễ và gu bla cho thấy, sự kết hợp hài hòa giữa bố cục trang trí với các loại mô típ hoa văn, các mảng màu đỏ, đen, xanh, trắng. Tất cả được phối màu để tôn lên vẻ đẹp của đồ án trang trí bằng tất cả tài năng và kinh nghiệm của người nghệ nhân dân gian. Các thao tác kỹ thuật chạm, khắc, gọt, đẽo... kết hợp với nghệ thuật trang trí làm cho tác phẩm nghệ thuật trở nên hoàn chỉnh và sinh động hơn. Ở các tác phẩm này, chúng ta có thể cảm nhận được nghệ nhân người Co không chỉ là những người yêu cái đẹp mà còn là những người giàu sáng tạo, kiên trì, tỉ mỉ đến từng chi tiết. Họ giỏi phối màu một cách hợp lý để các màu đứng cạnh nhau bổ sung cho nhau hài hòa làm tôn vẻ đẹp chung mà không bị đối chọi về màu sắc. Sự lựa chọn các mô típ hoa văn của nghệ nhân là rất phong phú và đa dạng. Các mô típ hoa văn được sử dụng trang trí trên cây cột lễ và gu bla cho chúng ta thấy một thế giới đa dạng về các kiểu dáng: chim, thú, hoa lá, cỏ cây, các hình kỷ hà… tất cả hiện lên đều có hình dáng gọn gàng, đường nét rõ ràng khiến cho sự kết hợp đó trở nên hài hòa, đơn giản mà tinh tế.

Nghệ nhân người Co giàu năng lực sáng tạo nghệ thuật, có đầu óc thẩm mỹ cao. Điều đó còn được thể hiện qua các tác phẩm nghệ thuật sống động phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống của cộng đồng. Với người Co, từ các vật dụng trong đời sống đến các đồ vật sử dụng trong các nghi lễ đều được bàn tay nghệ nhân biến thành sản phẩm mang tính thẩm mỹ tinh tế làm đẹp cuộc sống. Nghệ nhân dân gian người Co không chỉ có đôi bàn tay khéo léo mà còn có năng lực sáng tạo nghệ thuật đạt đến trình độ cao ở khá nhiều loại hình trong đời sống cộng đồng. Đỉnh điểm của sự hội tụ của thế giới nghệ thuật chạm khắc và trang trí được phản chiếu rõ nhất là vào dịp người Co tổ chức lễ hội, mùa “ăn năm uống tháng” của cộng đồng. Đối với người Co cũng như các dân tộc khác, lễ hội là “thời điểm mạnh” (chữ dùng của Đinh Gia Khánh), điểm hội tụ để người nghệ nhân thỏa sức thể hiện năng lực sáng tạo nghệ thuật vừa linh thiêng hóa các nghi lễ, vừa làm cho không gian lễ hội lung linh sắc màu bằng những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, tạo niềm tin, sự phấn chấn, hồ hởi, náo nức của mọi thành viên trong cộng đồng. Đây là dịp mà khả năng sáng tạo của người nghệ nhân được hội tụ và tỏa sáng để kết tinh thành các tác phẩm chạm khắc, trang trí đặc sắc, góp phần tô điểm, làm đẹp và sống động không gian lễ hội của cộng đồng người Co. Cây cột lễ, gu bla… là những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp, độc đáo được các nghệ nhân người Co sáng tạo nên để dâng lên các vị thần linh, làm đẹp cuộc sống, là tài sản vô giá của người Co mà không nhiều dân tộc có được.

Vốn nổi tiếng là những người có năng khiếu thẩm mỹ, nghệ nhân người Co đã thể hiện sống động tài năng sáng tạo nghệ thuật qua chế tác, trang trí đặc sắc. Họ là những người giàu kinh nghiệm trong việc tạo tác, bố cục, sử dụng các gam màu, đặc biệt là các màu chủ đạo một cách phù hợp. Các loại mô típ, hoa văn đa dạng, bao gồm: động, thực vật, hình kỷ hà… được bố cục theo hệ thống riêng với các mảng màu sử dụng hợp lý để tôn thêm vẻ đẹp của tác phẩm nghệ thuật. Sự tinh tế trong việc thể hiện, trong phân phối, bố trí các mảng màu, hoa văn theo từng chủ đề… góp phần tạo nên những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, mang đậm bản sắc tộc người. Đó là tài sản vô giá cần được khẳng định và các thế hệ tiếp nối phải có trách nhiệm gìn giữ, bảo tồn, làm giàu và phát huy giá trị di sản văn hóa đó.

Nghệ nhân người Co có phẩm chất nghệ sĩ, có một tâm hồn bay bổng lãng mạn. Phẩm chất ấy được kế thừa từ một dân tộc có truyền thống nghệ thuật, được thừa hưởng sự sáng tạo từ nhiều thế hệ, được nuôi dưỡng, lưu giữ, bảo tồn thông qua các hoạt động đa dạng trong đời sống tinh thần, luôn diễn ra quanh năm của toàn thể cộng đồng. Tri thức sáng tạo nghệ thuật là phẩm chất có từ trong máu thịt của người Co, được bồi đắp, làm giàu qua nhiều thế hệ trên cơ sở của một nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc lại được nuôi dưỡng bởi một dân tộc giàu truyền thống văn hóa.

4. Bảo tồn, làm giàu và phát huy giá trị tri thức dân gian trong sáng tạo nghệ thuật của người Co

Nếu như bảo tàng có nhiệm vụ bảo vệ di sản văn hóa trong môi trường “tĩnh” để lưu giữ, không làm cho di sản bị mai một, biến dạng, cố gắng gìn giữ di sản càng lâu dài càng tốt thì bảo tồn lại diễn ra trong môi trường “động” là trách nhiệm của cộng đồng và chính quyền địa phương. Bảo tồn vừa có nhiệm vụ gìn giữ, vừa có chức năng làm cho di sản sống trong môi trường sản sinh ra chúng. Bảo tồn ở cộng đồng vừa gìn giữ di sản vừa có cả sáng tạo để làm giàu di sản.

Trong việc phát huy giá trị di sản, chúng ta cần tham khảo thêm kinh nghiệm của nước ngoài. Có thể coi việc phát huy âm nhạc dân gian Arirang của Hàn Quốc, một loại hình nghệ thuật đã góp phần tạo nên sức mạnh nội sinh và trở thành một trong những biểu tượng nổi bật trong bức tranh văn hóa đa sắc màu của nhân loại là một kinh nghiệm quý đối với Việt Nam. Theo quan điểm đó, di sản sáng tạo nghệ thuật dân gian nên được chia ra hai loại hình, một loại giữ “nguyên gốc”, lưu giữ các yếu tố truyền thống để phục vụ cho những yêu cầu cần thiết, và loại kia có sự sáng tạo, cách tân như là cách làm mới, làm giàu di sản. Theo quan điểm này, nên chăng với những sáng tạo về nghệ thuật chạm khắc, trang trí hội họa của người Co, bên cạnh giữ “nguyên gốc” cũng cần sự cách tân, sáng tạo mới để cho hơi thở của cuộc sống, của thời đại lưu dấu vào di sản, và quan trọng hơn đáp ứng được nhu cầu của đông đảo công chúng trong bối cảnh hiện nay.

Thời gian qua, các cấp chính quyền, các cơ quan chuyên môn ở địa phương đã mời nghệ nhân để tổ chức nhiều lớp truyền dạy cho giới trẻ về một số loại hình di sản văn hóa như: truyền dạy nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng, hát dân ca… tuy chưa thường xuyên nhưng các hoạt động đó đã góp phần tích cực vào việc bảo tồn di sản, khích lệ lòng tự hào, trân quý di sản và thu được những kết quả rất đáng khích lệ. Riêng đối với tri thức dân gian trong sáng tạo nghệ thuật, do nét đặc thù của loại hình nên chưa có điều kiện để truyền dạy một cách bài bản. Lớp trẻ trong cộng đồng người Co chủ yếu học từ thực tế, qua việc làm của nghệ nhân là chính. Điều đó chỉ diễn ra vào những dịp cộng đồng chuẩn bị tổ chức hoạt động lễ hội. Do đó, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân gian đặc sắc này, xin có một vài gợi ý sau:

1) Tiếp tục kiểm kê, sưu tầm bổ sung văn hóa dân gian của người Co, trong đó có tri thức dân gian trong sáng tạo nghệ thuật, quan tâm đến phong cách trang trí đa dạng trên các loại cột lễ, trang trí gu bla của cộng đồng, đồ trang sức, các loại đồ dùng, vật dụng trang trí trong nhà… sắp xếp và hệ thống hóa toàn bộ những sáng tạo nghệ thuật này và phải xem đây là trách nhiệm thường xuyên của chính quyền các cấp của các cơ quan chuyên môn đối với di sản văn hóa dân tộc Co.

2) Cần chú ý sưu tầm các dụng cụ tạo tác của nghệ nhân, miêu tả, ghi âm cách diễn giải của nghệ nhân, chụp ảnh, ghi hình các thao tác liên quan đến kỹ thuật của một quy trình chế tác từ lúc bắt đầu đến khâu cuối cùng tạo nên tác phẩm hoàn chỉnh. Về dụng cụ chế tác, ngoài dụng cụ truyền thống được lưu giữ từ nhiều thế hệ, cần quan tâm đến dụng cụ mới để thay thế hoặc bổ sung nhằm hỗ trợ cho việc chế tác được nhanh hơn, kỹ thuật hơn và sản phẩm tạo ra có tính thẩm mỹ cao hơn. Chẳng hạn, nếu như lâu nay nghệ nhân chỉ cần có trong tay một dụng cụ chủ yếu là cây rựa để tạo tác cây cột lễ thì ngày nay, trong bối cảnh mới, họ có thể sử dụng thêm những dụng cụ khác, giúp cho việc chế tác thuận lợi hơn, giảm thiểu thời gian cho công việc thì nên khuyến khích.

Về vấn đề này, có thể dẫn ra đây một ví dụ. Trong một đợt tham dự hội thi trình diễn chế tác tượng nhà mồ của nghệ nhân người Giarai, Bahnar… ở Tây Nguyên, chúng tôi quan sát thấy, bên cạnh những nghệ nhân chỉ dùng duy nhất một chiếc rìu để tạo ra các bức tượng thì không ít nghệ nhân sử dụng nhiều dụng cụ khác như: cưa, đục, chạm… ngoài chiếc rìu truyền thống để tạo tác. Và rõ ràng là, với việc sử dụng nhiều dụng cụ như vậy, nghệ nhân đã rút ngắn được thời gian chế tác, chất lượng bức tượng được tạo tác có đường nét hơn, đẹp hơn, giá trị thẩm mỹ cao hơn.

3) Hiện nay có nhiều loại sơn công nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng của nghệ nhân. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần quan tâm đến phương pháp truyền thống tạo ra các màu sắc theo ý muốn. Theo đó, các loại nguyên liệu lấy từ môi trường tự nhiên, tỷ lệ, cách pha chế từng loại để tạo ra các màu sắc khác nhau dùng cho việc trang trí cũng cần được sưu tầm, gìn giữ. Nghệ nhân người Co chủ yếu lấy nguyên liệu từ trong rừng như: cây cỏ, hoa lá, đất đá… để tạo ra các màu sắc theo phương pháp dân gian truyền thống, được gìn giữ, lưu truyền lâu đời. Họ giữ bí quyết của tổ tiên, cha ông mình, do đó, các nguyên liệu sử dụng, liều lượng dùng, cách pha chế… cũng cần phải được sưu tầm để gìn giữ, bảo tồn. Nói cách khác, ngoài các tác phẩm nghệ thuật dân gian thì kỹ thuật tạo tác, nguyên liệu từ tự nhiên và cách thức để tạo ra chế phẩm cần được sưu tầm và gìn giữ.

4) Mở các lớp học để mời nghệ nhân truyền dạy cho giới trẻ ngay tại cộng đồng về cách thức sáng tạo các tác phẩm chạm khắc, trang trí. Cũng có thể mời thêm những người am hiểu về hội họa, trang trí, các thầy cô giáo giảng dạy về mỹ thuật ở các trường học trên địa bàn, nơi có cộng đồng người Co sinh sống để cùng tham gia lớp học như một chất xúc tác nhằm tăng cường tính hiệu quả cũng như lan tỏa tri thức dân gian trong sáng tạo nghệ thuật.

5) Ngoài việc tiếp tục xuất bản thành sách để công bố giới thiệu rộng rãi đến mọi người về di sản văn hóa dân gian nói chung trong đó có các tác phẩm về sáng tạo nghệ thuật của người Co, cần thiết phải số hóa toàn bộ di sản văn hóa dân gian, trong đó có các trang trí, hoa văn để lưu giữ lâu dài. Đây là nhiệm vụ quan trọng, cần có kế hoạch để sớm thực hiện có hiệu quả. Hiện nay, một số địa phương ở nước ta đã, đang triển khai công việc này nhưng chưa thật bài bản và do đó chất lượng chưa như mong muốn. Ở đây đòi hỏi sự tham gia và phối hợp của các nhà khoa học, các công ty có thế mạnh về công nghệ 4.0 mới có thể triển khai có hiệu quả hoạt động này.

6) Trong việc bảo tồn những giá trị tri thức dân gian trong sáng tạo nghệ thuật truyền thống cũng cần khuyến khích những sáng tạo mới trên cơ sở nền tảng văn hóa truyền thống tộc người như một phương thức làm giàu và phát triển di sản văn hóa. Cần nghiên cứu để biến một số loại hình di sản văn hóa sớm thành sản phẩm hàng hóa, sản phẩm du lịch để chúng đến với đông đảo công chúng. Tạo đầu ra cho các sản phẩm có thể là các cơ sở văn hóa, bảo tàng, điểm tham quan, trung tâm thương mại, công ty du lịch… để lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc Co.

5. Kết luận

Kho tàng văn hóa dân gian phong phú, đặc sắc của dân tộc Co, trong đó có các tác phẩm chạm khắc, trang trí nghệ thuật đặc sắc là di sản quý giá. Trên nền tảng văn hóa dân gian phong phú đó, nhiều thế hệ nghệ nhân người Co đã và đang gìn giữ, sáng tạo nhiều công trình nghệ thuật không chỉ tô đậm thêm bản sắc văn hóa tộc người mà còn làm cho bức tranh văn hóa của 54 dân tộc ở nước ta thêm nhiều hương sắc, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa Việt Nam. Ngoài việc lưu giữ, bảo tồn giá trị di sản văn hóa dân gian nói chung và nghệ thuật chạm khắc, trang trí nói riêng của người Co, cũng rất cần đến giải pháp sáng tạo, cách tân để làm mới, làm giàu di sản. Đây là cách thức để di sản văn hóa dân gian nói chung và tri thức dân gian về sáng tạo nghệ thuật phát triển, đáp ứng nhu cầu của đông đảo công chúng, giúp cho việc lan tỏa giá trị di sản rộng hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Công việc đó đòi hỏi sự chung tay của cộng đồng người Co, chính quyền các cấp, cơ quan chuyên môn, các nhà khoa học, các nhà quản lý mới có thể thành công.



Tài liệu tham khảo



1. Nguyễn Văn Huy chủ biên (2007), Từ điển hiện vật văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

2. Lê Hồng Khánh, Nghệ thuật trang trí trên cây nêu dân tộc Kor, https://ban dantoc.quangngai.gov.

3. Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Nxb. Thống kê, Hà Nội.

4. Nguyễn Thị Hồng Thu (2024),“Di sản với sự hội nhập và phát triển nhìn từ Airang của Hàn Quốc và Quan họ Bắc Ninh”, Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 1, Hà Nội.




[1] Nguyễn Văn Huy chủ biên (2007), Từ điển hiện vật văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.111.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...