Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2024

THẦN THOẠI, TRUYỀN THUYẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở PHÚ YÊN (TS. Nguyễn Định)


Tóm tắt: Khi nói tới dân tộc thiểu số miền núi Phú Yên là chủ yếu nói tới người Êđê, người Chăm và người Bana. Theo đó, đề cập đến thần thoại, truyền thuyết các dân tộc thiểu số Phú Yên là chủ yếu nói tới thần thoại, truyền thuyết của ba tộc người này.

Thần thoại và truyền thuyết của các dân tộc thiểu số trên đất nước ta nói chung nội dung rất phong phú, sâu sắc - giàu giá trị văn học và tính nhân văn. Nội dung ấy trong thần thoại và truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Phú Yên (Êđê, Chăm, Bana), chủ yếu thể hiện qua ba nội dung: kể về việc sinh ra trời đất, núi sông; kể về những kì tích sáng tạo văn hoá trong buổi đầu của con người; kể về những cuộc đấu tranh xã hội trong buổi đầu xã hội có giai cấp.

Cũng như hát kể sử thi, người kể chuyện dân gian/chyện đời xưa - nghệ nhân dân gian ngày càng ít đi. Cùng với điều đó là sự “tấn công” - tỏ ra ưu thế của các loại hình giải trí bằng phương tiện công nghệ thông tin của thời đại 4.0 đã làm cho loại hình kể chuyện dân gian đang mai một và suy tàn, Chúng ta cần sớm có giải pháp bảo tồn, phát huy bộ phận văn hóa dân gian giá trị này.

Từ khóa: Nội dung thần thoại, truyền thuyết, mai một, sớm có giải pháp.

1. Kể về việc sinh ra trời đất, núi sông

Nội dung đề cập đến việc sinh ra trời đất, núi sông phần lớn biểu hiện trong các truyện có tương đối đầy đủ các đặc trưng của thể loại thần thoại. Đó là: Huyền thoại về sông anh sông em, Huyền thoại về phụ lưu sông Ea Talui/Cà Lúi, Huyền thoại Chơ Rất lấp sông Ba, Suối Chồng Mâm và sự tích ma lai v.v...

Huyền thoại về sông anh sông em giải thích sự hình thành sông Ba như sau: Ngày xưa, Trời phân định sông Ba là sông anh, các sông Cà Lúi, sông Ea Nho, sông Krông Hinh, sông Krông Năng, sông Con, sông Cau đều là sông em. Tuy phân định vai vế lớn nhỏ, nhưng tất cả các sông phải đúng giờ mới được chảy cùng một lúc để mang nước đến cho người dân, cuộn phù sa bồi đắp đồng ruộng, có đủ nước uống cho trâu bò, chim muông và tưới cây cối theo từng khu vực được chỉ định trước. Thời gian các sông chảy được ấn định như sau: canh một chuẩn bị, canh hai chuyển mình, canh ba, canh tư sẵn sàng và canh năm tất cả các sông cùng chảy một lúc. Nhưng các sông em mải mê chơi, không nghe lời dặn của Trời, cho nên chỉ mới bắt đầu canh một, hai sông Ea Nho và Cà Lúi chảy trước. Các sông em còn lại, sông thì chảy canh hai, sông thì chảy canh ba, rất lộn xộn. Duy nhất chỉ có sông anh là sông Ba nghiêm túc, chuẩn bị kĩ càng, đúng canh năm mới bắt đầu chảy.

Trên cao, Trời nhìn xuống thấy nước sông Ba vừa mới bắt đầu, nước mới lấp lửng các bãi đá gốc dưới lòng sông, trong khi đó nước các sông em đã tràn đầy khiến Trời tức giận bắt tất cả các sông em đều nhập chung vào sông Ba. Sông Cà Lúi (tức sông Ea Tlui - sông em út) nhập vào sông Ba tại buôn Chơ, buôn Học. Sông Bà Lá, sông Ea Nho nhập vào ở đoạn Phú Túc. Krông Năng nhập vào Krông Hinh và cả hai nhập vào sông Ba tại Thạnh Hội, Nhiễu Giang. Sông Con, sông Cau nhập vào tại Ngân Điền. Sau đó, Trời còn bắt các sông Krông Năng, Krông Hinh, sông Cau, sông Con phải chở đất thật tươi tốt, màu mỡ để tạo thành đồng ruộng Tuy Hoà. Tất cả các sông đều không dám trái lệnh Trời, lập tức làm nhiệm vụ để tạo thành các hợp lưu và cánh đồng màu mỡ ngày nay ở Phú Yên[1].

Nổi bật trong thế giới nghệ thuật của truyện là hình tượng ông Trời. Trong tâm thức của cư dân nông nghiệp phương Nam, trong đó có các dân tộc thiểu số ở Phú Yên, Trời là vị thần tối cao, có quyền uy tuyệt đối tạo ra vũ trụ, các hiện tượng tự nhiên và sự sống của loài người. Đẻ ra các dòng sông, nên Trời mới phân vai vế anh, em cho chúng. Trời buộc các dòng sông phải chảy đúng vào canh năm. Khi các sông em, chảy sai thời gian đó, mới bị Trời trừng phạt. Chính sự trừng phạt của Trời mà trên đất Phú Yên mới có sông Ba - dòng sông mang trữ lượng nước và phù sa lớn nhất. Truyện thể hiện cách giải thích thế giới hồn nhiên, độc đáo và sự cố gắng vươn lên nắm bắt quy luật giới tự nhiên của người xưa. Điều đó chủ yếu biểu hiện trong những chi tiết nói về địa điểm hợp lưu giữa sông Ba - sông anh và các sông em - sông Cà Lúi, sông Ea Nho, sông Krông Hinh, sông Krông Năng, sông Con, sông Cau; đặc biệt là chi tiết, Trời còn bắt các sông Krông Năng, Krông Hinh, sông Cau, sông Con phải chở đất thật tươi tốt, màu mỡ để tạo thành đồng ruộng Tuy Hoà. Chi tiết ấy cho thấy, từ xa xưa, con người đã nhận thức được vai trò mang phù sa về đồng ruộng của các dòng sông. Nhận thức này chứng tỏ khi sáng tạo ra truyện, con người đã có trình độ tư duy tương đối cao trong hành trình tìm hiểu và lí giải thế giới.

Cũng là truyện còn đậm sắc thái thần thoại, mang chủ đề giải thích giới tự nhiên, song, Huyền thoại Chơ Rấk lấp sông Ba có dấu hiệu ra đời muộn hơn, bóng dáng lịch sử - xã hội, tuy chỉ mới thấp thoáng xuất hiện, nhưng cũng đã có phần rõ nét trong truyện.

Nội dung truyện là lí giải sự hình thành núi Taoking Chơ Rấk: Ngày xưa có một người ở nước Hoả Xá sức lực phi thường, ông ta có thể vác tảng đá nặng hàng ngàn cân đi đoạn đường dài 5 rựa mà không trở vai, nên được đặt tên là Chơ Rấk (tức ông rất khoẻ). Trên dòng sông Ba có rất nhiều tôm cá, nên một ngày kia Chơ Rấk từ Phước Tân đã vác những hòn đá tảng lấp dòng sông Ba để bắt cá. Sau khi bắt được cá đầy lao, Chơ Rấk lại vác 3 hòn đá to chụm lại thành ông táo, dùng củi đốt lửa để nướng cá. Hàng ngàn năm sau, những tảng đá kia biến thành núi. Một ngọn nằm ở đoạn hợp lưu giữa hai sông Cà Lúi và sông Ba, một ngọn ở Phước Tân còn ngọn kia thì ở Phú Túc. Dân gian gọi chung là núi Taoking Chơ Rấk. Đoạn sông Ba mà Chơ Râk dùng đá lấp dòng là đoạn phía trên lòng hồ thuỷ điện sông Ba Hạ, lòng sông hẹp, mùa khô có thể lội qua bên kia bờ sông Hinh mà không cần vén váy lên. Đồng bào dân tộc thiểu số tin rằng đoạn nông và hẹp này là do đất đá của Chơ Râk vùi lấp trước kia[2].

Nhân vật Chơ Râk trong truyện có quê hương cụ thể (Nước Hoả Xá), việc làm cụ thể (việc làm của người lao động - bắt cá), làm trong một không gian cũng khá xác định (Phước Tân, sông Ba); Chơ Râk rất khoẻ, có thể vác tảng đá nặng hàng ngàn cân đi đoạn đường dài 5 rựa mà không trở vai. Suy cho cùng, đây là sức khoẻ của con người trần thế. Như vậy, phải chăng Chơ Râk không phải là nhân vật của truyền thuyết, càng không phải là nhân vật của thần thoại?

Hoàn toàn không phải như vậy. Bóng dáng trần thế biểu hiện qua những chi tiết nêu trên không che lấp được bản chất thần thoại của nhân vật Chơ Râk. Chơ Râk vác đá lấp sông Ba, rồi vác đá làm Ông Táo .v.v... Chính những hòn đá ấy làm cho nước sông Ba cạn đến mức có thể lội qua bên kia bờ sông Hinh mà không cần vén váy. Đặc biệt là 3 hòn đá làm Ông Táo biến thành núi Taoking Chơ Rấk. Những chi tiết ấy đã làm cho Chơ Râk có bóng dáng Ông khổng lồ trong truyền thuyết của người Việt ở miền xuôi, có cả bóng dáng Thần Trụ Trời trong thần thoại Việt Nam ở vùng châu thổ sông Hồng. Chỉ có nhân vật của thần thoại mới tạo ra được kì tích với tự nhiên, với đất trời như thế (tạo ra được núi). Từ Huyền thoại về sông anh sông em đến Huyền thoại Chơ Râk lấp sông Ba, các dân tộc thiểu số đã có một hành trình dài trong việc tìm hiểu/khám phá và kể cả chinh phục giới tự nhiên. Đó là hành trình kéo thần thánh về gần với cuộc sống trần thế, hay nói đúng hơn là làm cho thần thánh hiện hữu ngay trong đời sống trần thế.

Cũng là truyện mang đậm tính chất thần thoại, song, giữa Suối Chồng Mâm và sự tích ma lai và Huyền thoại về sông anh sông em, Huyền thoại Chơ Râk lấp sông Ba khác nhau ở chỗ: Huyền thoại về sông anh sông em và Huyền thoại Chơ Râk lấp sông Ba chỉ giải thích hiện tượng thuộc giới tự nhiên, Suối Chồng Mâm và sự tích ma lai không những giải thích hiện tượng thuộc lĩnh vực tự nhiên, mà còn giải thích hiện tượng thuộc lĩnh vực xã hội.

Truyện kể rằng, Trời sinh hạ được người con trai và hết mực thương yêu. Nhưng chẳng bao lâu sau, đứa con trai đột ngột ngã lăn ra chết. Quá thương con, Trời cho chôn cất ngay tại bờ suối gần nhà. Đến ngày bỏ mả, Trời cho đặt những mâm thịt chồng lên nhau. Mâm dưới cùng là thịt gà, chim cu, mâm kế là chồn rắn, mâm tiếp theo là heo rừng, nai... Cứ thế đến mâm trên cùng là thịt người.

Để có được những mâm thịt như vậy, người nhà trời phải lặn lội vào rừng nhiều tháng liền săn bẫy chim thú và cũng hàng tháng liền nấu nướng chế biến cho đúng ngày để Trời cho mời tất cả các chư thần đến dự lễ bỏ mả của con mình. Sau đó, Trời cho mời mọi người vào ăn uống. Chư thần nào đến trước thì ăn mâm trên cùng, chư thần đến sau thì ăn các mâm tiếp theo cho tới mâm cuối cùng.

Các chư thần ăn mâm trên tức là ăn thịt người và sau này hoá thành con ma lai đi lang thang khắp các buôn làng rút ruột người. Hiện nay, các mâm đá chồng lên nhau do thời gian và lũ lụt cuốn xô làm đổ, lệch nghiêng hay trôi ra gần đấy[3].

Một số dân tộc thiểu số cho rằng, trong thế giới ma quỷ, có một loại ma gọi là ma lai chuyên rút ruột người qua việc ăn phân người. Con người tin và thờ thần thánh là tiền đề dẫn tới tín ngưỡng và tôn giáo; ngược lại, quan niệm có ma quỷ, sợ ma quỷ là con đường dẫn tới mê tín dị đoan. Mê tín dị đoan là hiện tượng có tính chất xã hội. Suy cho cùng, giải thích hiện tượng ma lai là giải thích một hiện tượng của mê tín dị đoan; tức giải thích hiện tượng thuộc lĩnh vực xã hội.

Khi tìm hiểu thần thoại, C.Mác cho rằng, thần thoại với tư cách là hình thức văn hoá tinh thần đầu tiên của loài người là tự nhiên và chính những hình thức xã hội đã được tái tạo lại bằng hình tượng nghệ thuật vô ý thức bởi trí tưởng tượng dân gian[4]. Thần thoại của các dân tộc thiểu số hầu như chưa tách khỏi môi trường sống, nó chưa bị phân hoá đến mức tồn tại như là một thể loại văn học dân gian, đã được ghi chép thành văn, có cuộc sống tương đối độc lập như nhiều thần thoại của người Việt[5]. Một đặc điểm khác cũng đáng chú ý trong thần thoại các dân tộc thiểu số, đó là tính chất bảo lưu bền vững, tính chất hệ thống hoá khá chặt chẽ của nó[6]. Các đặc điểm trên đây của thần thoại, ta tìm thấy phần nào trong thần thoại của các dân tộc thiểu số ở Phú Yên mà những truyện vừa phân tích là các minh chứng tiêu biểu.

2. Kể về những kì tích sáng tạo văn hoá trong buổi đầu của con người

Nội dung đề cập đến những kì tích sáng tạo văn hoá trong buổi đầu của con người chủ yếu biểu hiện trong các truyền thuyết tiêu biểu: Huyền thoại về chiếc gươm thần trên sông Ba, Dấu chân Yrit ở bến nước buôn Chơ, Sự tích hang thuồng luồng (Ông Chăm Mùng và con thuồng luồng), Mtao Chơ Lưới, Hòn Ông và chiếc đầu Chi Lới, Ấm nước nóng của vợ Chi Lới và suối Triêm Đức, v.v...

Sáng tạo văn hoá lớn nhất của nhân loại được phản ánh trong truyền thuyết các dân tộc thiểu số nói chung là việc tìm ra lửa và tận dụng nguồn nước phục vụ đời sống con người; chinh phục thiên nhiên để mở rộng địa bàn cư trú và phát triển xã hội, xây dựng nền tảng đạo đức cộng đồng cũng là những mặt quan trọng của việc sáng tạo văn hoá.

Nổi lên trong các truyền thuyết phản ánh quá trình sáng tạo văn hoá với những mặt quan trọng như trên là hình tượng các anh hùng/dũng sĩ như Siu Linh, Yrit, Chăm Mùng, Mtao Chơ Lưới - Chi Lới, v.v...

Trước hết là hình tượng các anh hùng/dũng sĩ gắn liền với việc tạo ra lửa và tìm nguồn nước phục vụ dân làng - nhân vật Siu Linh, Yrit.

Huyền thoại về chiếc gươm thần trên sông Ba kể: Trước nạn hạn hán có nguy cơ tiêu diệt cả vương quốc Hoả Xá, Siu Linh quyết đi tìm nguồn nước. Chàng được thần linh mách bảo là phải tìm cho ra lưỡi gươm thần có khả năng tạo ra nước và lửa. Chàng đi, đi mãi, một ngày kia tới một dòng sông, nhưng nước sông đã khô cạn. Siu Linh buồn chán, ngồi trên bờ sông, rồi ngủ thiếp đi trong cơn khát cháy cổ. Trong giấc ngủ chập chờn, Siu Linh chợt thấy một ánh chớp của sắt thép từ dưới lòng sông. Chính cái ánh chớp ấy đã làm dịu đi cơn khát của Siu Linh. Chàng lập tức dùng tay moi từng lớp cát dày nơi phát ra ánh thép lạnh kia. Siu Linh đào mãi, đào mãi từ ngày này sang ngày khác, cuối cùng thì trong lòng cát sâu, thanh gươm cũng đã hiện ra. Siu Linh cầm thanh gươm, huơ trong không khí, lập tức cơn mưa đổ xuống rào rào, chẳng mấy chốc dòng sông đầy ắp nước. Siu Linh lại dùng gươm chém thử lên tảng đá thì lập tức lửa cháy rừng rực. Chàng quá đỗi vui mừng, lạy tạ trời đất, rồi mang gươm trở về vương quốc, dâng lên vua Hoả Xá. Từ ngày có gươm thần, vương quốc không bị hạn hán nữa[7].

Khác với truyền thuyết về nhân vật Siu Linh, truyền thuyết về nhân vật Yrit tạo thành một chuỗi và chuỗi truyền thuyết ấy có cốt truyện như sau: Buôn làng bị nắng hạn. Yrit ra đi tìm nguồn nước. Trải qua nhiều ngày tháng, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách vì đói khát, vì đường sá xa xôi, núi đèo cách trở; cuối cùng, chàng cũng tới được dòng sông, tức tìm được nguồn nước. Tại đây, giữa chàng và con lươn khổng lồ có một trận đánh dữ dội. Trong trận đánh ấy, có bản kể là chàng đã chết: Yrit đứng trên tảng đá thủ thế chờ con lươn lao tới. Yrit dẫm mạnh chân xuống tảng đá, tóm được đuôi con lươn, nắm chặt và nhấc bỗng lên quay nhiều vòng trên không. Chàng nghiến răng, quật mạnh con lươn xuống tảng đá rồi nằm lịm đi, không bao giờ trở dậy nữa[8]. Một bản khác kể: Yrit chiến thắng con lươn một cách oanh liệt và chàng không chết: Yrit chiến đấu ròng rã bảy ngày đêm, lúc thì bị nó quật chìm xuống dòng nước sâu, khi thì bị nó kéo hai chân tới gần sát miệng hang tưởng chừng như bỏ mạng; cuối cùng, Yrit cũng hạ sát được con ác thuỷ bằng động tác quật mạnh nó lên tảng đá đến nỗi thịt của nó nát nhừ, bộ xương bị cú đập mạnh in nguyên hình dạng khổng lồ lên phiến đá. Sau khi giết chết con ác thuỷ, Yrit đưa dân làng đến lập làng mới ven sông Ba rồi lặng lẽ bỏ đi, chỉ để lại dấu chân rất to in trên tảng đá cạnh tảng đá in hình bộ xương con lươn khổng lồ[9].

Qua hình tượng hai nhân vật Siu Linh và Yrit, ta nhận ra phần nào quá trình sáng tạo ra lửa và tìm nguồn nước đảm bảo sự sống của các dân tộc thiểu số định cư lâu đời ở vùng núi phía Tây Phú Yên.

Chi tiết Siu Linh đào sâu vào lòng sông qua nhiều ngày mới tìm được thanh gươm tạo ra nước và lửa trong truyền thuyết Huyền thoại về chiếc gươm thần trên sông Ba cho thấy việc tìm ra nước và lửa là quá trình lâu dài, đầy khó khăn, thử thách và bằng chính sức lực của con người. Ở đây có nổi lên vai trò của thần thánh - thần thánh mách bảo Siu Linh. Song, sự mách bảo ấy chỉ trở thành hiện thực bằng chính sức lao động của Siu Linh, tức lao động của con người trần thế.

Phần truyện nói về trận đánh dữ dội nhiều ngày đêm giữa Yrit và con lươn khổng lồ trong chuỗi truyền thuyết về Yrit cho thấy quá trình tìm nguồn nước đảm bảo sự sống của con người cũng là quá trình đầy gian nan, thử thách - để có nguồn nước sinh sống, con người phải đánh đổi bằng mồ hôi và có cả máu nữa. Ở mức khái quát hơn, trận đánh giữa lươn và Yrit đã phản ánh quá trình tìm hiểu, chinh phục tự nhiên của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Hình ảnh thanh gươm thần trong truyền thuyết Huyền thoại về chiếc gươm thần trên sông Ba giàu ý nghĩa. Kho tàng truyện kể dân gian Việt Nam từng xuất hiện hình ảnh gươm thần (Thanh gươm trong các chuỗi truyền thuyết về Lê Lợi, về phong trào Tây Sơn, thanh gươm ông Tú của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, v.v...). Gươm thần là biểu tượng về mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc anh em, là biểu tượng về sức mạnh của chính nghĩa. Đó là những ý nghĩa có tính chất truyền thống trong truyện kể dân gian Việt Nam. Gươm thần trong Huyền thoại về chiếc gươm thần trên sông Ba là nguồn gốc của nước và lửa. Đây là nét khác biệt về ý nghĩa gươm thần trong truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Phú Yên. Chính sự khác biệt này đã làm cho ý nghĩa hình ảnh gươm thần trong truyền thuyết Việt Nam thêm phong phú và sâu sắc. Suy cho cùng, hình ảnh gươm thần trong truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Phú Yên và hình ảnh gươm thần trong truyền thuyết Việt Nam nói chung, có cùng nguồn gốc. Trong vô vàn thứ cần thiết cho cuộc sống con người, có lẽ nước và lửa thuộc loại quan trọng nhất. Nắng hạn làm cho con người không có nước để sinh hoạt, để sản xuất. Vì thế mà nắng hạn có thể làm cho loài người bị diệt vong. Chống hạn không thể là công việc của một người mà là công việc của cả cộng đồng, tức rất cần có sự đoàn kết. Tìm ra lửa càng là công việc của cả cộng đồng. Qua nhiều thế hệ, nhiều thời đại con người mới phát hiện, mới sáng tạo ra được lửa. Hình ảnh gươm thần không chỉ có ý nghĩa nói về sự đoàn kết, về sức mạnh của chính nghĩa, mà còn có ý nghĩa nói về nguồn gốc của nước và lửa là vì thế. Ở chừng mực nào đó, có thể nói, trong truyền thuyết Việt Nam, đề cập đến nguồn gốc của nước và lửa là ý nghĩa gốc của hình ảnh gươm thần.

Khác với Siu Linh và Yrit, nhân vật Chăm Mùng trong truyền thuyết Sự tích hang thuồng luồng (Ông Chăm Mùng và con thuồng luồng) tượng trưng cho người anh hùng trong công cuộc chinh phục tự nhiên để duy trì và mở rộng địa bàn cư trú (Sự tích hang thuồng luồng được ghi chép vào sách của người Việt từ những năm 60 của thế kỉ XX - Non nước Phú Yên của Nguyễn Đình Tư - Đây là truyện phản ánh sự giao lưu giữa văn hoá người Việt và văn hoá các dân tộc thiểu số. Mặc khác, nhân vật Chăm Mùng trong truyện là người thiểu số. Vì thế, chúng tôi tạm thời xếp Sự tích hang thuồng luồng vào sáng tác dân gian của các dân tộc thiểu số).

Thuồng luồng là kết quả của sự phóng đại từ hình ảnh con rắn, con trăn. Trong giới tự nhiên, rắn và trăn cũng là thế lực thù địch rất đáng sợ đối với con người, nhất là cư dân miền núi. Hiện tượng trăn ăn thịt người, rắn cắn chết người là chuyện có thật. Vì thế mà từ thời cổ đại, con người đã phóng đại chúng lên thành lực lượng tự nhiên có sức tàn phá ghê gớm đối với cuộc sống con người là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Mở đầu truyện, tác giả dân gian giới thiệu chung về sự tàn phá của con thuồng luồng: Theo tục truyền thì ngày xưa, trong hang này có một con thuồng luồng lớn lắm. Thỉnh thoảng, nó lên khỏi hang, bò vào các xóm tìm bắt người hay gia súc, gây sự khủng khiếp cho dân chúng địa phương. Để tránh tai họa bất ngờ, người ta dựng chòi mà ở[10].

Tiếp đến là phần truyện giới thiệu sự xuất hiện của nhân vật Chăm Mùng: Bấy giờ ở một làng thượng cách đó khá xa, có một người tên là Chăm Mùng, goá vợ, chỉ có một đứa con trai. Ông ta bắn ná rất giỏi. Dân chúng Vân Hoà bèn thỉnh cầu ông ta đến trừ giúp con quái vật. Họ bằng lòng trích ruộng đất cho ông sinh sống[11]. Chăm Mùng là nhân vật của truyền thuyết, song ở đoạn kể trên, lại xuất hiện rất trần thế/đời thường.

Chiến công của Chăm Mùng được dân gian kể lại cũng hết sức bình thường: Bỗng nhiên một hôm, ông Chăm Mùng đi săn vắng, ở nhà đứa con nhóm lửa nấu cơm phía dưới đất. Khi nồi cơm đang sôi thì con thuồng luồng xuất hiện, há hốc miệng toan cắn. Con ông Chăm Mùng hoảng hốt, không kịp trèo lên chòi, bèn bưng cả nồi cơm đang sôi liệng vào miệng thuồng luồng, đồng thời kêu cứu inh ỏi. Nghe tiếng kêu thất thanh, ông Chăm Mùng vội chạy về, bồi cho con vật mấy mũi tên độc kết liễu đời nó[12].

Chiến công của Chăm Mùng có vẻ bình thường, nhưng hệ quả của chiến công ấy mang lại cho dân chúng lại vô cùng lớn lao: Từ đó, dân chúng Vân Hoà hoàn toàn thoát khỏi cái nạn thuồng luồng. Dân chúng Vân Hoà nhớ ơn, hằng năm, vào những ngày tiết lễ, hoặc khi trong gia đình có giỗ, đều sửa soạn lễ vật riêng cúng cha con ông Chăm Mùng. Tục ấy ngày nay vẫn còn[13].

Với nội dung kể trên, Sự tích hang thuồng luồng trở thành truyện kể dân gian ở Phú Yên tiêu biểu bậc nhất về việc phản ánh sự giao lưu, tiếp biến văn hoá tự nhiên/tự nguyện giữa văn hoá người Việt và văn hoá các dân tộc thiểu số (Êđê, Bana, Chăm, v.v...) trên vùng đất Phú Yên. Sự giao lưu ấy chủ yếu biểu hiện qua hai chi tiết quan trọng: Cứu người Việt thoát khỏi nạn thuồng luồng là một người thuộc dân tộc thiểu số; người Việt tôn vinh, thờ cúng Chăm Mùng, một người thuộc dân tộc thiểu số. Sự tích hang thuồng luồng là truyền thuyết phong vật, nhưng nhân vật Chăm Mùng xuất hiện trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm như là con người có thật ngoài đời, đã làm cho truyện có thêm tính chất truyền thuyết nhân vật.

Tiếp theo là nhân vật Mtao Chơ Lưới-Chi Lới (ghép 2 cách gọi khác nhau của tên nhân vật trong 2 bản kể) cũng xuất hiện trong một chuỗi truyền thuyết; trong đó có 2 bản kể tiêu biểu: Mtao Chơ Lưới, Hòn Ông và chiếc đầu Chi Lới.

Trong bản kể Mtao Chơ Lưới (bản 1) (tên nhân vật là Chơ Lưới), Chơ Lưới được vua ban cho một chức lớn; mặc dù sống ở nơi nhung gấm lụa là, nhưng cái bụng của chàng không bao giờ quên được tiếng chiêng, tiếng cồng. Cái tay không lúc nào quên cái ná mũi tên cho nên chàng rất buồn và nhiều lần muốn tìm cách trốn đi và một ngày nọ chàng đã thực hiện được ước muốn. Khi Chơ Lưới về làng được ít ngày, bọn lính lại đến buôn làng tìm bắt. Chàng dùng hết sức lực để chống trả; song chỉ một mình thân cô, thế độc, chàng đã bị thua. Bọn lính bắt trói và khiêng đi. Đi được một quãng đường, bọn lính khiêng bắt đầu thấy nặng nên gọi bọn lính khác thay thế, nhưng ai đến cũng không tài nào nhấc lên được. Một lần, hai lần cũng không xong. Tên quan chỉ huy tức quá sai bọn lính chặt đầu, mang về tâu lại với vua[14].

Trong bản kể Hòn Ông và chiếc đầu Chi Lới (bản 2) (tên nhân vật là Chi Lới), Chi Lới là một người tài giỏi, sức lực hơn người, tướng mạo khôi ngô, được dân chúng tôn lên làm vua. Chi Lới nhất quyết không chịu, nhưng do áp lực của người dân, bèn ưng thuận. Sau một thời gian ngắn, Chi Lới nhớ nhà, nhớ vợ và nhất là nhớ cảnh núi non, hùng vĩ ở buôn làng cũ, nên đêm khuya lén dắt chủ bỏ trốn về. Sáng ra, thần dân hay tin bèn cử người đi rước, nhưng Chi Lới không bằng lòng. Thần dân trói chàng, khiêng đi. Chi Lới quá nặng, cả đoàn người đông đúc vẫn không làm sao khiêng nổi, họ bèn chặt đầu, khiêng đi. Tới sông Kì Lộ, chiếc đầu trì xuống không tài nào khiêng được nữa. Đoàn người chôn đầu vua Chi Lới ở đầu buôn Kì Lộ, còn thân mình vua thì chôn ở Phước Tân. Sau một đêm, ngôi mộ chôn thân mình vua nổi cao cả ngàn mét. Dân chúng gọi ngôi mộ đó là hòn Ông. Bên cạnh hòn Ông có một tảng đá lớn, dân chúng cho rằng đó là đầu vua Chi Lới lăn về nằm cạnh thân mình[15].

Nhân vật Chơ Lưới trong bản kể 1 không chịu làm quan. Nhân vật Chi Lới trong bản kể 2 không chịu làm vua. Về mặt lí thuyết, khi có vua quan là xã hội đã có sự phân hoá giai cấp sâu sắc; có quan hệ bất công giữa 2 tầng lớp bóc lột và bị bóc lột. Các nhân vật trong truyền thuyết không chịu làm quan, làm vua là tỏ thái độ bất bình đối với sự bất công của xã hội và thái độ đó là sự biểu hiện về cái cao đẹp trong nền tảng đạo đức của cộng đồng dân tộc. Mtao Chơ Lưới - Chi Lới là nhân vật đại diện cho cộng đồng dân tộc mang nét đẹp của nền tảng đạo đức ấy. Chính vì thế mà Mtao Chơ Lưới - Chơ Lới có vị trí là nhân vật sáng tạo văn hoá trong hệ thống truyền thuyết của các dân tộc thiểu số.

3. Kể về những cuộc đấu tranh trong buổi đầu xã hội có giai cấp

Kể về những cuộc đấu tranh trong buổi đầu xã hội có giai cấp chủ yếu biểu hiện ở truyện cổ tích; song, trong truyền thuyết vẫn có một số lượng truyện nhất định đề cập đến nội dung này. Truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Phú Yên có 2 truyện tiêu biểu mang nội dung như thế. Đó là Sự tích hang cồ, Chuyện tình bên thác Hơ Ly.

Truyền thuyết Sự tích hang cồ kể: Ngày xưa, con người còn sống trong hang. Ở hang nọ có tên Cồ nổi tiếng là xảo trá và gian ác. Dân làng bị Cồ bắt nạt, ăn hiếp. Yàng biết được sự việc xảy ra tìm cách diệt Cồ. Yàng nhìn thấy Y Hanh khoẻ mạnh, lanh lợi, hợp ý mình, bèn hoá phép đến hỏi: Y Hanh ơi, hãy đi đánh giặc với Yàng! Y Hanh hỏi Yàng: Đi đánh giặc ở chỗ nào? Yàng trả lời: Ở hang của tên Cồ đó. Y Hanh vốn quen với công việc nương rẫy, không biết đánh giặc là gì, nên chàng thật thà nói với Yàng: Tôi đâu biết đánh giặc. Yàng biết, nhưng vẫn khuyên Y Hanh đi. Y Hanh đi theo Yàng đến gần hang cồ. Yàng đưa Y Hanh một cái dao rồi bảo: Y Hanh chặt đi, lưỡi dao bén lắm. Muốn bắt được tên Cồ, thấy cái gì phải chặt hết cái nấy. Y Hanh thấy đá chặt đá, thấy cây chặt cây; cuối cùng bắt được tên Cồ. Yàng và Y Hanh đưa hắn về sông Ba. Dẹp xong tên Cồ, Y Hanh ở lại với Yàng. Ngày nay, xung quanh hang Cồ gần buôn Đức, xã Ea Trol còn lại dấu tích của trận đánh năm xưa[16].

Truyện có 3 nhân vật. Nhân vật Cồ đại diện cho cái ác, thấp hèn. Nhân vật Y Hanh tiêu biểu cho cái lương thiện, cao đẹp. Nội dung của truyện kể về trận đánh giữa Cồ và Y Hanh, Yàng chỉ đóng vai trò trợ giúp (thần thánh phù trợ con người - yếu tố thần kì thường thấy trong truyện kể dân gian). Song, kết cấu truyện và cách kể dễ làm cho người nghe có nhận thức ngược lại. Đây là trận đánh giữa tên Cồ và Yàng. Y Hanh chỉ đóng vai trò trợ giúp (con người trợ giúp thần thánh - hiện tượng hiếm thấy trong truyện kể dân gian). Đây là điểm thú vị của truyền thuyết. Trận đánh giữa tên Cồ và Y Hanh phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong xã hội đang manh nha sự phân chia giai cấp. Đó là cuộc đấu tranh không khoan nhượng, và cuối cùng cái lương thiện, cao đẹp chiến thắng; cái ác, thấp hèn bị tiêu diệt. Vì cuộc đấu tranh ấy không chỉ được sự đồng tình, ủng hộ của cả cộng đồng, mà còn được sự trợ giúp một cách thật nhiệt thành và hoàn toàn chủ động của Yàng (của thần thánh).

Truyền thuyết Chuyện tình bên thác Hơ Ly đề cập đến một khía cạnh khác của nội dung phản ánh những cuộc đấu tranh xã hội. Đó là bày tỏ thái độ phản đối chiến tranh giữa các bộ tộc.

Truyện kể rằng, chàng trai con của một tù trưởng yêu nàng Hơ Ly - con gái của vị tù trưởng thù địch. Đôi trai gái thường hò hẹn tình tự trên bờ sông Hinh. Chiến tranh giữa 2 bộ tộc lại xảy ra. Chàng trai được cha giao nhiệm vụ chỉ huy quân đội của bộ tộc mình canh giữ biên giới và tìm cách tiêu diệt kẻ thù. Chàng ra lệnh binh lính cứ canh giữ biên giới, không tấn công bộ tộc kia. Tuy nhiên, do thời gian canh phòng kéo dài, nên quân đội của chàng dần dần mất cảnh giác. Lợi dụng sự mất cảnh giác của đối phương, quân đội của bộ tộc cha cô gái phát động tấn công. Bị đánh vào lúc mất cảnh giác, quân đội của chàng đại bại. Chàng bị giết, thủ cấp bị cắt mang đi. Tù trưởng - cha cô gái tổ chức tiệc khao quân sau chiến thắng. Trong bữa tiệc, thủ cấp của chàng được bêu lên ngọn giáo. Vừa nhìn thấy đầu người yêu, Hơ Ly lăn ra bất tỉnh, rồi nàng ngã bệnh. Tù trưởng - cha nàng cho mời tất cả thầy lang giỏi nhất của bộ tộc chữa bệnh cho nàng, nhưng bệnh tình nàng ngày càng nặng thêm. Một ngày kia, trong hình hài vàng võ, gầy yếu, Hơ Ly bỏ nhà ra đi. Nàng đến bên bờ sông than khóc. Nước mắt nàng biến thành suối, thành sông, xói đá cứng thành thác, rồi chết. Xác nàng hoá thành phiến đá đen trong một con thác. Người đời sau, nhớ đến mối tình bi thảm đó, bèn đặt tên cho ngọn thác ấy là thác Hơ Ly[17].

Truyền thuyết đề cao và ca ngợi mối tình chung thuỷ của đôi trai gái. Tình yêu của họ có sức mạnh vượt qua biên giới của hận thù. Chàng trai cũng như cô gái biết rất rõ mình là con của 2 kẻ đối địch, nhưng họ vẫn yêu nhau, thề nguyền chung thuỷ. Tình yêu còn làm cho con người trở nên cao đẹp hơn. Chàng trai được lệnh của cha là không những giữ vững biên giới của bộ tộc mà còn tìm cách tấn công, tiêu diệt kẻ thù. Chàng không thực hiện đúng theo mệnh lệnh cha, vì chàng thấy được sự tang thương, đau khổ của con người do chiến tranh mang lại. Chính tình yêu đã giúp chàng có được trái tim và cái nhìn nhân hậu ấy. Con người có thể chết để đảm bảo sự chung thuỷ của tình yêu. Điều đó không chỉ biểu hiện trong cái chết bi thảm của cô gái mà còn biểu hiện ở cái chết đầy oan uổng của chàng trai.

Một tình yêu đẹp như thế mà bị bóp chết thì chiến tranh quả là hết sức bạo tàn. Đôi trai gái hy vọng tình yêu của họ có thể hoá giải được mối hận thù của 2 bộ tộc. Thế nhưng chiến tranh lại diễn ra ngay trong thời điểm tình yêu của đôi trai gái ở độ nồng thắm nhất. Vì tình yêu mà chàng trai không làm đúng theo lệnh của cha. Chàng không cho binh lính của bộ tộc chàng tấn công kẻ thù. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây nên cái chết đầy oan uổng của chàng. Chàng chết, nàng đau buồn, tuyệt vọng, rồi chết theo chàng. Thông qua cái chết của họ, tác giả dân gian muốn gửi đến người nghe thông điệp: chiến tranh hoàn toàn không có chỗ đứng cho tình yêu. Điều đó có ý nghĩa rằng, tình yêu của con người chỉ thực sự tồn tại trong một xã hội không có chiến tranh. Ý nghĩa phản kháng, tố cáo chiến tranh toát lên trong truyền thuyết một cách mạnh mẽ, đanh thép chủ yếu là ở điều đó.

***

Nói tới thần thoại, truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Phú Yên là chủ yếu nói tới thần thoại, truyền thuyết của người Êđê, Chăm và Bana.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy tiềm năng to lớn của thần thọai, truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Phú Yên. Tuy nhiên, thời gian qua, việc sưu tầm và nghiên cứu bộ phận văn học dân gian này trên vùng đất Phú Yên chưa nhiều. Tài liệu sưu tập của chúng tôi cho thấy, sưu tầm sử thi là thành tựu nổi bật. Tiếp đến là kết quả sưu tầm bước đầu đối với các thể loại thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích.

Trong điều kiện tài liệu sưu tập như thế, bài viết của chúng tôi chỉ mới khảo sát sơ bộ về giá trị nội dung trong thần thoại, truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Phú Yên. Trong kết quả khảo sát sơ bộ đó, chúng ta vẫn nhận ra những giá trị đích thực, to lớn của thần thoại, truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Phú Yên. Chính các giá trị ấy là cơ sở thực tế để chúng ta khẳng định: bên cạnh văn học dân gian người Việt, văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở Phú Yên cũng là di sản văn hóa hoàn toàn xứng đáng được gìn giữ, lưu truyền và phát huy trong công cuộc kiến tạo một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay.

Tuy nhiên, cũng như nghệ nhân hát kể sử thi, nghệ nhân kể thần thoại, truyền thuyết còn rất ít, phần lớn họ đã qua tuổi trung niên, đi vào lớp cao tuổi - người già; cùng với đó là các loại hình giải trí mới, qua phim ảnh, qua mạng xã hội ngày càng tỏ ra có ưu thế ngay trong không gian văn hóa truyền thống, trong không gian hát kể sử thi, không gian kể chuyện đời xưa, trong đó có thần thoại và truyền thuyết của lớp người cao tuổi; có nghĩa là vốn quý văn hóa này đang dần bị mai một/suy tàn. Cần sớm có giải pháp bảo tồn - sưu tầm, nghiên cứu, phát huy trong xã hội đương đại. Đó là lời kết và cũng là vấn đề đặt ra của tác giả bài viết.

Tài liệu tham khảo



1. Hội Liên hiệp VHNT Phú Yên (2005), Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử danh thắng Phú Yên, bản vi tính.

2. Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

3. Bùi Mạnh Nhị chủ biên, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1999), Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

4. Nguyễn Đình Tư (2004), Non Nước Phú Yên, tái bản, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.

5. Lê Thế Vịnh (2002), Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số, bản vi tính.




[1], 2 Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Yên (2005), Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử danh thắng Phú Yên, bản vi tính, tr.137-138, tr.139.





[3] Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Yên (2005), Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử danh thắng Phú Yên, bản vi tính, tr.139-140.


[4] Bùi Mạnh Nhị chủ biên, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1999), Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.74.


[5], 3 Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.586, tr.587.


4 Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Yên (2005), Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử danh thắng Phú Yên, bản vi tính, tr.136-137.





[8],2 Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Yên (2005), Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử danh thắng Phú Yên, bản vi tính, tr.131, tr.132.





[10], 2, 3, 4 Nguyễn Đình Tư (2004), Non nước Phú Yên, tái bản, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, tr.113, tr.113-114, tr.114, tr.113.











[14] Lê Thế Vịnh (2002), Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số, bản vi tính, tr.10.


[15] Hội Liên hiệp VHNT Phú Yên (2005), Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử danh thắng Phú Yên, bản vi tính, tr.128-129.


[16] Lê Thế Vịnh (2002), Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số, bản vi tính, tr.6.


[17] Hội Liên hiệp VHNT Phú Yên (2005), Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử danh thắng Phú Yên, bản vi tính, tr.146-147.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...