Tóm tắt: Miền núi Quảng Nam, Đà Nẵng là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc anh em như Cơtu, Xơđăng, Ca Dong, Co, Giẻ-T'riêng (Ve, Tà Riêng, Bh', Noong)... Mỗi dân tộc có bản sắc riêng, kho tàng văn học dân gian riêng, nhưng họ cũng có những nét tương đồng, gần gũi để tạo nên một nền văn hóa thống nhất, với kho tàng văn học dân gian độc đáo. Thần thoại là thể loại văn học dân gian phố biển ở nhiều dân tộc.
Nội dung thần thoại phản ánh những nhận thức của con người về vũ trụ, thế giới tự nhiên và cuộc đấu tranh của con người với thế giới tự nhiên. Chức năng của thần thoại là giải thích nguồn gốc vũ trụ, thế giới tự nhiên, sự ra đời của muôn loài bằng trí tưởng tượng của người nguyên thủy. Nghiên cứu về thần thoại, ý kiến của Karl Heinrich Marx có tầm quan trọng đặc biệt: "Bất cứ thần thoại nào cũng dùng tưởng tượng và mượn tưởng tượng để chinh phục sức tự nhiên, chi phối sức tự nhiên và hình tượng hóa sức tự nhiên". Nhận định trên đã chỉ ra nguồn gốc, chức năng và bản chất của thần thoại.
Trong bài viết này chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu về thần thoại các dân tộc miền núi Quảng Nam, Đà Nẵng giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn vê thể loại này hầu có giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị quý báu của thần thoại nói riêng và văn học dân gian các dân tộc ít người miền núi nói chung.
Từ khóa: Thần thoại - vũ trụ, tự nhiên, con người.
Nội dung
Căn cứ vào nội dung những truyện kể đã sưu tầm được, chúng tôi cho rằng: Trong kho tàng Văn học dân gian các dân tộc miền núi Quảng Nam, Đà Nẵng thần thoại là thể loại khá đặc sắc với đầy đủ những nội dung cơ bản.
1. Thần thoại giải thích nguồn gốc vũ trụ và sự ra đời của thế giới tự nhiên
Từ thuở sơ khai con người mang khát vọng khám phá vũ trụ. Những câu hỏi: Tại sao có mặt trời, mặt trăng, các vị tinh tú? Tại sao có núi đồi, sông suối?... Đó là những câu hỏi đầu tiên của người xưa cần được giải thích.
Những dân tộc miền núi Quảng Nam, Đà Nẵng đều có những truyện kể phản ánh thời kỳ sơ khai. Hình tượng ông Khổng lồ đào sông, xây rú là hình tượng phổ biến trong thần thoại nhiều dân tộc.
Thần thoại Ca Dong kể rằng: Thuở khai sơ, ở vùng phía Đông ngọn núi Ngọc Linh có ông Khổng lồ tên Rờ Xí sinh sống. Ông không ngồi yên một chỗ mà đi khắp nơi. Những chỗ ông Rờ Xí qua lại nhiều lần, bàn chân khổng lồ của ông lún xuống, làm mặt đất trở lên lồi lõm, những chỗ thấp thành thung lũng, sông suối, những chỗ cao thành núi đồi. Có một lần sau khi từ phía Tây đi xuống, ông ngồi dựa lưng vào núi Ngọc Linh ăn trầu, nghỉ ngơi, trong lòng thấy vui ông bèn nghịch lấy bàn chân chà qua chà lại trên mặt đất, thế là thành vùng đồng bằng phía đông ngọn núi Ngọc Linh, bây giờ ăn trầu xong ông lại hút thuốc. Trong khi đưa những ngón tay đi tìm cái bật lửa ông đã vô ý cào vào mặt đất thế là những dòng sông, dòng suối đã hình thành. Lúc bấy giờ bầu trời, ở sát mặt đất. Người Ca Dong tưởng tượng bầu trời như cái mền lớn mà Yàng căng ra để phơi. Ông Rờ Xí đứng thẳng người vươn vai và ngáp hết cái mền của Yàng bị chùng xuống ở nhiều chỗ và chỉ có một chỗ cao lên, thấy thế ông Rờ Xí liền dùng cả hai tay hất tung cái mền của Yàng lên cao. Từ đó, bầu trời và mặt đất cách xa nhau. Khi đứng vươn vai ông Rờ Xí chống chân xuống đất quá mạnh, tạo thành lòng chảo sâu đó chính là sông Tranh ngày nay. Còn dầu chân thứ hai của ông, nghe đâu tạo thành con sông Đà Rằng ở Tân Phú Yên ngày nay (Sự tích về việc hình thành trời, đất, núi, sông). Nhiều dân tộc khác như Bh', Noong, Xơđăng, Cơtu, Co, Ca Dong, Giẻ - T'riêng... cũng có những trang thần thoại tuyệt đẹp giải thích về nguồn gốc vũ trụ: Sự tích mặt trời, mặt trăng (truyện kể dân tộc Bh', Noong), Sự tích nhật thực, nguyệt thực (truyện kể dân tộc Xơđăng), Sự tích về đồi núi (truyện kể dân tộc Bh', Noong), Sự tích về Khe nước (truyện kể dân tộc Cơtu), Sự tích về suối nước nóng (truyện kể dân tộc Giẻ - T’riêng)…
Tên gọi của một con suối, con sông, ngọn núi đều gắn liền với một câu chuyện kể mà ở đó con người phải đối mặt với thiên nhiên huyền bí. Bằng cách sáng tạo truyện kể dân gian nhân dân các dân tộc ít người miền núi xứ Quảng đã giải thích sự ra đời của vũ trụ và thế giới tự nhiên. Những câu chuyện kể này ít nhiều mang đặc điểm của thần thoại suy nguyên nhằm giải thích nguồn gốc vũ trụ và những hiện tượng tự nhiên. Tuy nhiên, ở đây có sự tích hợp các chi tiết như những trầm tích chồng chất lên nhau tạo nên sự pha tạp về mặt thể loại.
2. Thần thoại giải thích về nguồn gốc của con người, tộc người
Thần thoại Cơtu kể rằng: “Sau một trận lụt lớn (đại hồng thuỷ, Cơtu gọi là Mr’Nghi) cây cối và con người đều chết hết. Duy chỉ sống sót một cô gái bám vào một thanh gỗ tấp trên đỉnh núi cao, nơi có cây bưởi của cha mẹ cô đã trồng. Trong hang đá bên kia còn sống sót một con chó đực và một bếp lửa hồng.
Sau mười hai ngày đêm ròng rã, nước ngập tràn lan, cô gái tưởng mình sẽ chết theo tổ tiên. Đến ngày thứ mười ba mưa bắt đầu tạnh, trời hửng nắng, cô gái thấy con chó bơi về phía mình, người và vật trở nên gần gũi thân thiết. Cô gái vuốt ve con chó, con chó liếm chân tay cô gái tỏ ý trìu mến. Sau một thời gian, cô gái đến tuổi trưởng thành, người và vật đã thành một cặp vợ chồng như trời đất đã sắp đặt. Sau thời gian, họ tìm cách dựng lều, làm nhà để sinh sống”.
Trong đợt điền dã tại Giàn Bí, Hoà Bắc chúng tôi sưu tầm được một dị bản có nối kết thêm phần sau: “Sau khi người con trai đã lớn, một hôm mẹ bảo mang cơm vào rừng cho cha. Khi người con trở về mẹ hỏi: “Đã đưa cơm cho cha chưa?”, người con lại trả lời: “Không thấy cha đâu hết, chỉ thấy một con chó đập chết mất rồi”. Người mẹ hoảng hốt và cho con biết rằng con chó đó chính là cha của con. Sau một thời gian, người con trai trưởng thành, người mẹ nghĩ rằng không thể tiếp tục sống trong tình trạng này được nữa cho nên người mẹ đã gùi cho con một gùi gạo bảo con hãy đi vòng quanh quả núi, gặp người nào thì hãy lấy người đó làm vợ. Người con đi một thời gian dài vòng quanh quả núi, cuối cùng lại gặp chính mẹ mình. Không còn cách nào khác hơn hai mẹ con đành lấy nhau để dân tộc Cơtu sinh tồn.
Thoạt nghe, chúng ta thấy như có điều gì dị thường. Tuy nhiên, trong nghiên cứu ta thấy kiểu motif trên không phải là hiếm về thần thoại giải thích nguồn gốc các dân tộc. Phương pháp nghiên cứu so sánh của Folklore và dân tộc học theo thuyết tiến hoá đã từng được xem như chiếc chìa khoá giải mã nhiều điều bí ẩn trong Folklore của các dân tộc.
Nghiên cứu type và motif cho chúng ta thấy nhiều dân tộc Đông Nam Á có kiểu truyện này.
Thần thoại Ca Dong lại kể rằng: Thuở mới khai thiên lập địa con người xuất hiện với một dáng vẻ dị thường. Lúc bấy giờ con người rất to lớn, đôi cánh tay dài đến mấy sải và đôi chân thì thật lạ lùng, cả hai đầu gối quay ra đằng sau, hoàn toàn khác biệt với con người thời nay. Nhờ có đôi chân kỳ dị này mà con người chạy rất nhanh, xoay sở giỏi hơn loài thú. Muôn thú đều phải kính nể, khuất phục. Hơn thế con người còn có đầu óc thông minh nên con người trở thành bá chủ, thống trị muôn loài. Trước tình trạng bị con người xâm hại, bắt, giết loài thú tập hợp lại kéo nhau lên kiện Trời (Dàng).
Thấy muôn thú kiện có lý, Dàng mới xoay lại xương bánh chè của người lại phía trước. Từ đó, con người chạy chậm lại, không còn giết các loài thú dễ dàng như trước nữa. Có hai con vật giúp con người đắc lực nhất trong thời gian đầu chính là cua và rắn. Nhờ có hai con vật này mà loài người kiếm ăn dễ dàng. Thời gian sau đó, lại có thêm con trăn giúp đỡ con người. Nhờ thế con người không mấy khi sợ đói. Nhưng do con người sinh đẻ nhanh quá nên việc kiếm ăn cũng ngày càng khó khăn hơn. Vì thương con người nên bầy kiến đen mới đi tận vùng xa mang hạt lúa về vùng cao cho con người, thế là con người có hạt gạo để ăn. Để giúp con người, Dàng bèn rải lên khắp cánh rừng hạt giống mới. Từ đó, cây bắp mọc lên khắp nơi, nhờ có bắp con người có thêm thức ăn. Nhìn cây bắp lớn lên, trổ cờ, ra trái, bắp già cho con người hạt rồi bắp chết. Lúc ấy, Yàng mới nghiệm ra rằng cũng phải cho con người chết như bắp thì con người mới đủ cái ăn. Chính vì thế mà con người cũng có đời sống hữu hạn.
3. Thần thoại phản ánh kì tích khai sáng văn hoá
Nếu các vị thần sáng tạo ra trời đất và các tộc người chỉ mang những nét phác thảo thì thần thoại ca ngợi những kì tích của con người như làm nhà, thuần dưỡng súc vật, nấu rượu cần, làm bánh… mang giá trị văn hoá rõ rệt. Trong nội dung này đáng chú ý nhất là thần thoại về việc con người tìm ra lửa. Thần thoại Cơtu kể rằng: Lúc đầu vũ trụ là một xứ hỗn mang, con người sống trong tối tăm, ăn sống, ăn sít. Một hôm, một người Cơtu đã lấy hai cục đá đánh vào nhau làm xẹt ra lửa. Họ lại lấy tre lồ ô vót mỏng tạo thành cục bùi nhùi đưa vào mồi lửa. Từ đó người Cơtu có lửa, họ biết ăn chín nấu sôi, giã từ thời kỳ dã man, chuyển sang thời kỳ văn minh. Nhân vật chính trong loại thần thoại này là con người, nhưng nhờ kỳ tích của mình suy tôn thành các vị thẩn (Bán thần). Thần thoại này của người Cơtu rất gần với thần thoại tìm lửa trong sử thi “Đẻ đất Đẻ nước” của dân tộc Mường. Người Ca Dong cũng có truyện “Lửa từ đâu mà có?”. Truyện kể rằng: Thuở sơ khai, con người chưa có lửa. Đời sống của con người thật tối tăm, khổ sở. Một hôm, Dàng mới mách cho già làng biết trên thế gian này loài cáo đã giữ được lửa. Nhưng cáo rất khôn ngoan và ích kỷ, không muốn cho ai biết biết rằng mình có lửa. Một hôm Dàng sai ve đến gặp cáo xin lửa cho con người. Một ngày nọ ve đến gặp cáo trong hang sâu, ve giả bộ hút thuốc nhưng không có lửa. Thấy ve loay hoay mãi, cáo cũng chẳng buồn hỏi, phải đợi cho tới lúc ve lên tiếng xin lửa, cáo mới thẳng thừng từ chối, ve nài nỉ mãi, cáo mới bằng lòng nhưng bắt ve phải nhắm tít mắt lại khi cáo đốt thuốc cho ve. Đã đạt được ý định, ve vui vẻ nhận lời, ve nhắm riết hai mắt, cáo thấy rõ ràng mới đánh lửa. Nhờ có mắt ở nách nên ve nhìn rất rõ mọi động tác, cách đánh lửa của cáo, sau khi giả bộ hút mấy hơi thuốc, ve chào cáo ra về. Già làng được ve báo cho biết cách đánh lửa nên đã truyền dạy cho mọi người. Từ đó con người có lửa. Nhưng để giữ được lửa là rất khó nên bếp nhà nào cũng phải ủ than đỏ trong tro để giữ lửa. Tục giữ lửa của người miền núi cũng có từ đó.
Căn cứ nội dung của các truyện kể chúng ta có thể xác định truyện kể của người Cơ Tu có lẽ ra đời trước vì truyện giải thích đơn giản, rất gần với đặc trưng thần thoại suy nguyên. Truyện của người Ca Dong có nhiều chi tiết như: hút thuốc, già làng… chứng tỏ xã hội đã đi vào tổ chức và phát triển cao hơn.
Việc phản ánh quá trình tìm ra lửa của loài người là một kỳ tích. Trong thần thoại Hy Lạp, hình tượng Prômêtê chịu sự trừng phạt của thượng thần Zớt để giúp loài người tìm ra lửa đã toả sáng ánh hào quang của lý tưởng tự do, của tinh thần xả thân vì sự tồn vong của loài người.
Trong sách Văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi Quảng Nam (Nxb. Đà Nẵng, 2004, tr.162), Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bổn có nhận xét: "Theo chúng tôi, trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số miền núi Quảng Nam - Đà Nẵng, không có thần thoại mà chỉ có truyền thuyết". Căn cứ nội dung tư liệu văn học dân gian của các dân tộc ít người ở Quảng Nam, Đà Nẵng đã sưu tầm được, thiết nghĩ nhận định trên còn cần thảo luận. Mong rằng các nhà nghiên cứu sẽ có dịp làm sáng tỏ thêm vấn đề này.
Bằng cảm quan thần thoại, người các dân tộc miền núi xứ Quảng đã sáng tạo ra những câu chuyện kể vừa mang tính lãng mạn vừa mang tính hiện thực. Tính lãng mạn và tính hiện thực đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn trong thần thoại các dân tộc. Thần thoại là sản phẩm kì diệu của người xưa “Một đi không trở lại” (Gorki). Thần thoại các dân tộc ít người ở miền núi Quảng Nam, Đà Nẵng là những viên ngọc quý, chúng ta cần bảo tồn để nó ngày càng sáng lấp lánh hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Nam (2004), Văn học dân gian Quảng Nam Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền núi Quảng Nam, Nxb. Đà Nẵng.
2. Hội Văn nghệ dân gian Đà Nẵng (2007), Truyện kể đất Quảng, Nxb. Đà Nẵng.
3. Nguyễn Thị Thu Trang chủ biên (2011), Văn học dân gian các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, Nxb. Văn hóa dân học.
4. Bh'riu Liếc (2018), P'rá Cơ Tu, Nxb. Hội Nhà văn.
5. Hội Văn nghệ dân gian Đà Nẵng (2019), Bảo tồn văn hóa dân gian Cơ Tu huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Nxb. Đà Nẵng.
6. Đinh Thị Hựu - Tư liệu điền dã của tác giả tại Hòa Bắc, Hòa Phú, Hòa Vang năm 2018, 2019, Đông Giang năm 2020, Tây Giang năm 2021, Nam Giang năm 2022, Nam Đông Thừa Thiên - Huế năm 2024. (Tài liệu chưa xuất bản).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét