Tóm tắt: Bài viết nhằm truyền tải những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống thông qua việc giới thiệu về hai thể loại Thần thoại và Ngụ ngôn trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng tới các độc giả hôm nay. Thần thoại và Ngụ ngôn các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng với góc nhìn văn hóa tộc người, phản ánh giá trị văn học, văn hóa và tư duy nghệ thuật của các dân tộc bản địa nơi đây. Đây là hai thể loại mang đặc trưng dân tộc, đặc trưng vùng miền khá rõ nét.
Hy vọng với sự liên kết giới thiệu và lan tỏa kho tàng văn học - văn hóa dân gian các khu vực miền núi, đồng bằng và ven biển, Nam Trung Bộ và Quảng Ngãi sẽ trở thành một địa điểm du lịch văn hóa và lịch sử hấp dẫn của miền Trung và cả nước.
Từ khóa: Thần thoại, Ngụ ngôn, Nam Trung Bộ, Quảng Ngãi, Văn hóa tộc người.
Về mặt địa văn hóa, nước ta có nhiều tiểu vùng. Các tiểu vùng này vừa mang tính chung của cả vùng, lại vừa có sắc thái địa phương về cả tự nhiên, con người, xã hội và văn hóa. Vùng Nam Trung Bộ nước ta bao gồm Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và là nơi sinh sống của các dân tộc như Ca Dong, Hrê, Xơ Đăng, Cơ Ho, Chăm, Ba Na, Ê Đê, Gia Rai, Giẻ Triêng, Chu Ru, Cor... Riêng với Quảng Ngãi có bốn dân tộc Chăm, Ca Dong, Xơ Đăng, Hrê. Trải qua các thế hệ nối tiếp nhau, cộng đồng cư dân các dân tộc nói trên đã tạo dựng, bảo vệ và phát triển cuộc sống cho đến hôm nay và ngày càng tiến bộ phát triển không ngừng.
Trước nay đã có nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu giới thiệu văn học, văn nghệ dân gian Nam Trung Bộ và xứ Quảng. Tuy nhiên, trong bài viết này chúng tôi dưới góc nhìn văn hóa tộc người, muốn giới thiệu về hai thể loại thần thoại và ngụ ngôn, đây là những hạt ngọc quý trong kho tàng văn hóa dân gian các dân tộc miền núi nơi đây, nhưng còn ít được quan tâm giới thiệu.
I. Thần thoại các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và Quảng Ngãi với chủ đề kiến tạo mặt đất và phản ánh cội nguồn
Nam Trung Bộ và xứ Quảng nói chung có hệ sinh thái phong phú với hệ sinh thái núi, trung du, đồng bằng, đầm phá, bãi cát ven biển, biển và hải đảo...
Về địa hình, riêng xứ Quảng “rừng núi chiếm diện tích khoảng 2/3 lãnh thổ, ôm trọn mặt phía tây, nhiều nơi núi còn nhô ra sát biển bao lấy cả ba mặt đồng bằng. Dải núi phía tây nằm trong hệ thống núi nam Trường Sơn, trong đó có những đỉnh cao, thí dụ như núi Cổ Đam (cao 1600m), Đá Vách (1500m), Cao Muôn (1085m), Đồng Tâm (1066m), Hải Vân... Ngay ở đồng bằng người ta thấy nổi lên những khối núi, thí dụ ở Quảng Ngãi các khối núi đơn độc như vậy thường thấy ở nhiều nơi, như núi Đồng Tranh, Trà Quân, Thình Thình ở Bình Sơn, núi Tròn, núi Nhàn, núi Sứa, núi Thiên Ấn, núi Đầu Voi ở Sơn Tịnh...”[1].
Về dân cư, “Vào các thế kỷ trước sau Công nguyên, cũng như nhiều vùng khác của Đông Nam Á, các nhóm cư dân Sa Huỳnh nói ngôn ngữ Nam Đảo dọc biển Trung và Nam Trung Bộ đã bản địa hóa văn hóa Ấn Độ để trở thành người Chăm với nền văn minh Chăm Pa nổi tiếng, còn các nhóm Sa Huỳnh sinh sống ở rìa núi, vùng trung du bán sơn địa hay đã vượt lên Tây Nguyên, ít hay không chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ thì con cháu của họ sau này là người Ê Đê, Gia Rai, Raglai, Chu Ru...”. Và “Sinh sống ở vùng này không chỉ có các tộc người thiểu số, như Ka Tu, Hrê, Cor, Ka Dong... mà có cả người Kinh (Việt)... Đặc biệt ở vùng này từ lâu người ta đã quen thuộc với rừng núi, nên với họ rừng núi gắn bó thân thuộc, không có gì đáng sợ...”[2].
Do vậy, sở hữu các tác phẩm thần thoại ở đây là cư dân các dân tộc bản địa với lịch sử tộc người lâu đời và với sự hình dung tưởng tượng cùng những nét riêng độc đáo. Đồng thời, các tác phẩm thần thoại được sáng tạo trên cơ sở phản ánh từ bối cảnh sinh thái nơi đây. Đồng thời, hầu hết các chủ đề mang tính chung nhân loại của thần thoại cổ mẫu về kiến tạo vũ trụ và phản ánh cội nguồn đều có trong kho tàng thần thoại các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và Quảng Ngãi, song được thể hiện qua cách nhìn mang đặc trưng tư duy văn hóa tộc người.
Chủ đề về vũ trụ thuở khai sinh: Đó là các câu chuyện Vũ trụ thuở khai sinh (Xơ Đăng), Người khổng lồ (Xơ Đăng), Tầm Thêm (Chăm), Kei Kamao (Raglai)... Vũ trụ đã được vị thần khổng lồ với vóc dáng to lớn như trái núi, đầu đội trời, chân đạp đất, sức khoẻ phi thường kiến tạo ra bầu trời và mặt đất. Thần được coi như vị tổ tạo ra núi sông, loài người và muông thú, thần đi tới đâu đều để lại dấu ấn của mình. Nếu như Thần thoại người Việt có Thần Trụ trời, thì ở người Mạ có truyện Đẻ đất đẻ người kể vị thần tối cao của người Mạ lấy đất nặn người khổng lồ N`Yut vươn vai chống trời, nặn Nak Grài (rắn) khơi sông suối, Roc (gà trống) đào thung lũng, Sưr Bri (heo rừng) ủi đất đá làm thành núi... Hoặc truyện kể về hai vợ chồng khổng lồ Bok Kơi Dơi - Bok Sơgor (Ba Na) là những người tạo nên bầu trời và mặt đất nơi đây.
Chủ đề bầu trời và mặt đất trở nên xa cách này cũng xuất hiện trong nhiều truyện của các dân tộc ít người (Tày, Thái) của miền Bắc, miền Nam (Khơ Me) với khá nhiều biến thể.
Câu chuyện Trời đất và cuộc sống, Vì sao có nhật thực nguyệt thực (Xơ Đăng), Pô Adi Tyak (Chăm), Sự tích thần Sấm Sét (Raglai)... giải thích về các hiện tượng mặt trời, mặt trăng, nguyệt thực, nhật thực, sấm sét. Người Mạ cho rằng “Mặt trời là do ông thợ rèn K’Đạ dùng đất và sắt rèn nên. Mặt trăng, bầu trời và những vì sao nhỏ được ông thợ rèn K’Đu tạo nên từ sừng trâu, lưng trâu và xương đầu trâu”. Các câu chuyện Brahma (Chăm) Sáng lập vũ trụ (Gia Rai), Thế giới thần linh (Ê Đê) kể về Vị thần tối cao trên trời tương đương với Ông Trời hay Ngọc Hoàng của người Kinh. Mỗi dân tộc lại có những tên gọi khác nhau để nói về vị thần trời tối cao này, như: Brahma (Chăm), Bung (Gia Rai), Aê Diê (Ê Đê),…
Chủ đề về Nạn lụt: Các câu chuyện kể về Nạn lụt, chứng tích của nạn lụt, hay việc vùng đất biến thành biển hồ đã xuất hiện phong phú trong thần thoại các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và Quảng Ngãi, với các truyện như Hồng thủy (Ba Na), Hồng thủy (Gia Rai), Sự tích về hiện tượng lũ lụt (Tà Ôi), Nước lớn (Cơ Ho), Rum Rúp Rau (Cơ Ho), Truyền thuyết Cơi Masrĩh Mỏq Vila (Raglai), Sự tích Biển Hồ (Gia Rai)… Nguyên nhân Nạn lụt có nhiều theo cách lý giải của các dân tộc bản địa nơi đây, như do “dân làng ăn con vật thiêng nên đã gây ra là tảng đá hình con voi trên sông Pi-ây” hay cả vùng đất biến thành Biển Hồ, hay nạn lụt xảy ra do sự trừng phạt của ông Trời đối với những việc làm sai trái của con người hoặc do sự trừng phạt của thần Đất, thần Nước hay “do rác rưởi của con người thải ra bít kín lỗ thoát nước”, hay “do mối bất hòa và sự trả thù giữa các con vật”.
Chủ đề Nạn lụt và sự tái tạo con người: Với các câu chuyện Nguồn gốc các dân tộc (Xơ Đăng), Truyện ông bà trống (Ba Na), Nguồn gốc loài người (Cơ Tu), Nguồn gốc loài người (Kay Misiriq và Muq Pila) (Raglai)... cho thấy: Sau Nạn lụt, tất cả con người và vạn vật trên trái đất đều chết hết, chỉ có hai người (là anh em ruột) sống sót nhờ trốn trong cái trống hoặc trong quả bầu… Hai người lấy nhau và sinh ra muôn loài hay sinh ra những người con. Những người con này lấy nhau và sinh ra các dân tộc hay sinh ra một vật (quả trứng, cục thịt…) và từ những mảnh vụn của vật đó, loài người xuất hiện.
Chủ đề Nạn lụt và sự tái tạo loài người từ quả bầu: Đó là các chuyện Quả bầu vàng (Ê Đê), Nguồn gốc người Tà Ôi (Tà Ôi), Nguồn gốc loài người (Bru-Vân Kiều)... kể về cuộc hôn phối của hai anh em ruột, khi họ sống sót qua trận lụt, nhờ trốn trong trái bầu khô. Họ sinh ra một quả bầu lớn hay hai quả dưa (có bản kể rằng con chó đái vào cô gái khiến cô có mang sinh ra quả bầu). Khi họ băm quả bầu (quả bí), hay để quả dưa bị chày giã gạo rơi vỡ thành nhiều mảnh nhỏ, từ những mảnh bầu (bí, dưa), hạt bầu (hạt bí) hoá thành người với nhiều giống người hay nhiều dòng họ khác nhau. Đấy chính là tổ tiên của các dân tộc ngày nay,... Câu chuyện Sự tích trái bầu mẹ (hay truyện Kinh và Tà Ôi là anh em) (Tà Ôi) kể hai con chó sinh ra quả bầu lạ, chúng vứt quả bầu một nửa trên cạn một nửa dưới nước, giống người sinh ra ở nửa trên cạn phơi nắng có màu da đen là người Tà Ôi, giống người sinh ra từ nửa dưới nước da trắng hơn là người Kinh.
Chủ đề về nguồn gốc của loài người: Đó là các câu chuyện Muối, cá, sắt (Mạ), Nguồn gốc chung của các dân tộc (Ba Na), Vì sao các nhóm Ka Dong, Xê Teng, Mơ Nam,… nói tiếng khác nhau, Nguồn gốc các dân tộc (Ba Na), Sự tích các dân tộc (Raglai), Ông bà Pô Xêbadiếc và con cháu Raglai (Raglai), Tổ tiên ban đầu (Cờ Ho), Sự xuất hiện con người (Cơ Ho)... Truyện Con người (Xơ Đăng), kể con người lúc đầu sinh ra có hình vóc cao to, chạy rất nhanh nhờ có hai đầu gối hay, hai bàn chân quay được ra đằng sau, do đó người kiếm ăn rất dễ dàng nên loài thú có nguy cơ tuyệt diệt. Thú lên kiện trời, trời phải xoay đầu gối và bàn chân của người lại. Trước kia con người sống đến 900 năm, không phải làm lụng mà có đủ mọi thứ,... Nhưng sau đó, con người không sống mãi mà phải già đi rồi chết, khi chết được vào nơi có vườn Gin Gang Ka (vườn địa đàng), lý giải nguyên nhân không sống mãi mà phải chết.
Chủ đề về sự sáng tạo và khám phá tự nhiên: Là các câu chuyện tìm ra lửa, lúa, gạo, làm nhà như truyện TờRal (Cây lúa - Tà Ôi), Lúa và chó (H’rê), Sự tích cây lúa (Xơ Đăng), Lời nguyền của loài nhím (Raglai) (Người biết ăn cơm), Người Raglai làm nhà (Raglai) (Người biết làm nhà), Sự tích về lửa (Hoa) (Người tìm ra Lửa), Người có lửa dùng (Xơ Đăng), Chuyện mụ Jạ Croá hay là sự tích một số loài cây (Xơ Đăng), Sự tích núi, đồng bằng và biển (Chu Ru), Tại sao người Raglai không có chữ viết và không biết dệt vải? (Raglai), Đá thần Mau Giang Tao (Ê Đê), Đắp núi Lom Biang (Cơ Ho)…
Truyện Người Raglai làm nhà kể người Raglai nhờ Khỉ mách nước biết chặt cây làm nhà che gió che mưa. Cây cối kêu la, người Raglai nhờ ông Trời khoá miệng nên ngày nay cây rừng không nói được nữa, và con người tự bảo vệ cuộc sống của mình như ở các truyện K’Jung, K’Jang chặt cây thần (Cơ Ho), Chặt cây Luông Pling (Xơ Đăng), Chặt cây Loong Brếc (Ka Dong),...
Thần thoại còn giải thích các hiện tượng tự nhiên “không giải thích được” như truyện Đá thần Mau Giang Tao (Ê Đê), Đắp núi Lom Biang I (Cơ Ho). Các hiện tượng thiên nhiên như Đá thần Mau Giang Tao không tới được miền Giang Lá mà nằm lại ở giữa đồng lúa, hoặc đất đắp núi Lơm Biang hóa thành núi Tao Drung-Tao Dra… được dân gian giải thích là công việc bị bỏ dở của bà tiên, hoặc các vị thần, là do hậu quả của những lời nói dối.
II. Ngụ ngôn các dân tộc miền núi Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ dưới góc nhìn văn hóa tộc người
Truyện ngụ ngôn có các nhân vật là các con vật:
Truyện ngụ ngôn có các nhân vật là các con vật hoang dã trong rừng như hổ (cọp), sư tử, voi, khỉ, trâu, thỏ, hươu, dê, hoẵng, sói, cáo, chuột, trăn, rắn, gà rừng, chim, cò,... chiếm số lượng lớn trong kho tàng truyện ngụ ngôn các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng. Với các truyện như: Con Cọp và quả Bí (Hrê), Cọp, Gấu và lão Dê già, Cọp và Cò (Raglai) Thỏ và Khỉ (Raglai), Đàn thú đi săn thịt (Chăm), Hổ và Thỏ (Chăm), Hổ và Thỏ (Tà Ôi), Cọp và Mèo (Cơ Ho)...
Truyện ngụ ngôn có nhân vật là những con vật nuôi như trâu, bò, chó, mèo, gà cũng khá phong phú. Với các truyện Con gà trống dại dột (Xê Đăng), Lúa và Chuột (Hrê), Thỏ, Cọp, Dê (Chuyện con Dê) (Chăm), Cọp và Mèo (Cơ Ho), Cọp và Cò (Raglai), Đàn thú đi săn thịt (Chăm), Ếch muốn to bằng Bò (Chăm), Con Ếch muốn lớn bằng con trâu (Chăm), Gà và Cáo (Chăm),...
Trong các truyện ngụ ngôn trên, cho thấy các con vật hoang dã trong rừng sâu có số lần xuất hiện nhiều nhất trong truyện ngụ ngôn các dân tộc nơi đây. Trong đó, các con vật xuất hiện nhiều nhất là thỏ, hổ, khỉ, voi...
Trong các loài vật ở rừng, loài dã thú chiếm một tỷ lệ thấp, tuy vậy con hổ có lẽ được nói đến nhiều hơn với các biệt danh khác nhau như hùm, cọp, beo. Hơn nữa, các dân tộc sống trong môi trường vùng cao, vùng rừng núi... nên thế giới động vật, đặc biệt động vật hoang dã trong rừng sâu là đối tượng trực tiếp liên quan đến cuộc sống con người và cũng là mối quan tâm hàng đầu, thể hiện sự nhận biết của con người về những tập tính đặc điểm của chúng. Từ đó các tác giả dân gian đã quan sát về thế giới loài vật tự nhiên phong phú đó, để xây dựng những câu chuyện ngụ ngôn ẩn chứa những bài học ứng xử cho đời sống con người.
Truyện ngụ ngôn cũng xuất hiện rất nhiều các nhân vật là các con vật sống dưới nước như cá chép, cá sấu, lươn, tôm, ốc, ếch, cóc, cua, rùa, sên,… Thí dụ: Ốc xuất hiện trong truyện của Ê Đê; ếch, rùa, sên, cua xuất hiện trong truyện của Raglai, Hrê như trong các truyện Thỏ và Ốc (Ê Đê), Ếch muốn to bằng Bò (Hrê), Con Ếch muốn lớn bằng con trâu (Hrê), Rùa và Khỉ (Raglai), Thỏ và Cá Tràu (Raglai), Ka Liu (Quạ) và Cua (Hrê),…
Truyện ngụ ngôn cũng xuất hiện những nhân vật là các con côn trùng như châu chấu, ruồi, kiến, muỗi, sâu, bướm, rết, ong… như ở các truyện Loài kiến và những con vật trong rừng (Chăm),… các con côn trùng cũng đều là những con vật rất gần gũi với cuộc sống của con người.
Truyện có nhân vật là các con vật nuôi như gà, trâu, ngựa, chó, heo, mèo, vịt, chim… như ở các truyện Trâu và ngựa (Hơ Rê), Tình nghĩa gà vịt (Vân Kiều), Trâu thiếu răng, ngựa không sừng (Xơ Đăng)…
Sự xuất hiện của con vật trong truyện ngụ ngôn các dân tộc cho thấy con người với kinh nghiệm của mình, muốn truyền tới ít nhiều những bài học cho thế hệ sau thông qua các câu chuyện về loài vật, về quan hệ giữa các con vật để nhằm nói tới, ám chỉ tới các mối quan hệ của chính con người.
Truyện ngụ ngôn có nhân vật là người và con vật:
Truyện ngụ ngôn có nhân vật là người và con vật có thể kể tới các truyện ngụ ngôn như Dao, Chó, Mèo (Tà Ôi), Cọp và Cò (Raglai), Thỏ và Bà Già (Raglai), Con Thỏ ranh mãnh (Chăm), Thỏ và bà già nhổ cỏ (Chăm), Truyện Hổ và Ngựa (Chăm), Trâu đực đẻ con (Chăm), Thỏ và các vật nuôi (Cơ Ho),…
Ở loại truyện này, các con vật với những tính cách riêng của mình thường được xây dựng là những nhân vật thông minh như Con Cò mưu trí đã giúp người giết chết Cọp trong truyện Cọp và Cò (Raglai) khi Cọp đòi ăn thịt người. Trong truyện Thỏ và các vật nuôi (Cơ Ho), nhân vật con Thỏ trong quan hệ với các con vật và với người đã thể hiện trí thông minh, lanh lợi của mình. Ví dụ như Thỏ bày mưu giúp người giết Cọp khi người thợ săn vào rừng đi săn, gặp Cọp rừng và bị Cọp đòi ăn thịt. Truyện Thỏ và Bà Già (Raglai), Thỏ và bà già nhổ cỏ (Chăm), bà già nhờ có Thỏ thông minh và ranh mãnh đã đòi lấy được bê con khi Bà gửi bò đực cho hàng xóm nuôi hộ. Hoặc Thỏ giúp người Em đã thắng kiện người Anh, đòi được con Nghé trong truyện Trâu đực đẻ con (Chăm) khi Anh tham lam nhận trâu đực của mình đẻ ra con nghé của Em. Con Thỏ ranh mãnh, con Thỏ tinh nghịch, con thỏ thông minh...
Có thể kể ra những truyện ngụ ngôn tiêu biểu có trong dạng truyện có nhân vật là người và vật với nội dung như những truyện Người nông dân, con Hổ và con Trâu (Chăm), Trâu đực đẻ con (Chăm),...
Truyện ngụ ngôn có nhân vật là người:
Truyện ngụ ngôn có nhân vật là người các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng qua thực tế sưu tầm và khảo sát có số lượng khá ít. Thí dụ truyện Nghề kẻ cắp (Chăm) nói về hai người bạn hỏi nhau kinh nghiệm làm giàu, người bạn giàu có nói “Chỉ có nghề ăn cắp!”, người bạn nghèo nghe theo và bèn đi ăn cắp. Anh ta bị bắt, bị đánh và bị đeo gông vào cổ và bị bêu xấu khắp làng. Sau anh ta tìm đến trách móc, anh giàu bảo bạn “Nghề ăn cắp của anh ta là ăn cắp của đất đai, chăm chỉ làm việc mới có của ăn của để, chứ không phải là đi ăn cắp của người khác!”. Câu chuyện là bài học cho những kẻ lười biếng...
Với tư duy mộc mạc, với cách thức nhân hóa và ẩn dụ, truyện ngụ ngôn các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng, đều mang đặc điểm chung là thông qua mối quan hệ giữa các con vật, hoặc giữa con vật và con người, giữa con người và con người, nhưng đích đến cuối cùng vẫn là nói chuyện con người và mang tính triết lý cao.
Vì thế, các câu chuyện ngụ ngôn đã giúp con người rút ra những bài học nhân sinh, về lẽ sống, cùng thái độ phê phán, châm biếm những điều xấu, những điều chưa tốt. Truyện ngụ ngôn các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng thực sự là tinh hoa được đúc kết qua kinh nghiệm, qua quá trình sinh sống lâu đời của người dân các dân tộc trên mảnh đất này.
Như vậy, các tỉnh Nam Trung Bộ cũng như xứ Quảng trải dài theo hướng bắc nam, chiều ngang lãnh thổ hẹp, trong đó Quảng Ngãi là rẻo đất hẹp nhất, bề ngang có nơi chỉ khoảng 60km (Quảng Ngãi đất nước, con người, văn hóa, 2001), phía Tây được bao bọc bởi dãy Trường Sơn, phía Đông là biển Đông. “Trải qua quá trình lịch sử lâu đời hàng mấy ngàn năm, cũng giống như vùng châu thổ Bắc Bộ và Nam Bộ bước vào thế giới văn minh, hình thành nhà nước, hình thành tộc người và tạo nên các truyền thống văn hóa rực rỡ. Nơi đây đã diễn ra quá trình gặp gỡ và hòa đồng chủng tộc, hòa đồng văn hóa vô cùng sống động, trong văn hóa của người Sa Huỳnh - tiền Chăm là nền tảng, sau đó được làm phong phú hơn bởi những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, Việt, Trung Hoa. Tất cả những gì gọi là bản sắc, sắc thái văn hóa độc đáo của vùng này đều xuất phát từ tính đa văn hóa đa chủng tộc nói trên”[3].
Từ thực tế lưu truyền những câu chuyện Thần thoại và Ngụ ngôn trong cộng đồng các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng cho thấy văn hóa của buôn làng, của các dân tộc nơi đây đã được gìn giữ, đúc kết qua nhiều thế hệ và cho tới ngày nay vẫn còn sức sống lâu bền.
Bài viết mong có sự truyền tải những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống thông qua việc giới thiệu về hai thể loại Thần thoại và Ngụ ngôn trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng tới các độc giả hôm nay.
Tác giả bài viết cũng xin phép và cảm ơn các nhà sưu tầm địa phương và Trung ương để chúng tôi sử dụng qua các sưu tập những tác phẩm Thần thoại và Ngụ ngôn các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ và xứ Quảng trong bài viết này.
Với sự liên kết giới thiệu và lan tỏa kho tàng văn học - văn hóa dân gian các khu vực miền núi, đồng bằng và ven biển, hy vọng Nam Trung Bộ và xứ Quảng sẽ trở thành một địa điểm du lịch văn hóa và lịch sử mãi hấp dẫn của miền Trung và cả nước.
Tài liệu tham khảo
1. Trương Bi, Wơn sưu tầm, biên soạn, Quả bầu vàng (Truyện cổ Ê Đê), Sở Văn hóa Đắc Lắc, Tài liệu đánh máy.
2. Nguyễn Văn Bổn (2001), Văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam.
3. Nguyễn Thị Huế (2009), “Thần thoại các dân tộc thiểu số Việt Nam (song ngữ)”, Tập 3, trong bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, 23 tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Huế (2012), Từ điển type truyện dân gian Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội.
5. Ngô Sao Kim (1996), Truyện cổ dân gian Phú Yên, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
6. Nguyễn Xuân Kính chủ biên (2009), “Ngụ ngôn các dân tộc thiểu số Việt Nam (song ngữ)”, Tập 20, trong bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (song ngữ), 23 tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
7. Sử Văn Ngọc, Sử Thị Gia Trang (2009), Truyện ngụ ngôn Chăm, Tài liệu đánh máy.
8. Lê Phong, Thần thoại Mạ - Cơ Ho, Tài liệu đánh máy.
9. Ngô Đức Thịnh chủ biên (1992), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
10. Tạ Văn Thông, Võ Quang Nhơn (1984), Truyện cổ dân tộc Cơ Ho, Nxb. Văn hóa, Hà Nội.
11. Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (2002), Tổng tập văn học dân tộc thiểu số Việt Nam, 4 tập, Nxb. Đà Nẵng.
12. Viện Nghiên cứu văn hóa (2009), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (song ngữ), 23 tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
[1] Dẫn theo Ngô Đức Thịnh chủ biên (1992), Văn hóa vùng và vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, tr.217.
[2] Ngô Đức Thịnh chủ biên (1992), Sđd, tr.220.
[3] Ngô Đức Thịnh chủ biên (1992), Sđd, tr.223.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét