Tôi được Ban Thường vụ Huyện ủy Bình Sơn đặt hàng viết bài với chủ đề “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình” trong cuộc Hội thảo khoa học “Xây dựng huyện Bình Sơn nghĩa tình, văn minh, trở thành trung tâm kinh tế động lực của tỉnh Quảng Ngãi” do huyện tổ chức.
Đây là một chủ đề rộng, chưa được nghiên cứu và chắc sẽ còn nhiều ý kiến khác nhau. Do đó, bài viết này chỉ nêu những cảm nghĩ bước đầu, rất khái quát về các nội dung: giá trị văn hóa Việt Nam là gì? Nội dung giá trị văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị gì? Giải pháp nào để vận dụng và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam nhằm khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình như chủ đề cuộc Hội thảo đề ra…
Đối với khái niệm giá trị văn hóa, tuy hiện nay giới nghiên cứu văn hóa vẫn có nhiều quan niệm khác nhau nhưng đều có những điểm chung nhất là: Giá trị văn hóa chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất qua các thời đại lịch sử khác nhau của dân tộc để làm nên bản sắc riêng. Nó được truyền lại cho các thế hệ sau và cùng với thời gian, cùng với sự tiến triển của lịch sử sẽ được bổ sung bằng các giá trị mới.
Giá trị văn hóa, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, nghệ thuật, luật pháp, tập quán, sinh hoạt, kiến trúc nhà ở, làng xóm; các luật tục quy định các nếp sống của cộng đồng, dân ca, dân vũ, hoạt động kinh tế… Đây là những nội dung đáng được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ chủ đề Hội thảo hôm nay, nội hàm giá trị văn hóa chủ yếu tập trung vào các giá trị phổ quát nhằm mục tiêu “khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình”. Do đó, các giá trị văn hóa trong chủ đề này tập trung vào khía cạnh giá trị văn hóa con người.
Giá trị văn hóa con người, theo GS. Trần Văn Giàu, trong cuốn Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980 có 7 giá trị mang tính phổ quát nhất, đó là: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII nêu những đức tính nổi bật và cũng là các giá trị của con người Việt Nam, đó là: lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI cũng nhấn mạnh, trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc, ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng coi một trong những “nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng, giữ gìn, chấn hưng và phát triển nền văn hóa dân tộc” là: xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi khóa XIX, nhiệm kỳ 2015-2020, chủ trương xây dựng con người Quảng Ngãi giàu lòng yêu nước, tự hào dân tộc, có ý thức tuân thủ pháp luật, có tinh thần làm chủ, khảng khái, khoan dung, thân thiện; có tri thức, sức khỏe, năng động, sáng tạo, có kỹ năng và hợp tác cao trong lao động.
Điểm lại một số nét chính về nội dung giá trị văn hóa nêu trên nhằm khẳng định văn hóa con người Việt Nam là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất trong tất cả các nguồn lực để phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng. Văn hóa con người Việt Nam từ trước đến nay đã được nhận diện và khái quát thành hệ giá trị con người Việt Nam với những đặc tính ưu việt là: yêu nước, cần cù sáng tạo trong lao động, đoàn kết trong đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, khéo léo, dễ thích ứng trong lao động và hội nhập... Con người là chủ thể sáng tạo, là trung tâm, là yếu tố quyết định các giá trị do chính con người tạo lập các giá trị đó. Vì vậy, xây dựng văn hóa con người Việt Nam là yếu tố then chốt, sống còn, lâu bền trong chiến lược xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Tuy nhiên, cùng với các giá trị tốt đẹp nêu trên, ẩn chứa trong mỗi con người Việt Nam đều có những mặt chưa tốt, cần phải khắc phục. Dưới đây là tổng hợp một số quan điểm tiêu biểu của các nhà nghiên cứu về mặt tốt và chưa tốt của con người Việt Nam.
Học giả Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam Văn hoá sử cương đưa ra những nhận xét mang tính khái quát như sau: “Về tinh thần thì người Việt Nam đại khái thông minh, nhưng xưa nay thấy ít có người có trí tuệ lỗi lạc phi thường. Sức kí ức thì phát đạt lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lí. Phần nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phụ họa hơn thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động. Não tưởng tượng thường bị não thực tiễn hòa hoãn bớt, cho nên dân tộc Việt Nam ít người mộng tưởng, mà phán đoán thường có vẻ thiết thực lắm. Cảm giác hơi chậm chạp, song giỏi chịu đau đớn, cực khổ hay nhẫn nhục. Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh. Thường thì nhút nhát và chuộng hoà bình, song ngộ sự thì cũng biết hi sinh vì đại nghĩa. Não sáng tác thì ít nhưng mà bắt chước, thích ứng và dung hoá thì rất tài. Người Việt Nam lại rất trọng lễ giáo, song cũng có não tinh vặt, hay bài bác, chế nhạo. Đó là lược kể những tính chất tinh thần phổ thông nhất của người Việt Nam, cũng có tính nguyên lai từ thời thượng cổ mà có thay đổi chút ít, cũng có tính do lịch sử và trạng thái xã hội hun đúc dần thành, cho nên ta đừng xem những tính chất ấy là bất di bất dịch”[1].
Có thể tóm lược lại nhân xét của học giả Đào Duy Anh như đã nêu ở trên, về mặt tích cực của con người Việt Nam là thông minh, sức kí ức phát đạt, giàu trí nghệ thuật, giàu trực giác, ham học, thích văn chương, phù hoa, phán đoán, thiết thực, giỏi chịu đau đớn, cực khổ, chuộng hoà bình, biết hi sinh về đại nghĩa, giỏi bắt chước, thích ứng và dung hoà, trọng lễ giáo. Và mặt tiêu cực là ít mộng tưởng, chậm chạp, hay nhẫn nhục, tính khí nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang, ưa hư danh, thích cờ bạc, hay bài bác, chế nhạo. Tất nhiên sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi mặt tích cực cũng chứa đựng ở trong nó những yếu tố tiêu cực và ngược lại.
Học giả Nguyễn Văn Huyên trong tác phẩm Văn minh Việt Nam đã nhấn mạnh những đức tính quý báu của con người Việt Nam như cần cù, nhẫn nại, khả năng chịu đựng cao, đầu óc thực tế, nếp nghĩ thiên về tình cảm, có chất nghệ sĩ, dũng cảm, sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp lớn, tế nhị, hài hước, thông minh, linh hoạt, hiền lành, phục thiện. Đồng thời, ông cũng nêu ra một số mặt tiêu cực cần phải thay đổi của con người Việt Nam như tính tự ái, bệnh sĩ diện, lối học nhồi nhét kiến thức, thui chột khả năng tư duy sáng tạo, đa số các trí thức nghĩ rằng nghề làm quan là con đường vạch sẵn, không đòi hỏi nhiều cố gắng mà lại đem đến nhiều vinh hiển nhất.
Viện Nghiên cứu xã hội Mỹ nghiên cứu và đưa ra những nhận xét mang tính gợi mở về tính cách con người Việt Nam, như: “người Việt Nam cần cù lao động, song dễ thoả mãn nên tâm lí hưởng thụ còn nặng; thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động; khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít khi quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm); vừa thực tế, vừa mơ mộng, nhưng không có ý thức nâng lên thành lí luận; ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, nhưng ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không còn là mục tiêu tự thân của nhiều người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn học vì sĩ diện, để kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí đam mê); xởi lởi chiều khách song không bền; tiết kiệm, nhưng cũng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời,…); có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn. Trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này ít khi xuất hiện; yêu hoà bình, nhẫn nhịn, nhưng nhiều khi hiếu chiến, hiếu thắng vì những lí do tự ti lặt vặt, đánh mất đại cục; thích tụ tập nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo thành sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng)”[2].
Cũng nhân hội thảo này, cũng nên nhắc lại bộ quốc sử triều Nguyễn nhận xét về văn hóa con người Quảng Ngãi: Đất bạc, dân chăm, tính tằn tiện, không xa hoa, người quân tử thích việc nghĩa, giữ khí tiết; người tiểu nhân thì hám lợi, hay sinh kiện tụng. Địa thế tuy hẹp mà khí mạch tốt, nên đời nào cũng có người làm đến quan to, chức trọng, bước đường thanh thản, trọn được danh vọng. Ở thôn quê thì nhiều người sống lâu; học trò tư chất thông minh, nhiều kiến thức; duy người giàu thì thường bị của cải dời lòng, người nghèo thì thường khổ vì sinh nhai không đủ, học nghiệp thì phần nhiều không chuyên, nhưng nếu biết có chí thì cũng nhiều người thành tựu. Các dân tộc thiểu số từ xưa đã có phong tục gác chòi để chứa thóc gạo. Để của ở ven khe, không lấy trộm của nhau. Dẫu nghèo cực vẫn không ăn xin. Ngoài việc săn bắn, không cờ bạc, chơi bời, tính thuần phác. Trai gái không hoà gian[3].
Như vậy, từ các nhận xét nêu trên, có thể khẳng định văn hóa con người Việt Nam nói chung, Bình Sơn hay Quảng Ngãi nói riêng đều ẩn chứa cả cái tốt và cái xấu, giá trị và phản giá trị trong mối quan hệ hết sức biện chứng được thể hiện rất rõ trên các phương diện khác nhau của cuộc sống. Do đó, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam nhằm khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình, trở thành trung tâm kinh tế động lực của tỉnh Quảng Ngãi thì điều quan trọng nhất nhân lên các giá trị hướng con người Bình Sơn vươn tới chân, thiện, mỹ (huyện mới chỉ tạm gọi và chưa đầy đủ là văn minh, nghĩa tình), đồng thời khắc phục, hạn chế dần các mặt tiêu cực (tức là các phản giá trị).
Để đạt được điều đó, bên cạnh quán triệt, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách phát triển văn hóa, con người do Đại hội XIII của Đảng đề ra là: “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục những hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn bó chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”[4], thì vấn đề quan trọng nhất là vận dụng các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa, con người vào thực tiễn Bình Sơn như thế nào cho phù hợp, hiệu quả.
Xin nêu một số suy nghĩ bước đầu. Xét dưới góc độ giao thoa văn hóa, Bình Sơn bây giờ không còn là Bình Sơn của hôm qua. Bởi vì, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bình Sơn đang là nơi hội tụ mạnh mẽ, nhanh chóng dòng người trong và ngoài nước về đây lập nghiệp. Họ mang đến Bình Sơn các giá trị văn hóa tộc người, văn hóa các địa phương, các vùng miền trong cả nước và nhiều nước trên thế giới. Điều đó ngày càng làm phong phú thêm văn hóa con người vùng đất này. Đồng thời, với sự phát triển vượt bậc của toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, sức mạnh mềm văn hóa từ các quốc gia trên thế giới du nhập vào nước ta nói chung, Bình Sơn nói riêng ngày càng mạnh mẽ, từ các sản phẩm công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, đến các loại hình nghệ thuật (sách báo, phim ảnh, phát thanh, truyền hình), thời trang, ẩm thực… Điều đó đã tạo ra nhiều cơ hội, bên cạnh những thách thức lớn đối với Bình Sơn trong quá trình phát triển. Biết chọn lọc, phát huy giá trị văn hóa con người Bình Sơn và các địa phương, vùng miền trong cả nước và thế giới đang ngày đêm học tập, lao động ở Bình Sơn, chắc chắn nó sẽ trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tinh thần mạnh mẽ đưa Bình Sơn phát triển hơn các vùng khác trong tỉnh. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình giao thoa văn hóa và bối cảnh thế giới mới cũng mang đến cho Bình Sơn nhiều hệ lụy, tiêu cực như chúng ta đã chứng kiến. Nên chăng, sau cuộc hội thảo này, Ban Thường vụ Huyện ủy cần nghiên cứu, chắt lọc các ý kiến của các đại biểu, học hỏi thêm những cách làm hay của các địa phương bạn để xây dựng “bộ tiêu chí huyện hạnh phúc” [5] và đề ra các giải pháp thực hiện bộ tiêu chí này một cách thiết thực, hiệu quả nhằm đưa Bình Sơn không chỉ là trung tâm kinh tế kinh tế động lực của tỉnh Quảng Ngãi mà còn là huyện phát triển hài hòa, văn minh, nghĩa tình như chủ đề của Hội thảo đã nêu./.
[1] Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá sử cương, Nxb. TP Hồ Chí Minh, 1992, tr. 24.
[2] Nhiều tác giả, Người Việt – Phẩm chất và thói hư tật xấu, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2009, tr. 112-113.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1970, tr.356-357.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.143.
[5] Hiện nay, một số tỉnh như Yên Bái, Bà Rịa-Vũng Tàu đã xây dựng bộ tiêu chí tỉnh hạnh phúc. Thành phố Hồ Chí Minh, Yên Bái, Hà Tĩnh… xây dựng bộ tiêu chí trường học hạnh phúc. Yên Bái xây dựng bộ tiêu chí thôn tổ dân phố hạnh phúc.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét