Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2024

LÊN RỪNG VÀ XUỐNG BIỂN TRONG LỊCH SỬ NGƯỜI QUẢNG NGÃI (Nhà nghiên cứu Nguyên Tú)

Công cuộc mở đất ở Quảng Ngãi phải trải qua ít nhất 7 thập kỷ qua phân (1402- 1471) giữa người Việt và người Chăm; cùng lúc và một thời gian dài sau đó là quá trình đan xen giữa những giằng xé, biến đổi, dung hợp về văn hóa và có thể cả huyết tộc. Cũng bắt đầu từ đây, người Quảng Ngãi phải xoay xở, đương đầu trong một không gian sinh tồn đầy áp lực, mà trên nền cảnh đó, theo thời gian, họ xây dựng lịch sử, hình thành những nét đặc thù về văn hóa và tính cách.

Định cư vững chắc trên vùng đất mới (1); tiến vào phương Nam theo cuộc hành trình chung của cả dân tộc (2); khai phá và thiết lập bộ máy cai quản ở vùng núi rừng phía Tây (3) và ra biển (4), đó chính là 4 nhiệm vụ sống còn mà lịch sử đặt lên vai người Quảng Ngãi.

Về quá trình định cư, ổn định đời sống và phát triển sản xuất cũng như công cuộc Nam tiến, lịch sử đã chứng minh hùng hồn, người Quảng Ngãi nói riêng, người vùng Ngũ Quảng, vùng Nam Trung bộ nói chung, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, đóng góp đáng kể vào sự nghiệp mở mang đất nước và xây dựng quốc gia Việt Nam thống nhất.

Lên rừng, đó là bảo vệ sự ổn định từ mạn Tây, tìm kiếm, khai thác, thu mua nguồn tài nguyên quý giá của rừng (gỗ quý, trầm hương, tốc hương, quế, mật ong, cánh kiến, song mây...), có giá trị xuất khẩu cao, thu hút thương nhân nước ngoài từ Trung Quốc, Mã lai đến Ấn Độ, Tích Lan, xa hơn là vùng Địa Trung hải, châu Âu... 

Nhưng lên rừng cũng là đối mặt với rừng thiêng nước độc, núi cao thung sâu, và đặc biệt là các tộc người thượng miền Tây mà con đường dẫn đến sự dung hòa, chung sống còn lắm gập ghềnh. Thực tế cho thấy, trừ trường hợp những người khai thác trầm (một nghề khá đặc biệt), người Việt ở Quảng Ngãi nói riêng, vùng Nam Trung bộ nói chung hầu như không trực tiếp tìm kiếm, khai thác các loại lâm đặc sản từ rừng, mà chỉ sở hữu chúng thông qua hoạt động buôn bán, đổi chác của các “nậu nguồn” tại những vùng giáp ranh giữa người Kinh và người Thượng.

Cho đến năm 1899 (Thành Thái thứ 11), khi các huyện Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Đức Phổ được thành lập, vùng quản lý trực tiếp (hình thành các thiết chế cai quản theo mô hình cả nước, cắt đặt ranh giới làng xã, xác lập địa bạ, đinh bạ, thu thuế trực tiếp, tổ chức trị an...) của các chính quyền cấp phủ, huyện ở Quảng Ngãi chỉ mới nới rộng về phía Tây chưa đến 20km so với thời điểm hình thành Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam năm 1471.
Còn đường còn lại là biển cả ở phía Đông- con đường tìm kiếm cái ăn, của quý từ biển (đồi mồi, xà cừ, hải sâm...), cũng chính là con đường vào Nam, ra Bắc đồng thời vươn ra các hải đảo và vùng biển phía xa, thông thương với năm châu bốn bề. Con đường ra bể nối đất liền, ven biển với cù lao Ré (huyện đảo Lý Sơn ngày nay), xa hơn là Hoàng Sa, Trường Sa. 

Câu thành ngữ “mặn rừng, nhạt biển” khá phổ biến ở vùng ven biển Bắc Trung bộ và cũng được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến khi tìm hiểu về quan hệ của người Việt với biển, đã không còn đúng nữa với người Nam Trung bộ, người Quảng Ngãi. Biển với người Quảng Ngãi đã “mặn” đi nhiều khi những “nậu rớ” đánh cá cửa sông dịch dần ra biển, những chiếc thuyền câu ra khơi câu mực dài ngày thay những chiếc thuyền nan nhỏ câu cá trong ghềnh, trong lộng. Đặc biệt, với nghề đánh cá chuồn ngoài khơi và nghề buôn ghe bầu vào Nam ra Bắc, người ta đã có thể sống và làm việc dài ngày trên biển, bằng phương tiện di chuyển (thuyền, bè mảng...) cải tiến đáng kể về kỹ thuật chế tác, bằng kinh nghiệm và kỹ năng đi biển.

Việc hình thành các đội Hoàng Sa dưới thời các chúa Nguyễn và sau đó là các vua Nguyễn mà lực lượng chủ yếu là ngư dân Quảng Ngãi và cuộc vượt biển, ra lập làng, vạn định cư lâu dài trên cù lao Ré (nay là huyện đảo Lý Sơn) của 15 dòng họ trong đất liền, gồm cả những người làm nông và người đánh cá vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII là những sự kiện lịch sử quan trọng trong hành trình khám phá, mở mang về phía biển của người Việt.mà trong đó người Quảng Ngãi ghi đậm dấu ấn của mình.

Tầm nhìn sâu hơn về phía biển và sự mạnh mẽ hơn khi đi về phía khơi xa của người Quảng Ngãi có một phần học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm của cư dân Chăm mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra từ việc tìm hiểu cách thức chế tác, cấu tạo và vận hành của ghe bầu, tục thờ cúng cá Ông... Thế nhưng, trên tất cả, quan trọng hơn tất cả là sự đòi hỏi bức thiết phải vượt lên trong một không gian sinh tồn đầy áp lực để tìm con đường sống, dù đó là con đường đầy rẫy gập ghềnh, bão tố, lắm khi phải gởi thân vào biển cả.

Câu ca dao của người dân đảo Lý Sơn kể về nỗi gian nan của hành trình ra biển, đến nay đọc lại vẫn thấy bồi hồi:
Hoàng Sa trời bề mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng sa mây nước bốn bề
Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa.
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...